Thứ Bảy, 15 tháng 6, 2019

Nhà thơ Huy Cận với quê hương, dòng tộc

Nhiều người thường nhớ, thường nhắc về một chàng Huy Cận khi xưa hay sầu lắm bởi tuyệt bút của Hoài Thanh - nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ. Ta ngẩn ngơ buồn trở về hồn ta cùng Huy Cận... Nhưng có lẽ ít người biết về một Danh nhân văn hóa Cù Huy Cận với mối quan hệ bền chặt, đầy nghĩa tình thủy chung cùng quê hương, dòng tộc, từ lúc sinh ra cho đến phút cuối đời...
Nhà thơ Huy Cận (thứ 2 từ phải sang) với các nhà thơ trẻ Sài Gòn: 
Trần Hữu Dũng, Phan Hoàng, Nguyễn Thái Dương ở Hà Nội năm 1994

1.
Huy Cận sinh ngày 31-5-1919 (cũng có tài liệu nói ông sinh ngày 22-1-1917) tại xã Ân Phú, thời đó thuộc huyện Hương Sơn, sau chuyển về Đức Thọ và nay là huyện Vụ Quang, Hà Tĩnh.

Ân Phú tuy chật hẹp (diện tích khoảng 9 km2, dân số hơn 2.000 người) nhưng sơn thủy hữu tình, giáp ranh giữa ba huyện Vũ Quang, Hương Sơn và Đức Thọ. Tên Ân Phú hiện cũng có nhiều cách giải thích khác nhau, nhưng nghĩa chung là giàu có, thịnh vượng - xuất hiện từ đầu thời Tự Đức (1847). Đây không chỉ là vùng đất hiếu học, giàu truyền thống văn hóa mà còn nổi tiếng yêu nước, cách mạng với nhiều người tham gia các phong trào Cần vương, yêu nước, có 59 liệt sĩ qua các cuộc kháng chiến. Hiện nay, Ân Phú đang là một điểm sáng về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; đã đạt chuẩn nông thôn mới từ khá sớm...

Cùng với họ Trần và họ Nguyễn, họ Cù là một trong ba dòng tộc đầu tiên có công khai ấp lập làng. Trong số 32 vị tiên hiền, hậu hiền được nhân dân thờ tự cho đến nay, có đến bảy vị họ Cù. Theo hồ sơ khoa học di tích lịch sử văn hóa Đền Vại, thì ngoài dòng tộc Cù Hoàng từ Quỳnh Lưu chuyển cư vào, họ Cù Huy tôn Binh bộ Thượng thư Cù Ngọc Xán là tiên Thủy tổ. Tuấn vũ hầu Cù Ngọc Xán được nhà Lê ban quốc tính, sau được phong tước Vương, thờ tại Đền Vại với mỹ danh Tượng Sơn Cao Liệt tôn thần. Ông là phu quân của bà Ngô Thị Ngọc Điệp, sinh khoảng đầu thế kỷ XV, con gái thứ 14 của Dụ Vương Ngô Từ, hậu duệ thứ 13 của Ngô Quyền; bà cũng là chị của Ngô Thị Ngọc Dao, mẹ vua Lê Thánh Tông. Bà Ngọc Điệp là Quận Quân Á tước, được phong thần là Lê Triều Hoàng hậu, mất ngày 13 tháng 2 âm lịch tại Trại Đầu - Ân Phú và trở thành người mẹ tinh thần của vùng đất này trong suốt 600 năm qua; riêng Triều Nguyễn đã có bảy sắc phong.

Như vậy là sự hợp duyên giữa hai dòng tộc Cù - Ngô của vị Thủy tổ đã mang lại cho làng xã, dòng họ một sức sống bền bỉ, một truyền thống văn hóa, yêu nước xuyên suốt năm thế kỷ. Và đến thế kỷ 20, không biết có lời “mách bảo” nào từ nguồn cội không mà hai thi sĩ chủ tướng của phong trào Thơ Mới, Cù Huy Cận - Ngô Xuân Diệu đã kết thân ngay từ buổi gặp gỡ đầu tiên trên đất Huế, tạo thành một Tình Bạn lớn hết sức đặc biệt trong lịch sử văn học Việt Nam.

Hỡi ai đó, có nhớ chàng Huy Cận
Gọi gió trăng mà thỏ thẻ với lời trên
Rất thương yêu, xin nhớ gọi giùm tên
Rất an ủi của bạn chàng: Xuân Diệu

(Thơ Huy Cận - Mai sau)

Chi nhánh họ Cù Huy có thủy tổ là Cù Thạch Khối đến Huy Cận là tám đời. Khoảng năm 1942, họ Cù Huy lại tách thành hai cánh. Huy Cận là con trai đầu của cụ Cù Trương, từng thi Hương trúng Tam trường, sau theo học Quốc ngữ, chữ Tây, hết cấp Tiểu học được bổ làm Hương sư ở Thanh Hóa một thời gian, sau về quê dạy học, cày ruộng. Mẹ là bà Bùi Thị Chi sinh trưởng trong một gia đình có nhiều người đỗ đạt ở làng dệt lụa Hạ nổi tiếng vùng Tùng Ảnh.

Đường về Ân Phú quê cha
Sông La uốn khúc Mồng Ga núi gần,
Đường về quê mẹ quen chân
Tam Soa bến cũ mấy lần đò xuôi

...Một đời mòn gót nghìn đường
Bước về đầu xóm rưng rưng lệ nhòa...

2.
Đọc “Hồi ký song đôi” (Nxb Hội Nhà văn, H. 2011), ta sẽ nhận thấy quê hương Ân Phú nói riêng và Hà Tĩnh, xứ Nghệ nói chung thật sự là mạch nguồn của rất nhiều tác phẩm văn học của Huy Cận. Xuân Diệu từng nhận xét - quê hương đã cung cấp cho Huy Cận một cái vốn đất đai gì sâu thẳm lắm như từ ruột của thời gian. Và chính Huy Cận trong bài thơ “Tôi nằm nghe đất” đã chia sẻ:

Tôi sinh ra ở miền sơn cước
Có núi làm xương cốt tháng ngày
Đất bãi tơi làm da thịt mát
Gió sông như những mảng hồn bay...

Quê hương hiện ra trong thơ Huy Cận thật cụ thể, yên bình:

Tuổi nhỏ tôi trùm trong nhớ thương
Cách sông chợ Nướt, bến đò sương
Làng quê sơn cước chiều về sớm
Bóng núi dài lan mát ruộng nương...

Mãi sau này, trong bài thơ “Yêu đời” ông cũng nhắc lại: Quê anh cà nhút mặn mòi/ Sinh anh muối mặn yêu đời, đó em! Khung cảnh làng quê cũng chính là thi hứng trực tiếp của những tuyệt thi như “Tràng Giang”, “Ngậm ngùi” và nhiều sáng tác sau 1945.

Đặc biệt, trong sự nghiệp sáng tác của mình, ông đã để lại hai thi phẩm nổi tiếng như để tri ân quê hương - “Gửi người xứ Nghệ” đã được phổ nhạc và thành bài ca “đi cùng năm tháng” (Ai vô xứ Nghệ), và “Ngã ba Đồng Lộc” - như dựng thêm một tượng đài vĩnh cửu bằng thi ca:

Trong đời mỗi dân tộc cũng có những ngã ba/ Những ngã ba vận mệnh/ Những cái nút trên dặm dài lịch sử/ Gặp những ngã ba đời con sẽ nghĩ suy/ Và con ơi, muốn tìm đúng hướng đi/ Con sẽ nhớ đến ngã ba Đồng Lộc/...Là ngã ba nhưng nào có phân vân/ Nào có đắn đo do dự!/... Nhưng hướng đi đã quyết/ Không phải cho một lần/ Mà cho tất cả mọi lần/ Không phải cho một người/ Mà cho tất cả quê hương, đất nước...

Với những thành công lớn trong sự nghiệp chính trị và đặc biệt là sự nghiệp văn hóa, văn học, người đầu tiên của Việt Nam được bầu làm Viện sĩ Viện Hàn lâm Thơ thế giới (2001), hoặc như nhận xét của Vũ Đình Minh - nhà thơ hoạt động chính trị, nhà văn hóa lừng danh vượt qua cả biên giới quốc gia để hòa nhập vào dòng văn hóa của thế giới - Huy Cận đã thật sự mang lại niềm vinh dự, tự hào cho dòng tộc và quê hương Hà Tĩnh.

3.
Sinh thời, Huy Cận dành rất nhiều tâm huyết, tình cảm cho quê hương. Ngày thơ Việt Nam lần đầu tiên (2003) được Hội Nhà văn tổ chức tại Khu di tích Đại thi hào Nguyễn Du (Nghi Xuân, Hà Tĩnh), nhà thơ Huy Cận đã về dự, đánh trống khai hội và phát biểu, đọc thơ rất say sưa. Ông cũng tranh thủ mọi cơ hội để về thăm, động viên, giúp đỡ quê hương, dòng tộc.

Mặc dù rất bận rộn với nhiều hoạt động khác nhau nhưng ông vẫn không quên trách nhiệm của một Tộc trưởng dòng họ. Ông đã trực tiếp lập gia phả, viết lời mở đầu rất thống thiết: “Chim có tổ, người có tông. Chúng ta là các lớp hậu duệ của tổ tiên xem, thuộc tộc phả để ghi lòng tạc dạ tinh thần thương yêu đùm bọc lấy nhau của cha ông, cố kết với nhau vì tình nhà nghĩa nước. Tộc phả cũng là lịch sử của họ ta, một họ tuy không đông người nhưng đã có đóng góp xứng đáng vào công việc của quê hương, làng nước. Có thuộc quá khứ mới mở mang được tương lai. Xin bà con trong họ giữ gìn và phát huy ý nghĩa, tác dụng giáo dục của bản tộc phả thiêng liêng này”.

Năm 2002, ông viết “Di chúc về vấn đề lưu niệm”, trong đó khẳng định việc được thờ tự tại quê nhà: “Vợ con tôi sẽ thờ tôi tại nhà và đất ở của tôi ở 24 Điện Biên Phủ, Hà Nội và thờ tôi tại nhà thờ họ Cù Huy cánh tiểu tôn ở xã Ân Phú, tỉnh Hà Tĩnh”.

Sau khi ông mất (19-2-2005), nhà thờ họ Cù Huy đã được tôn tạo lại và đang làm hồ sơ xếp hạng di tích lịch sử văn hóa ngay trong dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh Danh nhân văn hóa - Nhà thơ Huy Cận (1919 - 2019). Khép lại một đời bôn ba khắp bốn phương trời, cống hiến hết mình cho đất nước, từng giữ nhiều chức vụ trọng yếu như bộ trưởng, thứ trưởng và đại diện cho quốc gia tại nhiều tổ chức, diễn đàn văn hóa, chính trị quốc tế, để lại cho hậu thế gần 50 đầu sách, trong đó có nhiều tác phẩm viết bằng tiếng Pháp hoặc được xuất bản ở nước ngoài, được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt đầu tiên (1996), Huân chương Sao Vàng cao quý..., nay ông đã được về với tổ tiên, dòng tộc, được bà con làng xã tri ân, thờ phụng như một nhân thần của quê hương, đất nước.

