Thứ Năm, 20 tháng 6, 2019

Sáng tác của Ngọc Giao từ góc nhìn phê bình sinh thái

Văn học sinh thái được hình thành dựa trên cơ sở những biến đổi theo chiều hướng xấu đi của môi trường sinh thái. Các nguy cơ sinh thái của con người không chỉ là thảm họa thiên nhiên, ô nhiễm môi trường nước, không khí, tiếng ồn, thức ăn...; mà cả những điều kiện bất lợi cho đời sống tinh thần. Khảo cứu văn học Việt Nam hiện đại, chúng tôi nhận thấy, ngay từ đầu thế kỷ XX, những tiếng kêu cứu cho con người đã khẩn thiết cất lên xuất phát từ những nhìn nhận sâu sắc về bản chất con người và các nguy cơ sinh thái đe dọa sự sống của họ. Ngọc Giao là một trong số đó.
      Nhà văn Ngọc Giao

Trong bối cảnh các thảm họa môi trường diễn ra ngày một dày đặc hơn, sự sống tự nhiên bị tàn phá dẫn tới nhiều biến đối khí hậu, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự sống của con người như hiện nay, việc “phát động” một cuộc “ra quân” nghiên cứu văn học từ lý thuyết sinh thái là một sự “phản ứng” kịp thời và có ý nghĩa thiết thực. Ở lĩnh vực sáng tác, vấn đề sinh thái không phải đến bây giờ mới được đặt ra. Từ trong cảm thức, nhiều nhà văn Việt Nam, trong những bối cảnh sinh thái nhất định, đã ít nhiều lên tiếng về điều này. Do vậy, việc dùng quan điểm của phê bình sinh thái để nghiên cứu một số tác giả, tác phẩm văn học Việt Nam cũng là có cơ sở. Trong phạm vi quan sát của mình, chúng tôi chọn nói về Ngọc Giao – nhà văn có một hành trình sáng tác bền bỉ, khỏe khoắn, trải dài gần hết thế kỷ XX với nhiều băn khoăn về môi trường sinh thái của con người.

Trước hết, phải nói ngay rằng, những sáng tác của Ngọc Giao mà chúng tôi nói đến ở đây phần lớn xuất hiện từ khi nhân loại còn chưa bước vào thời đại văn học sinh thái. Bởi vậy, sẽ thật khiên cưỡng nếu vận dụng lý thuyết mới mẻ này vào nghiên cứu các tác phẩm của ông. Trên tinh thần của phê bình sinh thái, chúng tôi chỉ xin nêu một vài luận điểm xung quanh vấn đề sinh thái và lấy đó làm định hướng để nghiên cứu trường hợp này.

Môi trường sinh thái được hiểu là môi trường mà ở đó các sinh vật được sống như là chính nó. Giản dị nhất để có thể hình dung, là cách nói của nhà thơ Tố Hữu: “Con ong làm mật, yêu hoa/ Con cá bơi, yêu nước; con chim ca, yêu trời” (Tiếng ru). Từ cách hiểu này, có thể thấy, trong vũ trụ, con người là sinh vật phức tạp nhất. Ngoài đời sống tự nhiên, con người còn có phần đời sống xã hội, đời sống tâm linh vô cùng phức tạp, phong phú. Bởi vậy, môi trường sinh thái để con người sống cho ra con người không chỉ bao gồm những điều kiện tự nhiên, mà còn cả các điều kiện xã hội, văn hóa, tinh thần.

Văn học sinh thái được hình thành dựa trên cơ sở những biến đổi theo chiều hướng xấu đi của môi trường sinh thái. Các nguy cơ sinh thái của con người không chỉ là thảm họa thiên nhiên, ô nhiễm môi trường nước, không khí, tiếng ồn, thức ăn...; mà cả những điều kiện bất lợi cho đời sống tinh thần. Từ hình dung này, có thể thấy, có vô vàn nguy cơ sinh thái tinh thần khác trong sự sống của con người, chẳng hạn: sự thay đổi môi trường sống, chiến tranh, ly tán, mất người thân, bị hắt hủi/ngược đãi, bị đọa đày, bị xúc phạm nhân phẩm, bị ép buộc, cấm đoán... Tuy vậy, lâu nay, những nguy cơ về sinh thái tự nhiên vẫn được quan tâm hơn, được xem như là yếu tố quan trọng nhất, có những ảnh hưởng mang tính chất quyết định đối với sự sống của con người. Có lẽ vì thế mà thời đại văn học sinh thái của nhân loại mãi đến nửa sau thế kỷ XX mới chính thức hình thành[1]. Nhưng rõ ràng, từ nhiều thế kỷ trước, nhiều nhà tư tưởng, nhà văn đã thức tỉnh điều này. Khảo cứu văn học Việt Nam hiện đại, chúng tôi nhận thấy, ngay từ đầu thế kỷ XX, những tiếng kêu cứu cho con người đã khẩn thiết cất lên xuất phát từ những nhìn nhận sâu sắc về bản chất con người và các nguy cơ sinh thái đe dọa sự sống của họ. Ngọc Giao là một trong số đó.

Ngọc Giao sinh năm 1911, mất năm 1997, thuộc trong số những nhà văn hiện đại được Vũ Ngọc Phan giới thiệu trong công trình nổi tiếng xuất bản lần đầu năm 1944: Nhà văn hiện đại. Khởi nghiệp từ chức thư ký tòa soạn báo Tiểu thuyết thứ bảy, Ngọc Giao được biết đến đầu tiên là nhà văn của những truyện ngắn đậm chất trữ tình. Hơn ba trăm truyện ngắn của Ngọc Giao, phần lớn ra đời trước cách mạng tháng Tám, đã được in trong ba tập truyện nổi tiếng là Một đêm vui (1937), Phấn hương (1939) và Cô gái làng Sơn Hạ (1942). Truyện ngắn của Ngọc Giao thường được cấu trúc như là những tiếng nói của cái tôi trữ tình giàu lòng trắc ẩn. Ông tỏ ra không quan tâm đến cốt truyện. Bởi vậy, cốt truyện thường lỏng lẻo, mờ nhạt, khó xâu chuỗi. Dấu ấn tình cảm, cảm xúc và trạng thái tinh thần của người kể chuyện thường đậm hơn, chiếm phần nhiều hơn so với các biến cố, sự kiện. Quan tâm đến lớp người dưới đáy xã hội, những người không may mắn/chịu nhiều thiệt thòi, bị ruồng rẫy/bỏ rơi, Ngọc Giao đã viết về họ bằng tất cả tình cảm của một nhà văn hiểu sâu sắc thế nào là giá trị con người. Do vậy, truyện của Ngọc Giao có thể không ngay lập tức tạo ra ở người đọc những trạng thái cảm xúc dữ dội, bất ngờ, nhưng mỗi câu chuyện đều để lại một dư vị sâu lắng, da diết. Các tiểu thuyết của Ngọc Giao như Nhà quê (1944), Quán gió (1948), Đất (1950), Xã Bèo(?), Cầu sương (1953), Xóm Rá (1957)... đã cho thấy sự đa dạng về đề tài. Không chỉ thể hiện nỗ lực của nhà văn trong việc chiếm lĩnh một thể loại mới và khó là tiểu thuyết, các sáng tác này của Ngọc Giao còn thể hiện những góc nhìn rất mới về hiện thực và con người.
Qua sáng tác của Ngọc Giao, nhất là hai tiểu thuyết Nhà quê và Đất, dù chưa thấy ông nhắc đến hai chữ “sinh thái”, người đọc vẫn nhận thấy một cảm thức sinh thái hiện ra thật rõ. Với tinh thần đọc lại người xưa để tìm ra những ý nghĩa sinh thái từng bị che lấp, từ góc độ phê bình sinh thái, chúng tôi nhận thấy mấy luận điểm cơ bản trong sáng tác của Ngọc Giao như sau:

1. Không gian thôn quê là một không gian đáng sống

Nhà quê là tiểu thuyết đầu tay, thể hiện sự nỗ lực vượt lên chính mình sau nhiều truyện ngắn đã được người đọc ít nhiều biết đến của Ngọc Giao. Tác phẩm được viết theo cách không trực tiếp tác động vào thị hiếu thiên về giải trí của phần đông độc giả là thị dân đầu thế kỷ XX. Nó là cuốn tiểu thuyết chọn người đọc. Vào thời điểm ấy, phải là người đọc có năng lực thẩm mỹ và tình yêu văn chương nhất định, hay nói như cách của Thạch Lam, phải là “hạng độc giả thích suy nghĩ, thích tìm trong sách những trạng thái tâm lí giống tâm hồn mình”, mới tìm đọc tác phẩm này. Điều dễ nhận thấy trong Nhà quê là Ngọc Giao đã miêu tả thiên nhiên như một phần rất quan trọng trong cuộc sống của con người. Thái – nhân vật chính của tiểu thuyết – rất lâu rồi mới trở về quê, định dứt khoát bán nốt phần đất đai còn lại của gia đình rồi sẽ ra ngay Hà Nội. Nhưng không gian thôn quê, nhất là ngôi nhà nhiều cảnh vật quen thuộc, đã khơi dậy trong lòng Thái những kỷ niệm cũ gắn liền với tuổi thơ và những người yêu dấu, đặc biệt là người mẹ.

Đầu tiên là “Chiếc cổng gạch rêu phong cũ kỹ anh vừa qua đã sụt nửa mái trông rõ cả một mảnh trời và một bên tường nứt vỡ chờ ụp hẳn. Thái thấy nao nao trong tâm trạng của kẻ đã lâu ngày xa bỏ đất cát cha ông để rồi có một buổi trở về[2]. Sự hoang tàn của “căn nhà xưa yêu dấu” tiếp tục lên tiếng khi Thái được ông già Bút – người quản gia già của gia đình – đưa vào buồng ngủ: “Mùi ẩm hôi hám của chân tường, gậm phản, bàn ghế cũ nát xông lên khó chịu. Ngả lưng xuống lá chiếu do ông Bút mới thay, Thái hoang mang nhớ xưa kia bà mẹ đã sinh anh ở gian phòng này, và ngày ốm, bà đã nằm, đã chết ở đây[3]. Cảnh ấy nhắc Thái về hơi ấm của người, về một bàn tay chăm sóc khi còn chưa quá muộn. Cùng với đó, bao nhiêu kỷ niệm gắn với những người thân yêu của gia đình đã lần lượt hiện ra. Là chiếc nồi đất chứa rau của mẹ khi sinh Thái đã tình cờ bị ông Bút cuốc phải. Lời nhắc nhở của người quản gia khiến Thái bùi ngùi, khổ sở: “Anh nhặt những mảnh nồi đất vụn cầm lên mâm mê và ngửi. Mùi đất, mùi đất thơm. Thái tưởng như thịt máu cha mẹ, thịt máu mình, lại lẫn vào đó cả một thứ cỏ gì quý hiếm[4]. Là chiếc túi gấm đựng quân cờ của cha mà có lần hai mẹ con từ làng lên huyện, đi bộ mất nửa ngày trời chỉ có mỗi việc đưa ông thân chiếc túi ấy thôi. Là chiếc gối xứ tàu xưa kia cha Thái đã đặt mái tóc sương ngày lui về...

Thiên nhiên làng quê và cách sinh hoạt của người dân quê cũng đem đến cho Thái nhiều cảm giác thật dễ chịu. Khi là làn gió mát ở ao sau lùa vào song cửa, thoảng mùi hoa chanh. Khi là mùi hương đất khiến Thái có cảm tưởng hơi đất thơm chuyển vận mạch máu anh mạnh hơn. Khi là cây sung già “thân đã khô quặn lại, nhưng quả lớp này tiếp theo lớp khác vẫn còn xanh mọng và lớp lá dầy tươi tốt đang reo rào rào trên đầu Thái[5]. Khi là chậu nước mưa trong vắt, mát rượi làm dịu vầng trán nóng. Rồi chiếc lược chải tóc bằng gỗ của Dậu, bữa cơm gạo đỏ với canh mướp nấu cua, sung muối, cháo khoai, bún đậu... Tất cả đều tạo nên ở Thái những cảm xúc mới mẻ, khác hoàn toàn với bát cơm gạo tám trắng như bông, những món thịt xào hạnh nhân, gà rán, canh nấm Chapa, bóng thủ, giò lụa; những đôi đũa bịt bạc, bát mẫu Giang Tây bày trên chiếc mâm đồng đánh bóng... của vợ Thái.