TS. VÕ HỒNG HẢI
(BÁO NHÂN DÂN)



Thứ Tư, 12 tháng 6, 2019

Nhà thơ Huy Cận làm việc trong bệnh viện

Đi công tác về, được cơ quan báo là nhà thơ Huy Cận ốm, tôi liền cùng anh em vào bệnh viện Hữu Nghị thăm. Nghe tiếng chúng tôi ở hành lang, nhà thơ nói vọng ra: - Mình ở đây, Huy Cận ở đây!
Hai nhà thơ Huy Cận - Xuân Diệu

Một lần trước giờ họp, tôi được hầu chuyện nhà thơ Huy Cận và các giáo sư Đoàn Trọng Truyến, Nguyễn Văn Chiển, Hà Học Trạc, Hoàng Minh Thảo… Họ đứng lên ngồi xuống thoải mái. Thấy các ông nhắc nhau việc nọ việc kia thật từ tốn mà ý tứ đâu ra đấy cả, được một lát, không khí có vẻ nghiêm nghiêm như sắp vào đoạn kiểm điểm, tôi thưa với nhà thơ: "Các lão gia ghê quá!". Giáo sư Đoàn Trọng Truyến bảo: "Lão gia à? Cổ kính như Tàu như kinh đô Huế hề, nhưng tôi và ông Huy Cận đây là người của lịch sử từ 1945, 1946… Chúng tôi là đại lão gia đó nghe!". Mọi người cười vui.

Đi công tác về, được cơ quan báo là nhà thơ Huy Cận ốm, tôi liền cùng anh em vào bệnh viện Hữu Nghị thăm. Nghe tiếng chúng tôi ở hành lang, nhà thơ nói vọng ra:

- Mình ở đây, Huy Cận ở đây!

Tiếng ông trầm vang, dõng dạc, mà hơi rè. Tôi chợt nghĩ: Chắc lão gia đang làm ra vẻ khỏe mạnh đây. Quả nhiên, khi bốn năm anh chị em cơ quan Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa Việt Nam người ngồi, người đứng chưa yên vị, ông cũng vừa kịp cài nốt, cài lại cái cúc áo ngực, người nhà đến chăm ông chưa kịp lấy nước hay làm gì để ông tiếp khách, thì ông hỏi ngay:

- Các cậu đến đây có mất công lắm không? Phải hỏi đến mấy người? Này, mà đến đây thì đừng ồn ào quá nha…

Một chị trong đoàn đến thăm nhẹ nhàng:

- Dạ thưa bác, chúng cháu cũng không vất vả gì đâu ạ, mà cũng không làm ồn gì đâu ạ.

- Ờ, thế thì được.


Nhà thơ Huy Cận và nhà thơ Ngô Thế Oanh (bên trái). Ảnh: Nguyễn Đình Toán
Tưởng nhà thơ sẽ im lặng chờ, tôi chuẩn bị nói lời thăm hỏi, ông đã tiếp luôn:

- Cái Hội đồng Từ điển Bách khoa làm được nhiều việc, nhiều việc rất lớn, đáng được Nhà nước, Chính phủ, Trung ương Đảng khen thưởng tập thể Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học, nhưng chúng ta làm ồn quá, mất trật tự quá…

Ông nói liền một hơi, mặt đỏ dần lên, tay trái vẫn để yên trên đầu gối bên trái, còn tay phải giơ lên hạ xuống mấy lần rồi đặt yên trên đầu gối bên phải, cả tay và gối đều rung rung giật giật. Tôi hơi hoảng, vội đứng dậy, đi vòng ra sau lưng ông. Tôi úp ướm nhẹ cả hai bàn tay lên bờ vai vậm vạp của nhà thơ, chốc lát, tay tôi rập rờn theo nhịp thở của ông. Thốt nhiên, tôi như thấy lại cái cảm giác vừa ngỡ ngàng, vừa thương cảm, lại vừa lo lắng một điều gì như cái lần tôi và nhà văn Hồ Khải Đại đến thăm nhà thơ Xuân Diệu dạo trước. Hôm đó anh Đại đã cầm cái khăn bông to lau mồ hôi cho Xuân Diệu, còn tôi thì cầm tờ báo Nhân Dân gấp gấp lại làm quạt phe phẩy gió, nhà thơ Xuân Diệu dịu dàng: "Em lấy cái quạt kia kìa, báo để cho phẳng phiu rồi còn đọc, còn cắt ra mà lưu giữ, mà gói đồ ăn…".

Huy Cận là nhà thơ, nhà văn hóa lừng danh, ông là Phó Chủ tịch kiêm nhiệm tại Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam. Trong những năm Hội đồng này có chuyện mất đoàn kết, tiếng nói của ông đã góp phần làm ổn định tình hình. Thời gian tôi mới về làm giám đốc Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa Việt Nam, trực tiếp tổ chức, điều hành việc làm bộ sách Từ điển Bách khoa Việt Nam và các sách từ điển khác ở đây, ông đã chỉ bảo cho tôi rất nhiều…

Quả thật, nhờ có sự hậu thuẫn và chỉ đạo kiên quyết của ông và các GS như Hà Học Trạc, Đoàn Trọng Truyến, Hoàn Minh Thảo, Nguyễn Văn Trương… mà các tập 1 và 2, tập 3 của bộ "Từ điển bách khoa Việt Nam" đã được biên soạn xong rồi được xuất bản vào các năm 2002, 2003 sau gần 10 năm bị ngưng trệ. Cơ quan đã đoàn kết lại, sự hào hứng của các nhà khoa học và biên tập viên được nâng lên…Mới hồi tưởng một tí thế, rồi nhìn ông ngồi, nghe ông nói, một nỗi thổn thức dâng lên ngực, tôi cố trấn tĩnh nhìn ra xung quanh, kịp thấy cặp mắt của chị bạn lúc nãy như có nước, tôi vội báo cáo cho ông yên tâm:

- Dạ, em mới đi công tác về, được anh em cho biết là việc phát hành "Từ điển Bách khoa Việt Nam" tập 3 do Văn phòng Hội đồng lo đã ổn dần theo kế hoạch, còn tập 4 thì mọi người cũng đang tìm gom về một đợt nữa, chắc cuối tháng này sẽ tạm đủ bản thảo thô đời mới, anh em đang biên tập và trình duyệt dần từng vòng.

Nhà thơ ngồi yên trên ghế, kéo cái khăn bông to xụ quàng thêm một vòng qua cổ, nói theo kiểu lão gia ban bảo nghiêm nghiêm mà vẫn thân gần:

- Được rồi, được rồi… ông đi vắng mấy tuần mà công việc cơ quan vẫn chạy theo kế hoạch, thế là ông biết tổ chức sắp xếp quản lý như người ta nói với tôi rồi. Tôi nằm đây mà tôi vẫn biết hết, để hôm nào tôi nói thêm cho ông rõ nữa, ông chưa hiểu lịch sử của Hội đồng chỉ đạo Từ điển Bách khoa này đâu ông nhà văn giám đốc ạ!

Chúng tôi im lặng, vừa muốn can ngăn ông hãy nghỉ cho khỏe đã, lại vừa muốn ông phân tích dặn dò. Một người trong đoàn, nhớ ra việc vào đây là để thăm nhà thơ bị ốm, kêu lên:

- Chúng cháu vụng quá, có hoa đây, để cháu thay cho bác nhé!

Rồi mấy chị em anh em người đi xúc lọ, lấy nước, người cắm hoa mới, người bày các thứ quả lên bàn. Ríu rít mấy phút, căn phòng như sáng đẹp hơn. Gương mặt nhà thơ tươi trẻ lại lạ kỳ, ông nhìn hoa, nhìn sang mọi người, nhìn đăm đăm vào tôi, giọng dịu lại:

- Đẹp quá, đẹp rồi đấy, có thích nghe thơ không?

Chúng tôi như cùng reo lên: "Có ạ". Tôi gợi:

- Bài gì vui vui thơ tình ấy ạ.

- Thơ tình mà vui được à? Ông làm lý luận phê bình chắc có biết người ta bảo vẻ đẹp trong thơ Huy Cận là nỗi buồn nhân gian cảm quan vũ trụ chứ?

Hỏi xong, nhà thơ ngồi ngay ngắn lại, hai tay ông nâng lên chén nước nóng, chiêu một ngụm, ông chẹp chẹp miệng. Nhìn tất cả mỗi người, ông nhấp thêm một ngụm nữa, rồi thong thả đọc, giọng trầm nặng thổ âm xứ sở:

- Anh biết yêu em đã muộn màng
Nhìn em trăm bận chỉ nhìn ngang
Biết rằng nhìn thẳng thêm đau đớn
Anh sợ tình ta sẽ dở dang…

Đoạn, dừng lại một tí, ông hỏi: "Xuân Diệu từng nói tình đẹp là tình dang dở phải không?", rồi đọc tiếp:

- Muốn trốn em, mà trốn được nào
Mắt em thầm gọi sắc như dao
Mỗi lần gặp lại lòng đau điếng
Trốn cả lòng anh, trốn được sao
Em hỡi, lòng anh yêu đã sâu
Yêu em ngay tự thuở ban đầu
Gặp em như níu lòng anh lại
Em đẹp, lòng anh lại nhói đau

Em hỡi! Yêu em chẳng muộn màng
Lửa bền trong đá mấy muôn năm
Lửa đôi ta chẳng cùng nhau đượm
Sẽ đốt lòng ta ra bụi than.

Chúng tôi im nghe, im nghe. Tôi ngỡ là tiếng đọc thơ chậm rãi trầm đục mà như vội vã níu kéo, mà như có gì thống thiết kia đang phát ra từ một khối đá nâu đen có đỉnh bồng bềnh mây trắng bay, có cặp mắt nhỏ tinh anh đượm buồn đang lấp lóe sáng.

Tôi nhìn ra phía cửa, có mấy người bệnh, có mấy người đến thăm ông hay thăm ai đó đang sẽ sàng đứng nghe ông đọc thơ. Hình như nắng mùa đông có rực lên ở ngọn cây cao cao rì rào ngoài kia, hình như có làn gió nào đưa hương hoa lan vào phòng thoang thoảng. Tôi biết là sẽ còn lâu, còn chưa biết đến bao giờ mới lại được chính nhà thơ đọc cho nghe thơ ông, lại được xem công chúng nghe thơ như thế này nữa, nên rất muốn ông tiếp tục. Nhưng trông cái dáng ngồi đã chùng xuống của Huy Cận, biết là ông đã mỏi lắm, tôi định nói lời hẹn một dịp khác, thì đã có tiếng ai đó: "Bác đọc bài gì về quê hương đi!", nhà thơ giơ bàn tay to bè vỗ vỗ vào tay tôi: "Mình chưa mệt, chưa mệt đâu…", rồi ông đọc luôn:

- Ông đồ xưa xứ Nghệ
Càng dạy chữ càng nhiều
Tính tình người xứ Nghệ
Càng biết lại càng yêu

… Tình xứ Nghệ không mau
Nhưng bén rồi sâu lắng
Quen xứ Nghệ quen lâu
Càng tình sâu nghĩa nặng

Ôi tâm hồn xứ Nghệ
Trong hồn Việt Nam ta
Ôi tâm hồn xứ Nghệ
Trong hồn Việt Nam ta…

Biết ông đọc theo kiểu nhảy cóc trích đoạn, tôi thấy hay hay, nhìn ông hồn nhiên mê say giữa sự chăm chú của mọi người, tôi trộm nghĩ: Có ai hạnh phúc như nhà thơ không? Nhưng nghe và thấy ông đọc mấy dòng cuối theo kiểu vè xứ Nghệ, như luyến láy nhấn nha nhấn nhứ, mà giọng trầm đục nhỏ dần, tôi biết là ông mệt thật rồi.