Nhưng điều làm cho Thái thực sự cảm động là sự nâng niu, trân quý, gìn giữ của ông Bút đối với những kỷ vật của gia đình: “Bức hoành phi nền gấm, những đôi câu đối vàng son nước sơn tuy đã cũ, nhưng nét chữ do ông thân Thái viết vẫn còn lưu giữ cái tài và cái tình của một ông chủ khoa lỗi lạc. Chiếc túi gấm đựng quân cờ của ông thân anh do tay bà mẹ anh khâu, ông Bút vẫn còn kính cẩn treo bên cái quang xách làm bằng trúc[6]. Ngay cả chiếc mâm vuông chân quỳ sơn non và chiếc lồng bàn thép cũ do mẹ Thái sắm ngày xưa vẫn được ông Bút giữ gìn, chưa hề hư hỏng.

Tất cả những điều này đã tạo nên một cảnh giới khác hoàn toàn với môi trường Thái vẫn sống lâu nay. Nó khiến Thái đi đến một quyết định gây bất ngờ cho ông Bút và cả vợ Thái là ở lại nhà: “Không những sửa chữa lại nhà cửa, tôi còn chung sức với ông bón xới những miếng đất còn bỏ không kia để trồng các thứ rau[7]. Bằng quyết định này, Thái đã tự điều chỉnh lại vị thế của bản thân. Nước da với những đường gân xanh nổi rõ dần chuyển sang màu dám nắng khỏe khoắn. Trong mắt ông Bút, Thái không còn là một cậu chủ bội bạc và vô dụng, “chỉ về để phá hoại mảnh đất này”, mà trở thành người kế thừa và tiếp tục tạo dựng gia tài cha mẹ để lại. Vợ Thái và ba đứa con trai ở thành phố cũng không còn giữ vị trí trung tâm của gia đình như trước đây, mà chỉ sau ít lâu đã phải chủ động về quê thăm Thái. Trong cuộc tìm lại chính mình của Thái, sinh thái thôn quê giữ vai trò quyết định.

Cũng ở môi trường nhà quê, Thái có điều kiện để nhìn nhận một cách bình đẳng về mọi người xung quanh. Thái thấy giữa vợ mình và những người quê như ông Bút, cô Dậu, có nhiều điểm khác biệt. Ông Bút sống ở nhà quê, hiền lành đến nỗi “với ai, ông cũng nhịn. Nhịn từ con chó đến đứa trẻ trong xóm, ngoài làng”. Thái thường thấy ông điềm đạm “dạ” khẽ hay “nín lặng” ngay cả khi vợ Thái đay nghiến những điều không đáng. Ông yêu đất đai, ruộng vườn bằng một tình yêu máu thịt. Ông đã đổ ra biết bao nhiêu công sức để từ đất, sự sống được sinh sôi: “Những ngọn cau sai buồng, những cây bưởi, cây cam trĩu quả... cả một khu trại lá xanh reo sự sống. Chính ông đã gây sự sống cho cây cối, chính ông đã gây màu cho đất cát. Chính ông từ ba mươi nhăm năm nay đã trần lực ra khai nhát cuốc đầu tiên, biến một khu đất cỏ đầy ra một mảnh đất phì nhiêu, cây cối tốt tươi như ngày nay[8]. Dậu – con gái ông Bút – vừa hồn nhiên, tươi trẻ, như cái cây tràn đầy nhựa sống; vừa ý tứ, tế nhị. Tuy chênh lệch về tuổi tác, trình độ, địa vị, nhưng giữa Thái và Dậu có sự đồng điệu trong tâm hồn, cùng hướng đến và trân trọng những giá trị đích thực của đời sống, những điều chỉ có thể hiểu và cảm nhận bằng tâm hồn trong sáng, tình nghĩa, vượt lên trên những giá trị vật chất tầm thường. Trong khi đó, Nghĩa – vợ Thái – luôn sẵn lời mắng mỏ, miệt thị, khinh khi. Đức thực thà, nhẫn nhịn, trung thành của ông Bút, Nghĩa không biết đến. Trong mắt Nghĩa, Dậu chỉ là một đứa đầy tớ, hay con của một kẻ đày tớ mà thôi. Đối với Nghĩa, việc hưởng thụ những vật chất đủ đầy và sang trọng là lạc thú lớn nhất của cuộc đời. Thái biết rõ căn nguyên của nó: “Người đàn bà ấy xuất thân ở một gia đình cổ, cha ông khởi nghiệp bằng hai bàn tay trắng trong nghề buôn bán. Cô gái, bé bắt đầu lẫy, bò, rồi ngồi, rồi đi trên đống bạc; nhớn, đi học qua quít vài ba năm cho đến hăm hai tuổi lấy chồng, cô gái con buôn suốt ngày chỉ nghe đến chuyện thêm cân bớt lạng, thề gian hứa dối; suốt tháng chỉ nhìn những cái hạng người, hạng vật thuộc về sự lờ lãi, thiệt hơn, thì làm gì còn có tình cảm tế nhị, làm gì còn có lòng nhân hậu, nhân ái nữa.”[9]. Với “người đàn bà của số kiếp” ấy, cuộc sống của Thái là một chuỗi những tháng ngày u tối, quằn quại, cách biệt... Vậy nên, việc quyết định ở lại nhà, ngoài mục đích giữ gìn di sản cha mẹ để lại, Thái còn muốn được trở về sống là chính mình, trong cái bầu khí quyển mà Thái đã từng sống (một gia đình mà ông bố làm quan nhưng nhà vẫn túng nghèo, bà mẹ vợ quan mà không bao giờ nghĩ đến sự hưởng thụ cuộc đời trưởng giả, không hề sống một ngày ở huyện với chồng), để không phải “hằn học sống, điên cuồng sống” trong sự bất công, ích kỷ và thói trưởng giả kiêu bạc. Cuối cùng, chính trong cảnh giới làng quê, sau khi đã cảm nhận thật sâu những vẻ đẹp nguyên sơ, trong trẻo cùng những uẩn ức, nỗi u buồn của nó, Thái với tư cách một trí thức, đã cân bằng được mối quan hệ giữa mình với thế giới, đã tìm thấy được sức mạnh tư tưởng của mình: “Thái nghĩ đến một quyển sách, ước ao có ngày viết được. Cuốn sách sẽ không là váng nước, bọt mưa lâu nay Thái thấy rất nhiều ở các thư quán. Cuốn sách phải là xương máu những cuộc đời[10].
Tương tự như gia cảnh hiện tại của Thái, Vĩnh – bạn thân Thái, có một “gia đình lộng lẫy” ở Hà Nội với một “ông bố chỉ khoái ngồi ngắm đôn Tàu, chóe cổ; mẹ thì chỉ thích xếp bằng tròn như đụn rạ trên sập gụ khảm để cho vay và khoe bằng cấp của anh con trai nhỏ, cơ nghiệp của anh con trai lớn; còn người chị thì tự nhiên rẫy chồng chê là đào mỏ để bây giờ về ngự xe nhà giúp bà mẹ đi thúc nợ, ngồi vắt vẻo ở sa lông để phê bình quần áo của lũ giai gái lượn qua trước cửa.”[11]. Nhưng cuộc sống đó không hề làm cho Vĩnh thấy hạnh phúc, trái lại, nhiều khi vì nó mà Vĩnh phát xấu hổ và phải trốn chạy. Trong mắt Vĩnh, cuộc đời Diễm – người bạn nghèo khổ về vật chất mà giàu có về tư tưởng, tâm hồn – mới là cuộc đời đáng sống: “Thằng Diễm như ốc bể trôi dạt trên bãi cát, bé nhỏ thế thôi, mà trong lòng nó chứa đựng cả sóng gió của biển”; “Nó mới đáng là một con người đúng nghĩa. Cơm rau áo vải, học lực cao, kiến thức rộng, từng trải lại nhiều. Nó sống như cây thông. Mình là lau, là sậy![12].