Huy Cận ngồi yên lặng, gương mặt chìm đắm xa xăm, mấy sợi tóc bạc trên vầng trán rịn mồ hôi của ông lay động khẽ. Cặp môi dày của ông mấp máy như định nói gì. Tôi nâng lên ông một chén nước nóng thoảng thơm mùi hoa cúc. Nhà thơ đỡ lấy hít hà mấy nhịp rồi uống một hơi, như cách nhà văn Tô Hoài dạo nào uống rượu vang một mạch gần cạn cả cốc.

Nhà thơ tự sửa lại dáng ngồi duỗi ngửa ra sau, mái đầu hơi cúi xuống, cặp mắt lim dim khép dần như muốn ngủ. Có lẽ ông đang tự lắng nghe lại tiếng thơ tiếng hồn còn âm vang đâu đó cùng chúng tôi. Cặp lông mày lốm đốm bạc có mấy sợi dài hơn xòe ra rung rung bỗng nhướng lên. Tiếng một phụ nữ: "Chào nhà thơ! Anh khỏe rồi à?". Giọng Huy Cận trầm ấm, hơi ngân nga: "Ai đó? Mời vào, mời vào".

Chúng tôi nuối tiếc đứng dậy chào ông ra về, để người khác còn được trò chuyện với ông. Chẳng biết họ có nghe ông đọc thơ nữa không? Kể cũng mong họ được như mình, nhưng lại sợ ông mệt quá.

Mấy hôm sau tôi vào thăm ông lần nữa, nhà thơ bảo: "Hôm ấy các ông về rồi, bọn mình còn vui mãi đấy! Tôi sắp được ra viện ông Nguyên An ạ!". Ông vịn bàn tay to mập ấm mềm lên vai tôi bảo: "Dạo ở đây một tí đi".

Cây cỏ trong khuôn viên bệnh viện lao xao theo bước chân lệt xệt tập tễnh của Huy Cận. Hình như cái lao xao ấy đã gợi ông nhớ đến một vạt đồi xanh sơn cước ở quê với tuổi ấu thơ bảy tám mươi năm về trước thì phải.

NGUYÊN AN
Nguồn: VNCA




Thứ Năm, 6 tháng 6, 2019

Chùm thơ Sinh thái 5 tác giả

Đỗ Hồng Ngọc - Nguyên Cẩn - Trần Hoài Lâm - Trần Nhã Phương Uyên - Nguyễn Văn Toan


ĐỖ HỒNG NGỌC

Rùng mình…

“Tùng địa dũng xuất”
               (Kinh Pháp Hoa)

Người rùng mình hỏi vì sao động đất sóng thần cứ triền miên hết ngày này sang ngày khác?
Vì sao núi lửa cứ phun trào?
Vì sao băng tan vì sao bão táp…?
Vì sao trẻ con người già bị cuốn trôi bị thiêu đốt thành phố tan hoang cửa nhà đổ nát như món đồ chơi
của một đứa trẻ đang giận dữ
Vì sao và vì sao?…


Nhưng hãy lắng nghe
Dù trong giây lát


Trái đất cũng đang rùng mình tự hỏi vì sao những ngọn núi cứ triền miên đổ sập?
vì sao những dòng sông nghẽn tắt?
vì sao những mũi đao cứ ngày đêm xoáy sâu vào lòng đất?
Vì sao chim rừng cá biển không chốn nương thân
Vì sao cổ thụ mầm xanh bị tận diệt
Vì sao lúa bắp phải cấy ghép gen người?…
Vì sao và vì sao?


Ta nương tựa vào nhau.
Nay có vẻ đã không còn cần nhau nữa!
Đất rùng mình phận đất…
Người rùng mình phận người…




NGUYÊN CẨN

Chiều trên giòng Vu Gia

Biết nói gì với con về những công trình thuỷ điện?
Xưa anh ngợi ca rền rĩ suốt bao năm
Những con sông không thể ngủ yên hoài
Phải thức dậy và nhảy theo điệu rock
Nay sông Bung cỏ hai bờ đứng sững
Nghiêm nghị chào con đập chẹn dòng trong
Kìa A Vương lũ xả cứ tuôn tràn
Nọ Za Hung cuồn cuộn về như thác
Những cánh rừng không còn - như bàn tay chặt cụt
Để nước xô bờ, cha biết nói sao đây?
Đêm Đông Giang nghe tiếng khóc sông Côn
Chiều Xã Bốn nghe lúa buồn phơi nắng
Sáng Nam Giang mẹ lần mò ngăn nước
Những con bê lưu lạc dắt nhau về
Sông hóa kiếp thành hồ hay suối cạn
Bầy con trẻ từng trên cát nắng
Sẽ đen giòn như lũ lạc đà thui
Biết nói gì cho con khi đã tắt niềm vui
Dòng điện sáng là rừng xưa vĩnh biệt
Lời tha thiết vọng từ thăm thẳm núi
Bầy hươu sao tán loạn chạy trên đồng
Đêm qua ai khóc - không chỉ một giòng sông
Riêng Vu Gia nhớ Thu Bồn đứt ruột…
Riêng Vu Gia khiến hồn não nuột
Rượu Hồ Đào sao lại ném sông trôi?




TRẦN HOÀI LÂM

Bụi

Bụi mù trời anh không thấy mặt em
anh muốn thở nhưng anh ngộp thở
em ở đâu giữa phố bụi mịt mùng


Sáng thức giấc trong đầu anh là bụi
bụi trên những ô kính và bụi trong chăn
Bụi vương đầy những ý nghĩ của anh nhưng anh không lau sạch được
em ở đâu trong phố bụi mịt mùng
Rồi đến lúc ta phải tìm nhau bằng tiếng
bởi hình hài bụi đã phủ từ lâu
nhưng tiếng của anh và tiếng của em cũng phủ đầy bụi
đầy bụi như ly cà phê trong góc quán chiều qua


Đi qua những ngã tư và những vỉa hè
bụi vùi lấy người lao công im ngủ
anh cố lau những giọt mồ hôi trên trán mình
nhưng đó không phải là những giọt mồ hôi
mà là những giọt bụi


Hãy nhớ đêm này ta gặp mặt
Bụi cũng sẽ phủ lấy cuộc làm tình của hai chúng ta
Bụi sẽ nhảy múa trên ngực em và cả trên ngực anh
rồi chúng mình sẽ sinh những đứa con đầy bụi
và anh sẽ tìm cách lau sạch bụi trên mắt con mình
khi chúng chưa ra đời, chúng hãy còn trong em.




TRẦN NHÃ PHƯƠNG UYÊN

Chưa bao giờ

Chưa bao giờ em ra sau đồi
lặng lẽ ngồi xuống trong hoàng hôn và hát
chưa bao giờ hoàng hôn nói với em về sự rộng lượng của cây cỏ
chưa bao giờ
chưa bao giờ em biết chuyện của cây cỏ


Hãy cùng anh ra sau đồi
hay ngồi xuống bên hoàng hôn và đợi
hãy ghé tai vào gốc sim già nua ấy
và lắng nghe sự rộng lượng của cây cỏ
như anh đã bỏ hết muộn phiền.


em đã không biết ngày sinh của cỏ
em đã không thấy ngày tàn của hoa
chưa bao giờ em biết trong bình minh có nhiều pho truyện cổ
bởi em chưa bao giờ lắng nghe gió hát trên đồi và chim khóc
trong mơ


có khi nào em khóc dưới mưa
nước mắt em sẽ là mưa chát mặn
có khi nào em ngủ trên sương
đôi vai em sẽ là chim hạc trắng


Hãy một lần lắng nghe em à
hãy ngồi bên giáo đường và nhìn chim di trong bản nhạc của người hành khất bụi bặm
em sẽ thấy trong bản thánh ca có lời Thiên Chúa
lời của người lúc sinh hạ cỏ cây


hãy lắng nghe em nhé, một lần thôi
em sẽ thấy lồng ngực em là biển
và anh là những cơn sóng đó
sóng cuồng nộ rồi sóng lại đi hoang



NGUYỄN VĂN TOAN

Thần rừng chiêm bao

Thần rừng không bao giờ ngủ
Những cây vầu kể cho người giấc mơ của sự rời rạc
Cơn bão đến chúng không thể cùng cầu nguyện
Gốc cây cụt lủn kể rằng
Chúng thường mơ thấy mình còn nguyên vẹn
Những con thú bị thương thì thầm về giấc mơ bị săn đuổi
Máu và những phần thân thể rơi rớt chạy theo chúng
Rồi thần rừng cũng nói về những giấc mơ của mình
Trong bóng tối của ban ngày
Những bóng ma loài người nhăn nhúm dưới vuốt quạ
Chúng khẩn khoản xin người cho trú ngụ những gốc cây
Người đồng ý
Loài chim bay quanh từ biệt
Từng đàn lao vào vách đá
Những ma người hưởng thụ
Thần rừng không bao giờ ngủ
Nhưng Người vẫn có những giấc mơ
Trong ánh sáng buổi tối
Ngọn lửa bày biện bữa tiệc cuối
Những cơn mưa đen từ tro tàn rơi
Phủ lên ngọn núi trần truồng
Bầy thây ma nhảy múa man dại quanh thần
Người chỉ còn một mình trên đỉnh ngôi nhà hoang tàn.

Nguồn: Sông Hương


TIN LIÊN QUAN:



Chủ Nhật, 26 tháng 5, 2019

Nhà văn Trang Thế Hy gió đưa gió đẩy


“gió đưa gió đẩy về rẫy ăn còng
 về sông ăn cá về đồng ăn cua”
(ca dao)

“Biết đâu au revoir (tạm biệt) chẳng là adieu (vĩnh biệt)”. Ông nói, giọng ngùi ngùi. Lần đầu tiên sau 24 giờ gặp nhau, tôi nghe một thoáng hẫng như đã từng đọc “những ổ gà không khí” có rất nhiều trong văn ông. Những cú hẫng những ổ gà những khoảng lặng như thế trong văn Trang Thế Hy bao giờ nghe lại đọc lại cũng khiến tôi ngùi ngùi…
Nhà văn Trang Thế Hy

Về nhà văn Trang Thế Hy, Từ điển văn học (bộ mới) viết: “Trang Thế Hy chuyên viết truyện ngắn và ký. Những tập truyện ký đã xuất bản: Nắng đẹp miền quê ngoại (1964), Mưa ấm (1981), Người yêu và mùa thu (1981), Vết thương thứ mười ba (1989), Tiếng khóc và tiếng hát (1993). Tác phẩm mới nhất, có thể coi như một tuyển tập của ông: Nợ nước mắt và những truyện ngắn khác (2001)”. Và từ điển trích một câu trong một truyện ngắn của Trang Thế Hy để nói về quan niệm nghệ thuật của chính tác giả: “Tôi nghe đó (từ câu chuyện của chị bán thuốc lá) là lời răn dạy rất nghiêm có giá trị thức tỉnh cao của một hiện thực đau buồn nhắc nhở người cầm bút đừng bao giờ đánh mất cái điểm tựa đáng tin cậy của mình là nỗi đau khổ lớn của số đông thầm lặng”.