Khác với Thái và Vĩnh, cha Thái ngay từ khi còn ở chốn quan trường, đã nhận thấy nó chẳng có gì vui cả, “chẳng ra làm sao cả”. Gặp vợ con từ làng lên huyện thăm chồng, ông chỉ hỏi han và dặn dò: “Cái gốc mai bên tường hoa, bà nhớ dặn ông Bút bón tưới luôn mới được. Cái bụi trúc ao sau nữa, trận bão vừa rồi có bị hại không? Bụi trúc Nga my hiếm lắm đấy, tôi chỉ lo bờ ao lâu ngày sụt lở, hỏng mất thì đáng tiếc[13]. Còn mẹ Thái, trước đề nghị của chồng là để con ở lại với mình cho vui, bà trả lời: “Nên cho con nó ở làng, ông ạ. Cái sinh khí ở đây tôi nghe không thuận cho sự giáo huấn con trẻ”.

Có thể thấy, ngữ cảnh sinh thái trong tiểu thuyết này của Ngọc Giao chính là thời hiện đại, là bối cảnh đô thị hóa, tư sản hóa đầu thế kỷ XX, khi thực dân Pháp đã tiến hành khai thác thuộc địa. Lối sống tư sản với tinh thần hưởng thụ và chủ nghĩa tiêu dùng đã hình thành tại các đô thị lớn. Nhiều người đã nghe theo tiếng gọi của đời sống vật chất thường thấy nơi thành thị mà quên mất cuộc sống bình dị, mộc mạc, gần gũi với tự nhiên ở nhà quê. Trong môi trường đô thị, trở thành những kẻ nghiện hưởng thụ tầm thường, con người cũng mất luôn những căn tính sơ khởi của tâm hồn. Vợ Thái và những người như bà Vĩnh Thịnh, bà Tham Chương, bà Quảng Phát, cha mẹ Vĩnh... thuộc vào loại “con người không thể độ qua u nhã được nữa, con người mất đi sức mạnh cổ điển và siêu việt về tinh thần, con người chỉ là dã thú có cái đầu văn minh thục mạng trong thế giới tham vọng vật chất[14]. Trong ngữ cảnh ấy, Nhà quê có ý nghĩa phản tỉnh một xu thế nổi lên khá rõ đầu thế kỷ XX là tập trung về đô thị - nơi mà phần đông những người thất nghiệp, đói ăn cho rằng họ có thể dễ dàng kiếm sống và phần đông trí thức tiểu tư sản cho rằng họ sẽ có điều kiện để phát huy hết những năng lực nhân tính của mình. Như thế, tuy không trực diện bàn tới các vấn đề dễ nhận thấy của văn học sinh thái, nhưng tác phẩm của Ngọc Giao đã thể hiện một trí tuệ sinh thái, một tư duy sinh thái ở chiều sâu.

2. Chiến tranh không chỉ tàn phá sinh thái tự nhiên, mà còn hủy diệt cả sinh thái tinh thần của con người
Ngữ cảnh sinh thái trong tiểu thuyết Đất của Ngọc Giao lại là cuộc xâm lược lần thứ 2 của thực dân Pháp vào đất nước ta. Nhân vật trung tâm của tiểu thuyết là Xã Bèo – một người nông dân cần cù, lam lũ và yêu đất hơn cả sự sống của chính mình. Xã Bèo xuất thân nghèo túng, nhờ chăm chỉ và ra sức dành dụm, chắt bóp, lại thêm “được mồ được mả ra sao” mà mới có một năm trời trở lại đã tậu được vài sào ruộng tốt, mua được con trâu, ngâm bè tre và nay lại mới tậu được thêm mảnh vườn bương nữa. Nhưng niềm vui rửa nhục vì lời nguyền của Trương Dần năm nào chưa kịp hưởng, Xã Bèo đã nhìn thấy lửa chiến tranh cháy đến làng mình. Cảnh tượng ấy làm cho Xã Bèo vô cùng khiếp sợ, đau đớn. Ngay lập tức, Xã Bèo hình dung ra một tương lai của sự hủy diệt, tất cả mọi sinh mệnh rồi sẽ chết:

... “Anh ngao ngán thấy rằng binh lửa rồi sẽ tới, thui trụi, tàn phá hết, huống hồ là mấy chiếc măng non.”
Về đến cổng, con Mực chạy ra đón, anh đứng lại. Tự nhiên anh thấy thương con vật, bởi vì anh mang mang nghĩ đến cái chết chóc sẽ chẳng tha từ mạng con chó đến con người”.

Anh Xã không vào sân vội, đi tắt qua vườn sau nhà đến chuồng trâu. Anh lại đứng vững nhìn con vật thân yêu của mình, và lo sợ nghĩ đến một sớm mai người ta sẽ bắt nó đem đi mổ thịt hay nó sẽ ngã xuống vì một viên đạn trong những viên đạn vừa xuyên qua bao nhiêu mạng con người vô tội[15].
Xã Bèo lủi thủi dạo quanh vườn. Mấy luống rau cải tốt xanh trên mảnh đất xốp tươi, vợ chồng anh đã dầy công tưới bón thế mà chưa chắc kịp ăn. Những buồng chuối tiêu đang mẫm quả, anh vẫn để dành chưa chịu ngả. Mấy cây na, cam, hồng bì được chăm bón phân gio, năm nay bói quả, thế mà một sớm mai đây, những gót giày “khách lạ” sẽ đạp séo tan tành[16].