Sinh năm 1924, Trang Thế Hy đã tham gia hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Hiện sống tại quê nhà, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

***

Có thể nói cả đời Trang Thế Hy thuận theo những con “gió đưa gió đẩy”. Gọi những con gió ấy là số phận cũng được, mà gọi là sự tình cờ vô thường cũng xong! Nghe nói, hồi ở chiến khu miền Đông Nam Bộ, Trang Thế Hy luôn thủ sẵn vài trăm… lưỡi câu để sẵn sàng giăng câu kiếm cá, hay ông có biệt tài bắt… nhái băm chả, câu rắn mối, biến những điều không thể thành có thể, viết chầm chậm những câu văn trong khi chờ mấy gã chuột sa bẫy trong những đêm rừng lạnh. Ngày đó, tôi ở bên binh vận cùng Lưu Kiểng Xuân - một nhà văn đặc Nam Bộ quê Cần Giuộc, Long An. Tư Xuân vốn là trung úy lái trực thăng của quân đội Sài Gòn, nhưng là cơ sở cách mạng ở nội thành, là cộng tác viên của nhóm Tin Văn - tên một tờ tạp chí văn nghệ thiên tả, có liên hệ với cách mạng. Tư Xuân sau đó đã lên chiến khu,viết truyện và bút ký có nhân vật là lính Sài Gòn, nên được đưa về ban tuyên truyền binh vận. Còn tôi chỉ là anh sinh viên mới tốt nghiệp ở Hà Nội, vào bộ đội chưa lâu, cũng làm tuyên truyền binh vận cho đài phát thanh, rồi đi B2, rồi về ban binh vận, rồi…

Chúng tôi chơi với nhau do có chút máu văn chương, và mỗi lần, khi chuyện trò về văn học, bao giờ Tư Xuân cũng léo vào cái tên Trang Thế Hy dưới biệt danh thân mật là Tư Sâm: “Tui khoái cha Tư Sâm này, văn chả kỹ mà sâu, lại đúng giọng Nam Bộ!” Dù chưa gặp Trang Thế Hy, cũng chưa có may mắn đọc văn ông - trong rừng mấy thứ văn chương còn hiếm hơn cả chuột hay rắn mối - nhưng tôi tự nhiên có cảm tình với Trang Thế Hy từ đó. Qua Tư Xuân, tôi còn biết Tư Sâm là người có “hoàn cảnh” có tâm trạng và nhiều lúc rất buồn, cô đơn nữa.Như thế lại giống Tư Xuân và tôi. Có một lần, Tư Xuân rủ tôi đi sang cứ của ban văn n ghệ R chơi, thăm Tư Sâm. Tiếc thay, lần đó khi chúng tôi mất nửa ngày trời băng qua những trảng cỏ voi và rừng dầu đến với Tư Sâm, thì ông lại đi công tác chiến trường, không có ở cứ. Hai chúng tôi được Anh Đức tiếp tại nhà, đãi một bữa cơm có thịt hẳn một con gà - điều quá hiếm ở rừng hồi ấy. Thôi thì ông anh Tư Sâm cũng xá cho, tôi với Tư Xuân chẳng qua cũng “gió đưa gió đẩy về cứ ăn… gà” chứ chúng tôi không cố ý. Hôm đó, trở về qua trảng cỏ voi, và tôi viết được bài thơ “Những dấu chân qua trảng cỏ”. Âu cũng là cái duyên với Trang Thế Hy, dẫu chưa gặp được ông, nhưng nhờ chuyến thăm hụt ông mà lận lưng được bài thơ không đến nỗi nào, vậy là ấm bụng! Cách đây mấy năm, khi gửi tặng tôi tuyển tập truyện ngắn “Nợ nước mắt và những truyện ngắn khác” - Lão nhà văn Trang Thế Hy đề tặng: “Tặng Thanh Thảo, người trở về vùng Tháp Chàm còn để lại ở rừng già phương Nam những “dấu chân trên trảng cỏ”. Một lời đề tặng vừa tình cảm vừa “kỹ”- đúng văn chất Trang Thế Hy.

Hoá ra ở đời vẫn có những tương hợp tình cờ như thế, “gió đưa gió đẩy” chúng tôi qua những cánh rừng miền Đông những bưng biền Đồng Tháp để cuối cùng, dù người về Bến Tre “đứng như bóng dừa”, kẻ trở lại quê nhà miền Trung nương bóng Tháp Chàm, ăn don và cả ăn đòn, chúng tôi lại gặp nhau… ăn cua. Vâng, ăn cua cốm. Ngay tại thị xã Bến Tre, sát mé sông Hàm Luông hẳn hoi. Tôi, nhà thơ Chim Trắng với nhà giáo dạy văn Nguyễn Tấn Huy từ Sài Gòn về Bến Tre thăm lão trượng Trang Thế Hy. Chim Trắng đã ngót 70 mà tay lái  còn “lụa” lắm! Nghe nói ở quê tôi có ông chủ tịch ít tuổi hơn Chim Trắng nhưng mới về hưu, nhớ tiếc một thời vàng son oanh liệt nên “Buổi sáng ông mặc áo đi giày ra đứng ngoài đường”… chờ xe, kết luận theo thơ Trần Vàng Sao thì ông là “một người yêu nước mình”. Đứng chờ xe, dẫu xe không đến, là còn muốn làm việc, là còn “yêu nước mình”, chứ sao! Chim Trắng cười ngất, nói là anh sẵn sàng ra Trung lái xe hầu “một người yêu nước mình” ấy. Anh vốn hâm mộ những người yêu nước.

Chúng tôi ăn cua cốm, thứ cua hai da vừa lột chưa lâu, có gạch béo và mềm, hạp với răng cỏ lão nhà văn. Lỗ Tấn có biệt tài là viết nhấn, mỗi câu văn là một con sóng, con sau cao hơn, mạnh hơn con trước. Chekhov thú nhận là mình không thật đam mê trong bất cứ việc gì, cả làm thuốc và viết văn. Tôi nói với Nguyễn Quang Sáng, anh viết về tôi đúng cả, chỉ có cái này là sai: Trang Thế Hy quyết sống chết với văn chương. Không có đâu! Tôi chỉ dám là “người tình thoáng chốc” của văn chương thôi. Tôi không ăn thua đủ về bất cứ cái gì. Đó là cái dở nhất của tôi. Kể cả giải thưởng mà người ta định trao cho ông rồi… thôi? Ừ, cả giải thưởng. Nhưng tôi phải thú nhận là tôi có sốc nhẹ, vì khi nghe thông báo cứ như đã “được rồi”, tôi lỡ dại khoe với mấy người bà con nghèo, là Tư Sâm sắp khá, có món tiền to, sẽ biếu mấy anh em chút đỉnh tiêu chơi. Nào ngờ. Coi như tôi nói dối họ. Không nói dối đâu, anh Tư, nhưng là nói chưa thành sự thật. Quán ăn Trương Ký, lão nhà văn khẽ khàng gắp miếng cá chẽm kho ngót (kho ngọt) có để chanh, chiêu ngụm rượu vang trắng Alsace chánh hiệu mà Chim Trắng mang từ Sài Gòn xuống. Lỗ Tấn nói “nhà văn như con bò ăn cỏ khô rơm khô nhưng phải cho đời sữa tươi”. Tôi đế: Cá chẽm với vang Pháp cũng là cỏ khô sao anh Tư? Lão nhà văn cười mỉm mỉm. Ở đời, như Gorki phân loại, thì có hai kiểu chết: một là cháy bùng lên, hai là mục rã. Tôi thuộc loại thứ 2. Nhưng cố gắng làm sao mục rã coi cho được. Kể cả bùng cháy, cũng đừng bùng cháy khó coi, phải hôn anh Tư? Lại cười mỉm mỉm. Cua cốm này ăn đậm, cua cũng phải tới kỳ, ăn mới ngon, nữa là văn chương. Trang Thế Hy đeo bên thắt lưng một điện thoại loại xịn nhất, dường như có kết nối toàn cầu, màu bạc sáng loáng. Thỉnh thoảng ông lại móc điện thoại, mở nắp, chiêu một ngụm. Một ngụm thông tin toàn cầu? Rượu này tôi đặt riêng, nấu bằng nếp, uống thử coi, ngon hơn rượu Tây đó! Chúng tôi cứ trò chuyện lai rai không đâu vào đâu. Bóng tối len nhẹ vào quán trên những bước chân mèo, và trong ánh chập chờn, mắt ông lão nhà văn lấp láy. Người như thế có khi biết mà không nói, có khi nói nửa câu những gì mình nghiền ngẫm trọn đời. Nửa câu còn lại, để gió sông Hàm Luông giải quyết.

Hồi trưa, lúc ngồi với Trang Thế Hy trong vườn dừa nhà ông, tôi để ý vườn dừa nhà bên có những miếng thiếc trơn bề rộng độ 3 tấc bao quanh thân dừa. Ngạc nhiên tôi hỏi, lão nhà văn cho biết, đó là cách ngăn chuột ăn dừa. Chuột dừa ở xứ cù lao này răng sắc và chịu khó lao động. Chúng phải gặm xuyên qua vỏ dừa, xuyên cả gáo dừa mới ăn được cơm dừa. Ăn cơm dừa nhưng không uống nước dừa, mà chỉ uống nước mương. Nên chúng phải trèo lên leo xuống. Những miếng thiếc kia khác nào những “cột mỡ” đối với chúng. Xuống cũng té “bịch”, mà lên cũng té “bịch”. Nhưng tôi không có tiền bao thiếc quanh thân dừa nhà mình, mỗi miếng thiếc tới 30 nghìn đồng lận. Nghĩa là vì nghèo mà ông có tình thử đạo? Tôi chọc. Tôi bây giờ “đêm nghe dừa rụng ngày nhìn chuột rơi”, kể cả dừa và chuột hàng xóm. Những tiếng rơi ấy, nghe buồn lắm. Tôi nhìn dáng ông lão lầm lũi đi con đường đất lầy lội dọc bờ mương về nhà mình, lúc chúng tôi chia tay nhau. Biết đâu au revoir (tạm biệt) chẳng là adieu (vĩnh biệt). Ông nói, giọng ngùi ngùi.

Lần đầu tiên sau 24 giờ gặp nhau, tôi nghe một thoáng hẫng như đã từng đọc “những ổ gà không khí” có rất nhiều trong văn ông. Những cú hẫng những ổ gà những khoảng lặng như thế trong văn Trang Thế Hy bao giờ nghe lại đọc lại cũng khiến tôi ngùi ngùi. Ông đã 83 tuổi, cầu Rạch Miễu mới làm xong, nhưng đoạn đường vô nhà ông vẫn sình lầy. Bao giờ? Vâng, bao giờ chúng tôi gặp lại nhau?

THANH THẢO
(NVTPHCM)


Thứ Hai, 20 tháng 5, 2019

Thi nhân Bùi Giáng: Một tiếng lá rơi dội trong sương mù

Phải nhiều năm sau khi đất nước thống nhất, tôi mới biết đến một con người kỳ dị trong làng văn: Bùi Giáng. Nói đúng hơn là tôi chỉ biết đến những tác phẩm của ông mà chưa bao giờ có dịp được diện kiến ông lần nào. Càng đọc những tác phẩm của ông, cái phần không hiểu lại càng lớn hơn cái phần hiểu được!
Nhà thơ Bùi Giáng

Nhưng rồi dần dần, tôi mới ngẫm thấy rằng điều đó chẳng quan trọng mấy. Nếu cứ đâm đầu vào đi tìm hiểu xem Bùi Giáng viết gì thì có ngày cũng dễ điên giống ông! Cái đọng lại trong tôi mỗi khi đọc Bùi Giáng, ấy là một cảm giác hân hoan không cưỡng lại nổi, cứ như thể được nhận quà từ tay một chú bé hồn nhiên, vui vẻ.