Có thể nhận thấy ở nhiều trang mở đầu tiểu thuyết một cảm xúc gần như là tột cùng của sự đau đớn. Nỗi đau của Xã Bèo không chỉ xuất phát từ niềm tiếc của hoài công vì thành quả lao động bao năm của mình, của gia đình bỗng chốc thành mây khói, mà còn từ cả niềm tiếc thương cho những sự sống đang xanh tươi mơm mởm bỗng tan tành, chết chóc. Trong lý thuyết phê bình sinh thái, thái độ đó gọi là “sự đối xử công bằng với tất cả các sinh mạng”, thuộc phạm trù “luân lí học tôn trọng sinh mạng”. Càng nâng niu, trân trọng sinh mạng, Xã Bèo càng đau đớn khi nguy cơ sự sống bị hủy diệt hiển hiện trước mắt. Rất nhiều từ ngữ đã được dùng để chỉ trạng thái đau đớn cùng cực đó của Xã Bèo: “khiếp hoảng”, “rùng mình”, “quặn đau”, “mặt nhợt nhạt, miệng há hốc”, “lảo đảo bước ra sân”... Sợ đến nỗi, Xã Bèo gần như không còn thiết sống: “Tôi chẳng còn thiết gì đời nữa. Tình cảnh này, không chết nay cũng chết mai thôi”. Niềm xót thương dành cho tất cả các sinh mạng ấy, cũng chính là tình yêu sự sống thiết tha của Xã Bèo. Cũng bởi tình cảm ấy mà ngay cả việc đi phá đường mỗi đêm, với Xã Bèo, cũng là một sự cực chẳng đã, khổ sở vô cùng.

Nhưng bấy nhiêu vẫn còn chưa đủ, lệnh tiêu thổ kháng chiến và di cư mới thực sự là cú trời giáng. Xã Bèo, Lý Còng và bao nhiêu người đàn ông ở làng Nguyệt Đức đã gần như điên dại khi phải tự tay phá dỡ, tiêu hủy những căn nhà từng được dựng nên bởi mồ hôi nước mắt của mình: “Xã Bèo khổ não kêu trong cuống họng nghẹn uất, tiếng kêu giời xoáy nghiến trong đầu óc đang bốc cháy, anh vùng đứng lên như điên dại: - Cho nó mất cả đi, thế là xong hết”, Lý Còng thét to: “- Này tôi đốt đây này, bà con làng nước ôi, tôi đốt nhà tôi đây này![17]... Theo đó là biết bao nhiêu nước mắt đã nhỏ xuống. Biết bao nhiêu thứ tiếng khóc của đàn ông, đàn bà, người già, trẻ nhỏ, khi nghẹn ngào, khi nức nở... đã cất lên: Chị Xã “khóc sưng cả mắt, khóc suốt đêm qua”, “bác Lý gái khóc rống lên như nhà có đám tang”, “Lý Còng ngồi thừ ra nhìn lửa cháy trên đất nhà mình, nước mắt ròng ròng rơi xuống má”...

Sự tàn phá, hủy diệt các sinh mệnh đã dẫn tới một sự phá vỡ nghiêm trọng môi trường sống của con người. Xã Bèo sau khi tiêu thổ đã dắt díu mẹ già, vợ ốm, con thơ đem theo bu gà, con trâu, ba bốn gánh gồng nồi niêu chăn chiếu, tìm nơi lánh nạn. Bước chân rời khỏi làng Nguyệt Đức, lòng chị Xã đầy lưu luyến: “Chị Xã một bước một ngừng. Cứ mỗi lần đổi vai gánh nặng, chị lại quay nhìn mấy ngọn cau vườn nhà chị nhô lên khỏi rậu tre làng phơ phất trong sương gió sớm[18]. Trong cuộc thiên di đầm đìa nước mắt, vợ chồng Xã Bèo đã chứng kiến một cảnh tượng loạn lạc, hoang tàn chưa từng thấy: “bốn bề cây đổ, nhà hoang, tường xiêu, mái rỡ”, “người chạy loạn từng toán một đi rải rác, áo tơi nón lá, trẻ già, thơ dại dắt díu như những đàn kiến chạy nước to”... Mặc cảm bơ vơ, lạc lõng, sợ sệt in hằn trên mỗi dấu chân đặt lên đất khác và vỡ oà thành tiếng khóc nhớ nhà, nhớ quê nức nở trong lòng: “anh muốn khóc lên, khóc rõ to cho vợi cái đau buồn tha hương đất khách lúc này”. Nhưng điều làm cho Xã Bèo khổ sở nhất là nỗi nhớ đất: “Ngày ngày đi đẵn củi rừng làm cái nghiệp chú tiều, tối về nằm co nhớ nhà, nhớ đất, - chao ôi đất! - đất là xương là máu của đời anh[19]. Không chỉ Xã Bèo nhớ đất, anh hình dung cả con trâu cũng thèm đất. Vợ con anh nữa, từ lâu đã bỏ luống cày, gốc mạ, hương lúa chín...