Cả thơ, cả văn hay khảo cứu của ông đều gây cho tôi cái cảm giác ấy. Với tôi, có lẽ thế là đủ.

Trong 73 năm sống trên cõi đời này, Bùi Giáng là người phiêu hốt qua hàng hàng chữ nghĩa. ông lãng đãng ngay từ bản khai lý lịch không “đụng hàng” với bất cứ ai:

Hỏi tên? Rằng biển xanh dâu
Hỏi quê? Rằng mộng ban đầu rất xa
Gọi tên là một, hai, ba
Đếm là diệu tưởng, đo là nghi tâm.

Có vẻ như với Bùi Giáng, đời là một cuộc vui bất tận và ông tận hưởng nó, diễn giải nó, yêu thương nó, như cái cách mà ông đã từng viết: “Thơ vô tận vui”.

Mở đầu cho Mưa nguồn, thi phẩm đầu tiên của Bùi Giáng được xuất bản năm 1962, ngoài lời đề từ giỡn cợt “rất Bùi Giáng” là “tặng ba người con gái - chiêm bao ở bờ cỏ Phi Châu”, Bùi Giáng còn rút ra hai câu trong bài Chào Nguyên Xuân có trong tập này, như một lời thề về cuộc đời (và có lẽ toàn bộ chữ nghĩa) của ông:

Xin chào nhau giữa con đường
Mùa xuân phía trước, miên trường phía sau

Đấy là cái tâm thế của một người tung tăng trên đường đời, chào gặp và giã biệt bất cứ ai dù lạ hay quen; và đời sống ông chảy trôi giữa hai cảnh giới: luôn có một mùa xuân vẫy gọi tíu tít ở phía trước, trong khi phía sau là những giấc ngủ dài.

Đời sống phiêu bồng của Bùi Giáng vang vọng trong thơ ông. ông như một người lữ thứ đi trong cuộc đời, không biết từ đâu đến và cũng không biết đi về đâu:

Ngày sẽ hết và tôi không ở lại
Tôi sẽ đi và chưa biết đi đâu
Tôi sẽ tiếc thương trần gian mãi mãi
Vì nơi đây tôi sống đủ vui sầu.

(Phụng hiến).

Trong cõi trần gian ấy, Bùi Giáng sống tận hiến cho từng satna một, với một niềm vui sống bất tuyệt, như ông đã viết, vẫn trong bài Phụng hiến:

Tôi đã gửi hồn tôi biết mấy bận
Cho mây xa cho tơ liễu ở gần
Tôi đã đặt trong bàn tay vạn vật
Quả tim mình nóng hổi những chờ mong
Một tình yêu mãnh liệt đời sống với những sắc thái tế vi của nó:

Xin yêu mãi yêu và yêu nhau mãi
Trần gian ôi! Cánh bướm cánh chuồn chuồn
Con kiến bé cùng hoa hoang cỏ dại
Con vi trùng cùng sâu bọ cũng yêu luôn.

Có lẽ, cái tình yêu đời sống mãnh liệt ấy đã là đôi cánh bướm mỏng nhẹ nhàng mang thơ ông len lỏi vào trái tim những người yêu thơ.  

Trong nền thơ Việt Nam, có một thế giới thơ tình Nguyễn Bính. Có một thế giới thơ tình Xuân Diệu. Vậy liệu có một thế giới thơ tình Bùi Giáng hay không?

Theo tôi là có.

Trong thơ Bùi Giáng, hình ảnh người con gái lớn mênh mông mà cũng thật nhỏ nhoi. Tựu trung lại, nàng bao giờ cũng đẹp:

Ôi một người con gái
Là đúng một bầu trời
Là sinh con đẻ cái
Đẹp bằng hột mưa rơi
ôi một người con gái
Dù là gái đốt than
Cũng đẹp như suối ngàn
Chảy từ trên núi xuống.

(Ôi một người con gái).

Trong tình yêu của thơ Bùi Giáng, nỗi nhớ luôn hiển hiện như một thành tố không thể thiếu. Có một thời, có lẽ do bị ảnh hưởng bởi những tiểu thuyết cổ trang, Bùi Giáng thường xưng “Trẫm”, như một vị vua trước các thần dân trong vương quốc tưởng tượng của riêng Bùi Giáng. Vị vua này cũng không được miễn nhiễm khỏi cái sắc thái thông thường của người đang yêu:

Trẫm ở bên trời
Trẫm nhớ em
Trên trời trẫm nhớ
Trẫm thương thêm
Trẫm buồn như thể
Trời buồn thảm
Trẫm khóc vô ngần
Trẫm nhớ em.

(Trẫm một mình nhớ nhung hoàng hậu của trẫm).

Và hiển nhiên là vị vua Bùi Giáng, khi xa cách em, cũng rối ren, cũng dằn vặt với câu hỏi thường xuyên đặt ra: “Em đâu?”. Hồi đó chưa có điện thoại di động, những người yêu nhau bình thường giải tỏa nỗi nhớ bằng cách viết thư cho nhau, còn Bùi Giáng thì… làm thơ:

Em ở đâu rồi Trẫm nhớ em
Trẫm buồn chẳng biết viết gì thêm
(Em có nhớ Trẫm chăng em nhỉ
Trẫm viết dòng nào
Cũng rối ren).

(Em ở bên trời).

Bùi Giáng là một trong số hiếm hoi những nghệ sỹ mà ngay khi ông còn sống đã có vô vàn những giai thoại vây quanh. Trong số đó, có một giai thoại về việc Bùi Giáng tự viết “tiểu sử” trong một bản thảo chép tay ghi trong cuốn sổ gửi vào chùa Pháp Vân, Gia Định, Sài Gòn ngày 10-11-1993. Trong cái “tiểu sử” giai thoại này, có những dòng liên quan đến đối tượng luyến ái của ông:
“1942: trở ra Huế vì nhớ nhung gái Huế…
1970: Lang thang du hành lục tỉnh, gái Châu Đốc thương yêu và gái Long Xuyên yêu dấu
Gái Chợ Lớn khiến bị bịnh lậu (bịnh hoa liễu)”.

Không rõ sự chân thực của những dòng “tiểu sử” giai thoại này đến đâu, nhưng trong suốt cuộc đời mình, ngoài người vợ chính thức Bùi Thị Ninh đã không may mất sớm, Bùi Giáng có vô số những người yêu trong mộng. Danh sách “người yêu” của Bùi Giáng, cũng là những nguồn cảm hứng bất tận cho thơ ông, trải dài từ Nam Phương hoàng hậu, Phùng Khánh (Thích Nữ Trí Hải), ca sỹ Hà Thanh, kỳ nữ Kim Cương cho đến những minh tinh màn bạc ngoại quốc tài danh đương thời Bùi Giáng như Marilyn Monro và Brigitte Bardot! Đấy là còn chưa kể đến những người tình không tên như “em Mọi nhỏ” mà Bùi Giáng luôn nhắc đến với niềm trân trọng.

Có lẽ bởi đó là những người yêu trong mộng tưởng nên tình yêu của Bùi Giáng đối với họ thấm đẫm những ẩn ức tình dục libido. Có thể thấy cái chất libido này lại thấm đẫm trong nhiều câu thơ của Bùi Giáng. Khả năng tận dụng từ ngữ tiếng Việt phi phàm cho phép Bùi Giáng tung hứng với những cách nói lái dân gian điển hình. Trong thơ ông xuất hiện với tần suất cao những “tồn lưu”, “liên tồn”, “lưu tồn”, “cồn hoa lá”, “lộn đàng”; thậm chí Bùi Giáng còn lấy bút danh của mình là “Vân Mồng” cho bản dịch tiểu thuyết Khung cửa hẹp của André Gide, lấy tên nhà xuất bản cho tập tiểu luận Đường đi trong rừng là Lá hoa cồn, hay đưa hẳn cái từ Lá hoa cồn này vào tên một tập thơ: Mưa nguồn và Lá hoa cồn, nhà An Tiêm xuất bản năm 1973!

Đây:

Mép bờ nước mọc nguyên tiêu
Tờ điên hoa dậy trăng Chiều Dã Man
Đất về lịch sử thênh thang
Cồn Hoa Lá trút cho hàng ngửa nghiêng.

(Cồn hoa lá).

Đây:

Trăm năm trong cõi sinh tồn
Cá bờ mương nhảy sô hồn xuống hang
Biết bao là gái lộn đàng
Nhớ nhung như nhớ lang thang mây chiều
…
Một ngàn cỏ lá cồn trơ
Đẩy ngang ngửa nhịp nước cờ chiêm bao
Dấn thân thể dấn bước vào
Xịch mành sực tỉnh hàng rào chắn ngang.

(Bờ tồn sinh).

Đây nữa:
Mở hai hàng cỏ long đong
Úp môi vào thút thít trong một vùng.

(Mở cỏ vào môi).

Đọc những câu thơ này của Bùi Giáng, thoảng như thấy Hồ Xuân Hương đâu đây.
Nhiều người biết Bùi Giáng là một dịch giả siêu phàm với hàng ngàn trang dịch các tác phẩm triết học khó nhằn của các triết gia, các tiểu thuyết, kịch hiện sinh của André Gide, Gérard de Nerval, Albert Camus, W.Shakespeare…ông cũng có những trang dịch với ngôn ngữ tuyệt đẹp các tác phẩm đầy thơ mộng của Saint Exupéry như Hoàng tử bé, Cõi người ta…

Nhưng ít ai biết được là Bùi Giáng đã từng dịch truyện chưởng!

Trong số các “đại gia võ hiệp” của tiểu thuyết chưởng Tàu thập niên 60 của thế kỷ trước, Ngọa Long Sinh là một tên tuổi nổi bật, sánh ngang với những Cổ Long, Lương Vũ Sinh, Gia Cát Thanh Vân…, có lẽ chỉ kém Kim Dung tí chút. Tiểu thuyết của các tác giả này được độc giả đô thị miền Nam nồng nhiệt đón nhận hồi thập niên 60-70, được dịch và in với số lượng lớn.

Một trong những tác phẩm của Ngọa Long Sinh mà Bùi Giáng chọn dịch là Kim kiếm điêu linh, sau này được những người dịch khác lấy cái tựa đề dễ hiểu hơn là Xác chết loạn giang hồ!

Cách đây nhiều năm, Bùi Giáng từng viết, trong bài thơ cuối của tập Mưa nguồn, bài Mai sau em về:

Ta đi còn gửi đôi giòng
Lá rơi có dội ở trong sương mù?

Cuộc đời cũng như sự nghiệp chữ của Bùi Giáng cũng giống như một tiếng lá rơi dội trong sương mù của đời sống. Tiếng dội ấy sẽ còn vang rất xa, rất sâu…

YÊN BA
(ANTGCT)




Thứ Bảy, 18 tháng 5, 2019

Dấu ấn nghề cá trong địa danh Nam Bộ

Nghề chài lưới đã để lại một dấu ấn khó phai, với những sắc thái khá phong phú trong các địa danh ở Nam Bộ. Qua các địa danh này, chúng ta có thể hình dung được lịch sử của các cộng đồng dân cư, cách thức mưu sinh, thế ứng xử với thiên nhiên của các cư dân nơi miền đất mới.
Nhà thờ Tắt Rỗi.