Hơn một năm trời ở miền rừng sâu núi thẳm, không chịu đựng nổi bệnh tật, đói khát, cộng thêm nỗi nhớ quê nhớ đất cồn cào, gia đình Xã Bèo lại dắt díu nhau hồi cư. Trở về làng khi Nguyệt Đức đã chuyển thành vùng tề, Xã Bèo đau xót chứng kiến cảnh hoang tàn đổ nát: “Ruộng đất của vợ chồng anh đã thành bờ bãi cho cỏ mọc tung hoành, lại ngổn ngang mồ mả[20]; rồi: “Bước chân qua cổng cái, Xã Bèo thấy lạnh người vì quang cảnh tiêu điều của xóm làng. Anh đứng sững nhìn bức tường nhà Hội Đồng lỗ chỗ nhiều vết đạn tròn như lỗ đáo[21]. Cuộc sống ở vùng tề vừa đói khát, thiếu thốn, vừa sợ hãi đến nghẹt thở vì súng đạn, bắt bớ, cướp bóc... khiến sự sống của con người thường xuyên bị đe dọa. Nhưng vì yêu đất, vì muốn gắn bó với đất, Xã Bèo cam chịu sống trong kìm kẹp. Cuối cùng thì con trâu – con vật mà Xã Bèo “sống vì nó, với nó, cũng như anh ham sống, cần sống với cha mẹ, vợ con” – cũng bị lính tề cướp mất, vợ chồng Xã Bèo đau đớn đến phát dại. Lại phải bỏ làng đi, nhưng không thể rời xa đất, Xã Bèo xót xa nhìn vợ thay trâu rỏ nước mắt vào lòng đất mà không khóc nổi, bởi không còn nước mắt.
Từ tiểu thuyết này có thể thấy, chiến tranh chính là một loại căn nguyên của thảm họa sinh thái. Chiến tranh không chỉ tàn phá sinh thái tự nhiên, mà còn hủy diệt nghiêm trọng sinh thái tinh thần của con người. Quá nhiều nước mắt của vợ chồng Xã Bèo đã rớt xuống. Nói cách khác, đọc tác phẩm, chỉ cần thống kê những tiếng khóc của Xã Bèo là đủ thấy chiến tranh đã đày đọa sự sống của người ta khủng khiếp thế nào. Xã Bèo thấm thía hơn ai hết nỗi thống khổ mà chiến tranh đã đưa tới. Bởi vậy, tác phẩm cảnh báo con người về một đạo đức sinh thái: Vì sự sống bình yên của các sinh mạng, hãy chấm dứt mọi sự hủy diệt, nhất là hủy diệt bằng bom đạn chiến tranh. 

Nhìn chung, hai cuốn tiểu thuyết của Ngọc Giao bàn đến hai ngữ cảnh và những nguy cơ sinh thái khác nhau, nhưng cả hai đều có chung một xuất phát điểm: coi trọng sự sống trong môi trường sinh thái đích thực của nó. Từ xuất phát đó, có thể nhận thấy hai khía cạnh cơ bản trong tinh thần sinh thái của Ngọc Giao là tôn trọng mọi sự sống và để cho mỗi sinh mạng được sống đời sống của chính mình. Không có chủ nghĩa nhân loại trung tâm trong cảm thức sinh thái của Ngọc Giao. Với những luận điểm cơ bản như vậy, từ góc nhìn văn hóa sinh thái, tác phẩm của Ngọc Giao có khả năng đánh thức nhân tính trong ứng xử với môi trường, bao gồm cả môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, nhất là trong bối cảnh tốc độ công nghiệp hóa, đô thị hóa vẫn chưa có dấu hiệu chậm lại và nhiều cuộc chiến tranh vẫn chưa có dấu hiệu chấm dứt như hiện nay.

LÊ TÚ ANH
 (Bài in trong Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế
Phê bình sinh thái: Tiếng nói bản địa, tiếng nói toàn cầu,
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2017)


TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.  Lê Tú Anh – Vũ Thị Thủy, Đóng góp của Ngọc Giao vào thành tựu truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930-1945, Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Hồng Đức, Số 16, 2013, tr.5-10.
2.  Ngọc Giao, Nhà quê, tiểu thuyết, Nxb Hà Nội (tái bản), Hà Nội, 2011.
3.  Ngọc Giao, Đất, tiểu thuyết, Nxb Cây thông, Hà Nội, 1950.
4.  Văn học sinh thái và lí luận phê bình sinh thái, Đỗ Văn Hiểu dịch từ cuốn Đương đại Tây phương tối tân văn luận giáo trình của Vương Nhạc Xuyên, Nxb Đại học Phúc Đán, Thượng Hải, 2008. Nguồn: http://www.dovanhieu.net/2015/08/van-hoc-sinh-thai-va-li-luan-phe-binh.html


[1] Các nhà nghiên cứu sinh thái cho rằng, tác phẩm Mùa xuân im lặng (1962) của nhà sinh vật hải dương học người Mỹ – R.Carson (1907-1964) là công trình mở đầu cho thời đại văn học sinh thái.
[2] Ngọc Giao, Nhà quê, tiểu thuyết, Nxb Hà Nội (tái bản), Hà Nội, 2011, tr.18.
[3] Ngọc Giao, Nhà quê, sđd, tr.21.
[4] Ngọc Giao, Nhà quê, sđd, tr.28.
[5] Ngọc Giao, Nhà quê, sđd, tr.31.
[6] Ngọc Giao, Nhà quê, sđd, tr.35.
[7] Ngọc Giao, Nhà quê, sđd, tr.40.
[8] Ngọc Giao, Nhà quê, sđd, tr.24-25.
[9] Ngọc Giao, Nhà quê, sđd, tr.54.
[10] Ngọc Giao, Nhà quê, sđd, tr.189.
[11] Ngọc Giao, Nhà quê, sđd, tr.70.
[12] Ngọc Giao, Nhà quê, sđd, tr.70.
[13] Ngọc Giao, Nhà quê, sđd, tr.36.
[14] Vương Nhạc Xuyên, Đương đại Tây phương tối tân văn luận giáo trình Nxb Đại học Phúc Đán, Thượng Hải, 2008. Dẫn theo Đỗ Văn Hiểu.
[15] Ngọc Giao, Đất, tiểu thuyết, Nxb Cây thông, Hà Nội, 1950, tr.13-14.
[16] Ngọc Giao, Đất, sđd, tr. 22-23.
[17] Ngọc Giao, Đất, sđd, tr.53-54.
[18] Ngọc Giao, Đất, sđd, tr.111.
[19] Ngọc Giao, Đất, sđd, tr.197.
[20] Ngọc Giao, Đất, sđd, tr.326.
[21] Ngọc Giao, Đất, sđd, tr.329.


TIN LIÊN QUAN:



Thứ Bảy, 15 tháng 6, 2019

Nhà thơ Huy Cận với quê hương, dòng tộc

Nhiều người thường nhớ, thường nhắc về một chàng Huy Cận khi xưa hay sầu lắm bởi tuyệt bút của Hoài Thanh - nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ. Ta ngẩn ngơ buồn trở về hồn ta cùng Huy Cận... Nhưng có lẽ ít người biết về một Danh nhân văn hóa Cù Huy Cận với mối quan hệ bền chặt, đầy nghĩa tình thủy chung cùng quê hương, dòng tộc, từ lúc sinh ra cho đến phút cuối đời...
Nhà thơ Huy Cận (thứ 2 từ phải sang) với các nhà thơ trẻ Sài Gòn: 
Trần Hữu Dũng, Phan Hoàng, Nguyễn Thái Dương ở Hà Nội năm 1994

1.
Huy Cận sinh ngày 31-5-1919 (cũng có tài liệu nói ông sinh ngày 22-1-1917) tại xã Ân Phú, thời đó thuộc huyện Hương Sơn, sau chuyển về Đức Thọ và nay là huyện Vụ Quang, Hà Tĩnh.

Ân Phú tuy chật hẹp (diện tích khoảng 9 km2, dân số hơn 2.000 người) nhưng sơn thủy hữu tình, giáp ranh giữa ba huyện Vũ Quang, Hương Sơn và Đức Thọ. Tên Ân Phú hiện cũng có nhiều cách giải thích khác nhau, nhưng nghĩa chung là giàu có, thịnh vượng - xuất hiện từ đầu thời Tự Đức (1847). Đây không chỉ là vùng đất hiếu học, giàu truyền thống văn hóa mà còn nổi tiếng yêu nước, cách mạng với nhiều người tham gia các phong trào Cần vương, yêu nước, có 59 liệt sĩ qua các cuộc kháng chiến. Hiện nay, Ân Phú đang là một điểm sáng về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; đã đạt chuẩn nông thôn mới từ khá sớm...

Cùng với họ Trần và họ Nguyễn, họ Cù là một trong ba dòng tộc đầu tiên có công khai ấp lập làng. Trong số 32 vị tiên hiền, hậu hiền được nhân dân thờ tự cho đến nay, có đến bảy vị họ Cù. Theo hồ sơ khoa học di tích lịch sử văn hóa Đền Vại, thì ngoài dòng tộc Cù Hoàng từ Quỳnh Lưu chuyển cư vào, họ Cù Huy tôn Binh bộ Thượng thư Cù Ngọc Xán là tiên Thủy tổ. Tuấn vũ hầu Cù Ngọc Xán được nhà Lê ban quốc tính, sau được phong tước Vương, thờ tại Đền Vại với mỹ danh Tượng Sơn Cao Liệt tôn thần. Ông là phu quân của bà Ngô Thị Ngọc Điệp, sinh khoảng đầu thế kỷ XV, con gái thứ 14 của Dụ Vương Ngô Từ, hậu duệ thứ 13 của Ngô Quyền; bà cũng là chị của Ngô Thị Ngọc Dao, mẹ vua Lê Thánh Tông. Bà Ngọc Điệp là Quận Quân Á tước, được phong thần là Lê Triều Hoàng hậu, mất ngày 13 tháng 2 âm lịch tại Trại Đầu - Ân Phú và trở thành người mẹ tinh thần của vùng đất này trong suốt 600 năm qua; riêng Triều Nguyễn đã có bảy sắc phong.

Như vậy là sự hợp duyên giữa hai dòng tộc Cù - Ngô của vị Thủy tổ đã mang lại cho làng xã, dòng họ một sức sống bền bỉ, một truyền thống văn hóa, yêu nước xuyên suốt năm thế kỷ. Và đến thế kỷ 20, không biết có lời “mách bảo” nào từ nguồn cội không mà hai thi sĩ chủ tướng của phong trào Thơ Mới, Cù Huy Cận - Ngô Xuân Diệu đã kết thân ngay từ buổi gặp gỡ đầu tiên trên đất Huế, tạo thành một Tình Bạn lớn hết sức đặc biệt trong lịch sử văn học Việt Nam.

Hỡi ai đó, có nhớ chàng Huy Cận
Gọi gió trăng mà thỏ thẻ với lời trên
Rất thương yêu, xin nhớ gọi giùm tên
Rất an ủi của bạn chàng: Xuân Diệu

(Thơ Huy Cận - Mai sau)

Chi nhánh họ Cù Huy có thủy tổ là Cù Thạch Khối đến Huy Cận là tám đời. Khoảng năm 1942, họ Cù Huy lại tách thành hai cánh. Huy Cận là con trai đầu của cụ Cù Trương, từng thi Hương trúng Tam trường, sau theo học Quốc ngữ, chữ Tây, hết cấp Tiểu học được bổ làm Hương sư ở Thanh Hóa một thời gian, sau về quê dạy học, cày ruộng. Mẹ là bà Bùi Thị Chi sinh trưởng trong một gia đình có nhiều người đỗ đạt ở làng dệt lụa Hạ nổi tiếng vùng Tùng Ảnh.

Đường về Ân Phú quê cha
Sông La uốn khúc Mồng Ga núi gần,
Đường về quê mẹ quen chân
Tam Soa bến cũ mấy lần đò xuôi

...Một đời mòn gót nghìn đường
Bước về đầu xóm rưng rưng lệ nhòa...

2.
Đọc “Hồi ký song đôi” (Nxb Hội Nhà văn, H. 2011), ta sẽ nhận thấy quê hương Ân Phú nói riêng và Hà Tĩnh, xứ Nghệ nói chung thật sự là mạch nguồn của rất nhiều tác phẩm văn học của Huy Cận. Xuân Diệu từng nhận xét - quê hương đã cung cấp cho Huy Cận một cái vốn đất đai gì sâu thẳm lắm như từ ruột của thời gian. Và chính Huy Cận trong bài thơ “Tôi nằm nghe đất” đã chia sẻ:

Tôi sinh ra ở miền sơn cước
Có núi làm xương cốt tháng ngày
Đất bãi tơi làm da thịt mát
Gió sông như những mảng hồn bay...

Quê hương hiện ra trong thơ Huy Cận thật cụ thể, yên bình:

Tuổi nhỏ tôi trùm trong nhớ thương
Cách sông chợ Nướt, bến đò sương
Làng quê sơn cước chiều về sớm
Bóng núi dài lan mát ruộng nương...

Mãi sau này, trong bài thơ “Yêu đời” ông cũng nhắc lại: Quê anh cà nhút mặn mòi/ Sinh anh muối mặn yêu đời, đó em! Khung cảnh làng quê cũng chính là thi hứng trực tiếp của những tuyệt thi như “Tràng Giang”, “Ngậm ngùi” và nhiều sáng tác sau 1945.