Xóm Vạn Chài có miếu Phú Hòa Vạn (miếu Nổi, quận Bình Thạnh, TP HCM) thờ bà Thủy Long. Năm 1972, miếu này bị đổi chủ, trở thành nơi thờ Tứ phủ. Đình Phú Hòa Vạn (4 Trần Quang Khải, quận 1), gần cầu Bông, đối diện miếu Phú Hòa Vạn (quận Bình Thạnh) thờ thần Thành hoàng, có bài vị “Đại Càn quốc gia Nam Hải Tứ vị thánh nương”, vốn là miếu thờ thần sông biển của dân xóm Vạn Chài, đánh cá sông, gốc ở làng Chơn Sảng (huyện Hòa Vang, Đà Nẵng) di cư vào sau năm 1859 từ khi Pháp đánh chiếm Đà Nẵng. Đến khoảng năm 1900, không rõ vì sao lại biến thành đình.

Nhà túc bên cạnh đình Bình Hòa (quận Bình Thạnh) thờ Tứ vị Thánh nương, thần bảo hộ nghề sông nước gốc từ cửa Cờn (Nghệ An). Đình Phú Nhuận thờ Mala Cẩn Thành hoàng chi thần, tức Đại Càn, vị thần Chăm. Xưa đình Phú Nhuận được dựng ở bờ rạch Thị Nghè, ở rạch này có Phú Hòa vạn ở đầu cầu Bông – miếu Nổi (quận 1 và Bình Thạnh) và các xóm từ sau rạp Văn Hoa đến chùa Vạn Thọ (cầu Kiệu) được gọi là xóm Chài.

Miếu Bà Ngũ Hành ở xóm Đáy (ấp 1, xã Nhơn Đức, huyện Nhà Bè, TP HCM), lập trên 100 năm, được dời từ ngoài vàm vô đây 20 năm. Ngoài ban thờ 5 bà Ngũ Hành, Phật Bà Quan Âm, am thờ Ông Hổ, còn có một am nhỏ thờ Cậu Hai. Cậu Hai đây chính là “cậu” trong tín ngưỡng Bà Cậu của người dân làm nghề hạ bạc ở xóm đáy này. Ngoài ra ở thành phố Hồ Chí Minh còn có xóm Đáy ở xã Phong Phú (huyện Bình Chánh), rạch Đáy ở huyện Cần Giờ, bản đồ năm 1885 đã thấy có tên rạch này.

Một xóm Đáy khác ở gần chợ và cầu Phú Xuân (thị trấn Nhà Bè, huyện Nhà Bè) được lập từ thập niên 1940, đến những năm 1989-1990 mới dẹp các sở đáy này do không còn nhiều cá tôm như trước.

Rạch Đáy ở huyện Cù Lao Dung (Sóc Trăng). Ba Đáy là con rạch ở xã An Thới Đông (huyện Cần Giờ, TP HCM), chỉ những cái đáy đánh cá hình ống to và dài, có cọc giữ miệng lưới đặt tại rạch này. Bến Đáy ở cửa Cổ Chiên, xã Mỹ Long, huyện Cầu Ngang (Trà Vinh). Bến Đáy là “nơi có nhiều người đặt đáy bắt cá”.

Xóm Chài thuộc khu vực 3, phường Hưng Phú, có bến phà (qua bến Ninh Kiều bên nội ô thành phố Cần Thơ), có chợ Hưng Phú, dân cư đa số là dân lao động hoặc mua bán nhỏ, một số sống với nghề chở khách du lịch bằng những loại thuyền nhỏ và vừa, hầu như chẳng còn mấy ai sống bằng nghề chài lưới nữa.

Cần Thơ có xóm Chài, ngày xưa bên kia sông Cần Thơ, nay vừa qua cầu Quang Trung là tới. Ở đây hàng năm vào ngày Rằm tháng Giêng có diễn ra lễ cúng miễu Bà Xóm Chài và tống bè chuối lớn (lễ Tống ôn). Ngày trước dân ở đây làm nghề hạ bạc và phần lớn là người tứ chiếng dạt về ở. Xóm Chài là xóm nghèo hay xóm trộm cắp.

Xóm Chài, gồm 61 hộ, chuyên sống bằng nghề đánh cá ven sông tại ngã ba kinh Đôi và rạch Bà Tàng, thuộc phường 6 (quận 8, TP HCM). Xóm Chài ở ấp 3, xã Bình Hưng, huyện Bình Chánh (TP HCM). Xóm Chài ở thành phố Vĩnh Long. Xóm Bà Chài ở gần biển Tân Thành, huyện Gò Công Đông (Tiền Giang). Bà Chài vì ở đây có xóm Nhà Chài, vài bà vợ các ông chài sinh sống nên có tên trên.

Xóm Câu xưa ở làng Tân Châu, nay thuộc phường 1, quận 5 (TP HCM), chuyên sống bằng nghề chài lưới. Xóm Câu ở xã Vĩnh Đông, huyện Cần Giuộc (Long An). Hiện nay họ vẫn hành nghề trên khúc sông Hàn ở huyện này.

Rạch Nò ở xã Phú Xuân, huyện Nhà Bè, từ cánh đồng ruộng chảy qua đường Huỳnh Tấn Phát, đổ vào rạch Phú Xuân, dài khoảng 1.000 m. Cầu Rạch Nò bắc qua rạch Nò. Ba Nò là địa danh ở huyện Gò Công Tây (Tiền Giang). Tại đây có 3 ngọn rạch nhỏ, đầu mỗi ngọn được đặt một cái nò. Xóm Bãi Nò ở cách trung tâm thành phố Hà Tiên (Kiên Giang) khoảng 2km, nằm bên chân núi Đèn Rọi, cũng gọi là bãi Trước. Bãi Nò là nơi định cư của những người chuyên sống bằng nghề đặt nò bắt cá. Nò là loại lờ có nắp vĩ, đặt dưới nước, khi cá vô ăn mồi thì vĩ sập xuống.

Bến Rớ được chép trong sách Hoàng Việt nhất thống dư địa chí: “Phía đông cầu này có một con kinh tục gọi Bến Rớ, rộng 10 tầm, nước lên sâu 1 tầm, nước xuống sâu 3 thước”. Xóm Rớ ở làng Bình Hòa (Thạnh Bình), nay thuộc quận 8 (TP HCM), nơi tập trung dân cư làm nghề đánh bắt bằng rớ. Bến Rớ là con tắt ở cạnh rạch Xóm Củi và rạch Gò Nổi, được ghi trong bản đồ tỉnh Gia Định năm 1902, nay thuộc huyện Bình Chánh (TP HCM). Tắc Bến Rớ là rạch ở xã Bình Hưng, huyện Bình Chánh, nối rạch Xóm Củi với rạch Cây Khô, dài khoảng 1.500 m. Tắc Bến Rớ nay ở vị trí cầu Tắc Bến Rô, chạy từ cầu Phạm Hùng qua khu dân cư T30. Ngã ba Bến Rớ là nơi gặp nhau của sông Ba Tri Cá Trại và rạch Bần Quỳ, thuộc xã Châu Hòa, huyện Ba Tri (Bến Tre), nơi đây ngư dân có dựng một số rớ giàn để đánh bắt tôm cá. Rớ là dụng cụ đan bằng chỉ gai, hình vuông, lớn gấp nhiều lần cái vó mà ngư dân dùng để đánh bắt cá trên sông rạch. Ở Nha Trang có hòn Rớ nằm trong vịnh Nha Trang.

Sách Hoàng Việt nhất thống dư địa chí ghi về con rạch Tắt Rỗi: “Tới phía trước 600 tầm, bờ bên nam có con sông, tục gọi là Tắt Rỗi”. Tắc Rổi là rạch ở phường Tân Thuận Đông, quận 7, bắt đầu từ xóm Tắc Rổi chảy ra sông Sài Gòn, dài khoảng 2.000 m.

Con rạch Tắt Rỗi (phường Tân Thuận Đông, quận 7) là con đường thông thương của những chiếc ghe bầu từ miền Trung vào mua bán với Sài Gòn. Ghe của Quảng Ngãi, Bình Định và nhiều nhất vẫn là Bình Thuận chở cá mắm từ Phan Thiết, chỉ sơ dừa từ Quảng Ngãi vào và mua gạo, các mặt hàng gia dụng ra. Vào tháng 2 những chiếc ghe này đã có mặt ở đây, mỗi chuyến đi kéo dài vài tháng, cho đến khi bán hết hàng.

Ngày xưa ghe thuyền sau khi vào sông Soài Rạp, qua ngã ba Đèn Đỏ, đến đậu ở vàm rạch Kỳ Hà (gần cầu Phú Mỹ nay), chờ nước lớn, theo rạch Tắt Rỗi để đi tiếp vào sông Sài Gòn, rút ngắn được 2km và an toàn hơn so với đi ngoài sông lớn. Một nhà thờ nhỏ, có tuổi đời trăm năm cũng được dựng bên cạnh cầu Đình. Giáo xứ Tắc Rỗi do người em thứ tư của thánh Lê Văn Gẫm là ông Lê Văn Bằng (thương gia chuyên buôn hàng từ Singapore và Penang) mua toàn bộ khu đất ruộng, cù lao dọc sông Nhà Bè này vào năm 1860. Năm 1991, khu chế xuất Tân Thuận được xây dựng thì nhà thờ cũng được dời về gần chợ Tân Mỹ (phường Tân Phú, quận 7). Gần ngã ba kho 18, đường vào cảng Tân Thuận là địa danh "bờ Tắt Rỗi" hồi còn xe đò Sài Gòn - Phú Xuân, vẫn nghe lơ xe gọi tên khi đến đây. Tắt là dòng nước để đi tắt; rổi là những người đi bán cá tôm bằng ghe. Vì tắt chảy từ nơi sinh sống của những người làm nghề lái rổi nên có tên này. Tắt rổi hay bị viết nhầm là “tắc rổi”.

Ở ấp An Phước, xã Tam Thôn Hiệp, huyện Cần Giờ (TP HCM) cũng có rạch Tắc Rổi, nối liền tắt Dinh Cậu với sông Giữa ở ngã tư Đuôi Cá, dài 3.200 m.

Rạch Cá Bè ở huyện Cần Giờ (TP HCM). Cá Bè là “cá lồng, cá được nuôi trong lồng đặt ở dòng sông”.

Cái Vạn là địa điểm ở xã Long Thọ (huyện Nhơn Trạch, Đồng Nai). Cái Vạn là “rạch xóm chài”. Nơi đây có di chỉ khảo cổ học nổi tiếng được khai quật vào năm 1978 với những dấu tích của cư dân thời tiền sử.

Ngã ba Đầm Chít ở xã Tân Khánh Hòa, huyện Giang Thành (Kiên Giang). Đầm Chít có âm gốc là đầm chích là “nghề bắt cá theo chằm nò. Nghề chài lưới” (theo Huỳnh Tịnh Của)

Chợ tạm Phan Bội Châu (phường 2, thành phố Vũng Tàu) còn gọi là chợ Xóm Lưới đối diện tượng Trần Hưng Đạo, họp xôm tụ nhất vào lúc 5-6 giờ chiều, đặc biệt vào những ngày cuối tuần thì không thiếu bất cứ hải sản gì.

NGUYỄN THANH LỢI
(TINH HOA VIỆT)

Thứ Ba, 14 tháng 5, 2019

Tái kết nối những cội rễ phi nhân như một hình thức thức nhận bạo lực

(Đọc Người ăn chay của Han Kang)  

Bất cứ điều gì chúng ta có thể làm với những con vật chúng ta cũng có thể làm với nhau, chỉ là chúng ta đã thực hành trên chúng trước mà thôi
            (Surfacing, Margaret Atwood, 121)

1. Sống và sự đứt lìa bạo lực khỏi sự sống 

Đúng như nhận định của nhà nữ quyền luận Luce Irigaray, ngày nay, sinh thái đã trở thành một bước ngoặt thời thượng: “Nếu như con người từng dối trá rằng mình có thể thống trị tự nhiên, đặt khả năng dùng văn hóa để khuất phục tự nhiên vào một vị trí cao trên thang bậc giá trị, thì ngày nay, con người có xu hướng quay sang bảo vệ gìn giữ tự nhiên”1. Dù vậy, bằng sự nhạy cảm của mình, bà nhận ra một sự bất ổn nghiêm trọng vẫn tiềm ẩn đằng sau khuynh hướng tưởng chừng như không có gì phải bàn cãi này, bởi “dù rằng hành vi này nghe qua có vẻ như thiên về đạo đức, thực chất lại vẫn nảy sinh từ cảm thức về một quyền lực tuyệt đối chế ngự sự sống thay vì một thái độ trân trọng sự sống […], vẫn còn sự sống là một cái gì nằm bên ngoài bản thân chúng ta, trong tương quan với sự sống của chính chúng ta” (Irigaray 101). Nói cách khác, nguy cơ nằm ở chỗ chúng ta vẫn không ngừng hướng mối quan tâm của mình tới một “thế giới tự nhiên bên ngoài”, tới các loài động vật và thực vật, tới một “môi trường sống xung quanh”, trong khi lại không xem bản thân mình cũng là những tồn tại sống (living beings). Như thế, hành vi sinh thái đầu tiên chính là suy ngẫm và định vị lại tình trạng sinh tồn của bản thể, đặt ra một câu hỏi mang tính phản tư về việc “liệu có phải chúng ta đang thực sự sống không, hay làm thế nào để chúng ta có thể là hoặc có thể trở thành một tồn tại sống”, để biết “sống và coi chính mình như là một tồn tại sống giữa các tồn tại sống khác, trong một môi trường cho phép sự sống tồn tại và nảy nở sinh sôi” (Irigaray 101). Con người, tóm lại, phải không ngừng hoài nghi bản ngã, hoài nghi lại chính trạng thái sinh tồn của mình bởi nó, ngay từ khi ra đời, đã luôn đứng trước nguy cơ bị cắt gọt và khuôn đúc để trở thành một sản phẩm xã hội chuẩn mực: “văn hóa cắt rời chúng ta khỏi những cội rễ tự nhiên của mình thay vì góp phần hướng đến dung dưỡng chúng ta trong tư cách là những tồn tại tự nhiên”. Theo cách đó, văn hóa “khiến chúng ta trở nên xa lạ với nhau trong tư cách là những tồn tại sống, không những thế, khiến chúng ta trở nên càng lúc càng xa lạ với chính mình” (Irigaray 101). Con người xã hội, từ đó, không là gì khác ngoài những tồn tại vong cội, thiếu sót, bị chia cắt khỏi phần tồn tại bản nguyên được định danh là “phần tự nhiên không được giáo dưỡng” (uneducated nature) vốn vận hành theo những luật tắc trừu tượng và tùy tiện của sự sống tự nhiên. Bị đứt lìa khỏi cội rễ ấy, như một đứa trẻ bị cắt lìa dây rốn khi vừa chào đời, chúng ta loay hoay tìm một cách thức “phi-tự nhiên” để gắn kết với kẻ khác và với thế giới thông qua việc học để làm chủ các mã văn hóa thay vì “bắt đầu từ những xung lực căn rễ, những hấp lực hay những đồng cảm hướng đến tôn trọng sự sống của chính mình, của môi trường mình sống, cũng như của các tồn tại sống khác” (Irigaray 101). Cứ thế, theo thời gian, năng lượng sống của chúng ta “bị tê liệt và hư hỏng nặng”, và thế chỗ cho nó là thứ “lực cơ học” máy móc, cứng nhắc, không còn tìm được sự chia sẻ hài hòa nào với năng lượng vũ trụ và năng lượng của những sự sống khác. Ngược lại, “nó bành trướng và lợi dụng những nguồn lực vật chất hay tinh thần, rồi kết thúc bằng việc phá vỡ sự hài hòa toàn diện của thân thể, của thế giới tự nhiên, của cộng đồng sinh thể sống, hay hành động một cách bạo lực chống lại, ngay cả khi có ý chăm sóc bảo vệ những đời sống ấy”. Tất cả những gì con người đã làm chỉ là “chinh phục thế giới tự nhiên ở bên trong cũng như bên ngoài mình”. Đó là nguyên nhân khiến cho ngay cả khi cố gắng kiếm tìm sự sống, chúng ta thực chất vẫn đang “không ngừng khuất phục sự sống ấy theo hoạch định và sự chế tác của mình thay vì để cho nó được tồn tại, tăng trưởng và sinh sôi theo cách của riêng nó. Chúng ta không dễ dàng từ bỏ vai trò của Đấng sáng tạo, ngay cả trong những kì vọng sinh thái gần đây, bởi chúng ta không bắt đầu từ chính mình như một tồn tại sống” (Irigaray 102).

Với Người ăn chay2, Han Kang đã trực tiếp đặt vấn đề về sự hủy hoại và tự hủy hoại này từ chính những gì con người tiêu thụ thực phẩm và lựa chọn thức ăn. Những phản ứng kinh sợ thân thể nhất của nhân vật nữ trước các thực phẩm thịt cũng như việc ăn thịt mà với kẻ khác là nghiễm nhiên khiến tác phẩm như một sự phơi bày, một nỗi hãi hùng nhạy bén khi thức nhận thứ bạo lực được ‘bình thường hóa’ trong đời sống. Tất cả phơi bày hiện trạng được Simon Estok định danh là “sự đứt gãy giữa những gì chúng ta ăn và môi trường”3.

2. Kết nối căn tính động vật: sự thức tỉnh về một thân thể chịu bạo lực 

Ngay từ những trang viết mở đầu, Han Kang đã phô diễn một lựa chọn nam giới - anh chồng - chủ động lựa chọn một kẻ phi cá tính. Nhân vật nữ chính (người vợ) - kẻ được lựa chọn - hiện lên như một kẻ tật nguyền thiếu sót với một thân thể phi sức sống hay bị cắt gọt và tách rời khỏi nguồn sống nguyên thủy: “chiều cao vừa phải, đầu cắt vuông không ngắn cũng không dài, nước da vàng nhợt đôi chỗ bị khô, gò má hơi nhô ra trên đôi mắt một mí, kiểu ăn mặc không chút màu mè như thể sợ bị coi là người có cá tính… cô tiến gần đến bàn tôi ngồi đợi với nhịp bước không nhanh không chậm, không mạnh mẽ quá mà cũng không nhẹ nhàng quá”, đến cả “bộ ngực gần như không có gì”. Thân thể cô được trình hiện trọn vẹn như một sản phẩm hứng chịu bạo lực - một thứ bạo lực khuôn đúc mọi thứ vào khuôn khổ của cái “bình thường”, kháng cự lại mọi dòng mạch khó nắm bắt và đôi khi khó kiểm soát của xung lực tự nhiên. Nói cách khác, từ sự miêu tả rất bình thường ấy, Han Kang như không muốn tiếp tục che đậy tình trạng phi sự sống của một thân thể bị xã hội kiến tạo. Hay, mượn nhận xét của Pierre Bourdieu, thân thể lúc này trở thành “khuôn đúc của những khái niệm phổ biến, phải chịu một sự kiến tạo của xã hội”, trở thành một tồn tại bị cắt lìa khỏi chính nó, bị bóp méo, biến dạng, một thứ thân thể bị quy phục.4

Ở bên cạnh một thân thể nữ đã “hội nhập sự thống trị” một cách cam chịu và ngoan ngoãn như thế gần như là cách để người đàn ông né tránh cho mình khỏi mọi áp lực của “đặc quyền nam giới”: “Nếu như phụ nữ, vốn phải chịu đựng một công cuộc xã hội hóa nhằm giảm giá trị của họ, phủ định họ, thường học tập những đức tính tiêu cực của sự hi sinh, sự nhẫn nhục, và sự thinh lặng, thì đàn ông cũng là tù binh, và là nạn nhân một cách âm hiểm, của hình dung thống trị” (Bourdieu). Người chồng gần như là một kẻ thất bại hoàn toàn trong nỗ lực vươn tới chuẩn mực nam tính thống trị (bụng dưới bắt đầu có từ khi ngoài hai mươi tuổi, bắp tay bắp chân gầy nhẵng chẳng có tí cơ bắp dù đã cố tập tành, cái “của quý” bé tí từng là nguyên nhân của nỗi tự ti…). Nếu như “đặc quyền nam giới cũng là một cái bẫy và đặc quyền này tìm thấy phức bản đối chiếu của nó ở trạng thái căng thẳng và gắng sức thường trực, đôi khi bị đẩy lên đến phi lí” (Bourdieu) thì việc tự so sánh với hình ảnh của “đám đàn ông trong catalogue thời trang” phơi bày cách một hình dung tưởng tượng, một huyền thoại nam tính được kiến tạo và áp đặt, trở thành sức ép với mọi người đàn ông trên các thang bậc xã hội. Bởi vậy, để hòa nhập vào xã hội, sau những nỗ lực vươn tới một huyền thoại chuẩn mẫu về thân thể, là việc chấp nhận thân thể và từ đó tìm cách xếp đặt thân thể ấy vào những vị trí xã hội phù hợp với nó, tìm kiếm những không gian xã hội mà thân thể ấy vừa vặn và có khả năng thích nghi. Bạo lực, theo đó, là thứ được chịu đựng và thích nghi thay vì kháng cự. Điều ấy khiến trưởng thành giống như một quá trình kiếm tìm những vị trí thích hợp trong sơ đồ xã hội, tự đặt mình vào một sự vận hành cơ học hóa thay vì lắng nghe những ham muốn bản năng của thân thể: anh chồng khi nhỏ thì cầm đầu đám trẻ con bé hơn mình hai ba tuổi - lớn thì đăng kí vào trường đại học có học bổng kha khá - rồi vào làm ở một công ti nhỏ nhỏ biết quý cái năng lực vừa phải của mình - và thỏa mãn với mức lương bình bình nhận đều đặn hàng tháng.

Tồn tại xã hội, do vậy, là chấp nhận và duy trì một trạng thái “bình thường” để đảm bảo sự vận hành của bộ máy xã hội ấy. Trạng thái hiện tồn ấy đem đến một sự dễ chịu bởi nó vừa thừa nhận những chuẩn mực và sự phân cấp vừa học cách định vị để tồn tại vừa vặn bên trong nó. Người ăn chay phơi bày nghịch lí ngay từ những gì nhỏ nhặt nhất: danh dự nam giới có nguy cơ bị tổn tại khi người vợ không chịu mặc áo lót: “thà rằng cô ấy mặc áo ngực dầy lên thì tôi có cái mà sĩ diện với bạn bè”. Thân thể nữ, như thế, không ngừng bị ngụy tạo, bị sử dụng, bị coi như một thứ vật chất được lợi dụng để khẳng định năng lực chiếm đoạt và đem lại danh dự cho người đàn ông. Cô gái trong truyện có thể không có tiếng nói nhưng thân thể của cô không câm tiếng. Cô “khó chịu khi mặc vào vì nó cứ thít lấy bộ ngực của cô”. Cô tháo bỏ áo ngực như muốn cởi bỏ sự bó buộc nguồn sống. Thế mà riêng điều này thôi đã là đi ra ngoài địa hạt của cái bình thường.

Tóm lại, ham muốn và bản năng của chủ thể dục tình (sexuate subjects) gần như bị lãng quên tuyệt đối để đánh đổi lấy sự bình thường: “mọi thứ đều bình thường… Năm nay là năm thứ năm kể từ khi chúng tôi kết hôn, ngay từ đầu tình yêu cũng không lấy làm cuồng nhiệt cho lắm nên đến giờ cũng không có gì đặc biệt nhàm chán”. Việc có thai như một việc làm được lên kế hoạch. Và trong mọi việc được lên kế hoạch mang tính vĩnh viễn như thế, cách hành xử của người vợ đột ngột chệch khỏi đường ray: “Tôi cũng không thể tưởng tượng được rằng có một ngày cuộc sống vợ chồng của chúng tôi lại thay đổi”.

Việc cô khước từ ăn thịt bắt đầu từ những ám ảnh vô thức. Những cơn mơ đột ngột, sự mất ngủ trong sợ hãi, nhìn chằm chằm vào cái tủ lạnh 400 lít màu trắng đục mà không hiểu vì sao, muốn nằm nằm co quắp như một bào thai,… tất cả bắt nguồn từ sự khủng hoảng trong việc “nhận thức lại” chính những gì cô và chồng vẫn ăn hàng ngày - “những túi nilon trắng, đen và cả những hộp kín bằng nhựa để đầy trên sàn nhà đến nỗi không còn chỗ len chân. Thịt bò để nấu lẩu, thịt lợn ba chỉ, hai đôi xương chân bò to đùng, những con mực trong túi nilon, những cái bánh bao nhân thịt”, rồi: “thịt bò, thịt lợn, thịt gà chặt thành miếng”,… Sự ngụy tạo của văn hóa tiềm ẩn trong ngay từ những cách gọi tên, những cách đóng bọc - ngôn ngữ cũng chẳng khác gì túi nilon hay như lớp vỏ bánh bao bọc bên ngoài những phiến/miếng thịt. Không thể chối cãi, đó chỉ là một cách che giấu sự thật, một cách đánh tráo khái niệm, một cách “thực phẩm hóa” mọi thứ trước đó đã từng là những con vật sống. Nhưng nếu như ý thức cố tìm cách giấu giếm đi những sự thật tàn sát thì vô thức nhắc nhở cô. Căn nguyên tiên khởi dẫn tới hành động của cô là những giấc mơ - một sự trỗi dậy của vô thức, dẫn đến một nhận thức đánh động vào da thịt, một sự đồng cảm từ-dưới-lên.

Song song với việc loại trừ thịt ra khỏi lựa chọn thực phẩm là việc cô dần dần phá vỡ việc duy trì hình ảnh một người vợ lí tưởng theo tiêu chuẩn “bình thường”: không giặt áo, không chuẩn bị đồ đạc cho chồng, cũng không tiễn chân chồng đi làm (lần đầu tiên kể từ năm năm sau ngày cưới). Sự bất bình thường khiến người chồng sợ hãi. Tỉnh dậy giữa đêm, cô như một miếng thịt đông lạnh câm tiếng được bao bọc trong túi nilon được nhét trong tủ - “không nhúc nhích”, “khuôn mặt chìm trong bóng tối nhưng có cái gì đó rất ghê rợn”, là người sợ lạnh nhưng lần này chấp nhận cái lạnh (chân không, áo ngủ mỏng mặc mùa xuân thu), “đứng đờ ra như tượng đá”,… Trong cô như đang diễn ra “sự trở thành người khác” (becoming other) với minh chứng đầu tiên là trở thành dạng thức tồn tại khiến mình bị ám ảnh - một tảng thịt động vật đông lạnh - một thứ cũng bị cắt rời khỏi chỉnh thể sống vốn có của nó, khỏi nguồn sống gốc rễ của nó và được cố giữ cho tươi (hay đúng hơn là được bảo quản để có thể giữ được giá trị sử dụng). Thức nhận này giống như một sự thức tỉnh lại hiện trạng sinh tồn của bản thể, nhận thức lại sự vô tri giác và cứng đờ của bản ngã thì hiện tại, nhưng đồng thời lại là sản phẩm của một quá trình bạo lực diễn ra trước đó.

Trong giấc mơ, cô lạc vào một “nhà kho bỏ hoang” - một biến thể của lò sát sinh với “hàng trăm tảng thịt to đùng, đỏ ối treo trên những thanh gậy to dài. Có những tảng thịt còn chưa kịp khô, tiết đỏ vẫn chảy xuống ròng ròng… Chiếc áo trắng đang mặc đã bị dính máu đỏ tươi”. Lúc này, những tảng thịt không còn là những vật vô tri, mà hiện nguyên hình là những thân thể chịu bạo lực. Sự xuất hiện của máu và thịt - nhắc nhở rằng những miếng thịt trong tủ lạnh kia từng thuộc về một thân thể, từng sở hữu một “gương mặt”, từng bị trải qua một quá trình tàn bạo tước đoạt sự sống, và từng đau đớn. Con vật được trả về đúng xác thịt ban đầu của nó: máu, xương và thịt. Và nhìn từ khía cạnh này, chúng không còn là ‘kẻ khác xa lạ’ với chúng ta. Han Kang đề xuất một sự tương đồng vừa theo nghĩa đen vừa theo nghĩa biểu tượng: thân thể người thực chất chỉ là một thứ bị xã hội và những định kiến ăn sâu cắt gọt, bị tước đoạt sự sống và nguồn sống. Chiếc áo trắng tưởng như có thể là cách để con người cố che đậy đi thân xác da thịt, cách để con người tìm kiếm một sự phân biệt hẳn với những tồn tại động vật phi nhân, và cũng là cách để con người tự đặt mình vào vị trí vô can, không nhuốm tội lỗi; giờ đây nhuốm máu. Con người không né tránh được tồn tại thực sự của mình, cũng không thể chối bỏ được tội lỗi mình gây ra cho những con vật và của chính mình, cũng như của những người khác - con người không vô can với tự nhiên, cũng không vô can với chính mình.

Phản ứng khước từ của cô trọn vẹn từ không ngủ, không muốn ăn, đến từ chối quan hệ tình dục. Câu trả lời của cô với chồng mình là vì ‘Mùi’ - ‘Mùi thịt bốc ra từ người anh’. Không gì khác, đó là một ý thức về thể xác: con người không thể né tránh việc mình mang thể xác của động vật. Nếu như câu trả lời của người chồng “Anh vừa tắm xong. Mùi thịt ở đâu ra” giống như một sự đứt gãy, khăng khăng khẳng định ‘mùi thịt’ là một cái gì đó ở bên ngoài mình, không thuộc về mình; thì ngược lại, cô vợ khẳng định đó là mùi từ-bên-trong, một thứ mùi có thể được coi là bằng chứng cho bản chất động vật của con người. Nó tỏa ra từ “từng lỗ chân lông” mà không ai có thể che giấu. Sự nhạy cảm khiến cô bị lệch ra khỏi khuôn khổ xã hội mà cô buộc phải và vốn vẫn cố gắng vừa vặn: “Mỗi khi thấy vợ lo lắng chuyện không hay, tôi lại nghĩ, bố mẹ vợ làm xưởng mộc và có cửa hàng ở một thành phố nhỏ, vợ chồng chị gái và em trai đều là người tốt như thế, còn cô ấy thì không hợp tí nào với một gia đình như thế cả”. Việc từ bỏ ăn thịt không chỉ đặt cô ra bên ngoài những bữa ăn, nó khiến cô lệch khỏi những bình thường được nâng lên làm chuẩn mà tất cả mọi người trong gia đình dường như đều đáp ứng được. Ăn thịt cũng bằng với mở được xưởng mộc, cũng bằng với quản lý một cửa hàng, cũng bằng với làm người tốt. Có một logic ngầm kết nối những gì không liên quan ấy lại với nhau - logic của cái bình thường, logic của sự hài lòng với khả năng đạt được độ trung bình trong mọi thứ, một mức sống trung lưu “bình thường nhất” để tồn tại và vận hành tốt nhất có thể, không va chạm, không gây khó chịu.

Một gia đình ‘bình thường nhất’ được xác quyết thông qua việc ăn uống: “Nghĩ đến người nhà cô ấy, tự nhiên mùi tỏi nướng và khói ngào ngạt hiện ra trong đầu tôi. Những chén soju nâng lên đặt xuống, mỡ thịt cháy bốc lên, đám phụ nữ nói chuyện ríu rít trong bếp… mẹ vợ biết làm gỏi cá sống, ông anh đồng hao và vợ là những người có thể chặt một con gà thành những miếng vuông vức bằng dao chuyên dùng ở cửa hàng thịt. Tôi cũng từng thích sự mạnh mẽ của vợ khi thấy cô ấy có thể lấy bàn tay đập mấy con gián một lúc. Chẳng phải cô ấy là người đàn bà bình thường nhất thế gian mà tôi đã chọn đấy sao…”. Những mô tả này có khác gì một chuẩn mực bình yên hạnh phúc gắn với những bữa ăn gia đình vẫn thường được ca ngợi?

Dù vậy, Han Kang dám để cho nhân vật của mình kháng cự lại, để cho nó dám đơn độc tra vấn về bản chất ngụy tạo của văn hóa, về trật tự nhân loại/ phi nhân vốn được đặt trong tổng thể cái trật tự được gán cho là “tự nhiên” và “vĩnh viễn” của sự vật vẫn không ngừng “xã hội hóa cái mang tính sinh học và sinh học hóa cái mang tính xã hội” để ban cho con người những đặc quyền phi lý (Pierre Bourdieu).

ĐẶNG THỊ THÁI HÀ
 (TCSH350/04-2018)

_______________

1. Luce Irigaray, Starting from Ourselves as Living Being, Journal of the British Society for Phenomenology, 46:2, 2015, 101-108.
2. Người ăn chay, Han Kang (Giải thưởng Man Booker International 2016), Nxb. Trẻ, 2011.
3. Simon C. Estok, Theorizing the Disconnect Between What we Eat and the Environment, Literature and Environment, Vol 10., No 2., 2011.12 (241-257).
4. Pierre Bourdieu, Sự thống trị của nam giới, Nxb. Tri thức, 2010.  


TIN LIÊN QUAN:



Nhà văn Thùy Dương: Trăn trở với mỗi thân phận Người

Nếu không biết Thùy Dương sinh ra và lớn lên ở Hải Dương, sẽ đoán   chắc nàng là người Hà Nội gốc. Gọi là nàng v ì nàng không chỉ xinh đẹp, ...