Đặc biệt, trong sự nghiệp sáng tác của mình, ông đã để lại hai thi phẩm nổi tiếng như để tri ân quê hương - “Gửi người xứ Nghệ” đã được phổ nhạc và thành bài ca “đi cùng năm tháng” (Ai vô xứ Nghệ), và “Ngã ba Đồng Lộc” - như dựng thêm một tượng đài vĩnh cửu bằng thi ca:

Trong đời mỗi dân tộc cũng có những ngã ba/ Những ngã ba vận mệnh/ Những cái nút trên dặm dài lịch sử/ Gặp những ngã ba đời con sẽ nghĩ suy/ Và con ơi, muốn tìm đúng hướng đi/ Con sẽ nhớ đến ngã ba Đồng Lộc/...Là ngã ba nhưng nào có phân vân/ Nào có đắn đo do dự!/... Nhưng hướng đi đã quyết/ Không phải cho một lần/ Mà cho tất cả mọi lần/ Không phải cho một người/ Mà cho tất cả quê hương, đất nước...

Với những thành công lớn trong sự nghiệp chính trị và đặc biệt là sự nghiệp văn hóa, văn học, người đầu tiên của Việt Nam được bầu làm Viện sĩ Viện Hàn lâm Thơ thế giới (2001), hoặc như nhận xét của Vũ Đình Minh - nhà thơ hoạt động chính trị, nhà văn hóa lừng danh vượt qua cả biên giới quốc gia để hòa nhập vào dòng văn hóa của thế giới - Huy Cận đã thật sự mang lại niềm vinh dự, tự hào cho dòng tộc và quê hương Hà Tĩnh.

3.
Sinh thời, Huy Cận dành rất nhiều tâm huyết, tình cảm cho quê hương. Ngày thơ Việt Nam lần đầu tiên (2003) được Hội Nhà văn tổ chức tại Khu di tích Đại thi hào Nguyễn Du (Nghi Xuân, Hà Tĩnh), nhà thơ Huy Cận đã về dự, đánh trống khai hội và phát biểu, đọc thơ rất say sưa. Ông cũng tranh thủ mọi cơ hội để về thăm, động viên, giúp đỡ quê hương, dòng tộc.

Mặc dù rất bận rộn với nhiều hoạt động khác nhau nhưng ông vẫn không quên trách nhiệm của một Tộc trưởng dòng họ. Ông đã trực tiếp lập gia phả, viết lời mở đầu rất thống thiết: “Chim có tổ, người có tông. Chúng ta là các lớp hậu duệ của tổ tiên xem, thuộc tộc phả để ghi lòng tạc dạ tinh thần thương yêu đùm bọc lấy nhau của cha ông, cố kết với nhau vì tình nhà nghĩa nước. Tộc phả cũng là lịch sử của họ ta, một họ tuy không đông người nhưng đã có đóng góp xứng đáng vào công việc của quê hương, làng nước. Có thuộc quá khứ mới mở mang được tương lai. Xin bà con trong họ giữ gìn và phát huy ý nghĩa, tác dụng giáo dục của bản tộc phả thiêng liêng này”.

Năm 2002, ông viết “Di chúc về vấn đề lưu niệm”, trong đó khẳng định việc được thờ tự tại quê nhà: “Vợ con tôi sẽ thờ tôi tại nhà và đất ở của tôi ở 24 Điện Biên Phủ, Hà Nội và thờ tôi tại nhà thờ họ Cù Huy cánh tiểu tôn ở xã Ân Phú, tỉnh Hà Tĩnh”.

Sau khi ông mất (19-2-2005), nhà thờ họ Cù Huy đã được tôn tạo lại và đang làm hồ sơ xếp hạng di tích lịch sử văn hóa ngay trong dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh Danh nhân văn hóa - Nhà thơ Huy Cận (1919 - 2019). Khép lại một đời bôn ba khắp bốn phương trời, cống hiến hết mình cho đất nước, từng giữ nhiều chức vụ trọng yếu như bộ trưởng, thứ trưởng và đại diện cho quốc gia tại nhiều tổ chức, diễn đàn văn hóa, chính trị quốc tế, để lại cho hậu thế gần 50 đầu sách, trong đó có nhiều tác phẩm viết bằng tiếng Pháp hoặc được xuất bản ở nước ngoài, được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt đầu tiên (1996), Huân chương Sao Vàng cao quý..., nay ông đã được về với tổ tiên, dòng tộc, được bà con làng xã tri ân, thờ phụng như một nhân thần của quê hương, đất nước.

TS. VÕ HỒNG HẢI
(BÁO NHÂN DÂN)



Thứ Tư, 12 tháng 6, 2019

Nhà thơ Huy Cận làm việc trong bệnh viện

Đi công tác về, được cơ quan báo là nhà thơ Huy Cận ốm, tôi liền cùng anh em vào bệnh viện Hữu Nghị thăm. Nghe tiếng chúng tôi ở hành lang, nhà thơ nói vọng ra: - Mình ở đây, Huy Cận ở đây!
Hai nhà thơ Huy Cận - Xuân Diệu

Một lần trước giờ họp, tôi được hầu chuyện nhà thơ Huy Cận và các giáo sư Đoàn Trọng Truyến, Nguyễn Văn Chiển, Hà Học Trạc, Hoàng Minh Thảo… Họ đứng lên ngồi xuống thoải mái. Thấy các ông nhắc nhau việc nọ việc kia thật từ tốn mà ý tứ đâu ra đấy cả, được một lát, không khí có vẻ nghiêm nghiêm như sắp vào đoạn kiểm điểm, tôi thưa với nhà thơ: "Các lão gia ghê quá!". Giáo sư Đoàn Trọng Truyến bảo: "Lão gia à? Cổ kính như Tàu như kinh đô Huế hề, nhưng tôi và ông Huy Cận đây là người của lịch sử từ 1945, 1946… Chúng tôi là đại lão gia đó nghe!". Mọi người cười vui.

Đi công tác về, được cơ quan báo là nhà thơ Huy Cận ốm, tôi liền cùng anh em vào bệnh viện Hữu Nghị thăm. Nghe tiếng chúng tôi ở hành lang, nhà thơ nói vọng ra:

- Mình ở đây, Huy Cận ở đây!

Tiếng ông trầm vang, dõng dạc, mà hơi rè. Tôi chợt nghĩ: Chắc lão gia đang làm ra vẻ khỏe mạnh đây. Quả nhiên, khi bốn năm anh chị em cơ quan Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa Việt Nam người ngồi, người đứng chưa yên vị, ông cũng vừa kịp cài nốt, cài lại cái cúc áo ngực, người nhà đến chăm ông chưa kịp lấy nước hay làm gì để ông tiếp khách, thì ông hỏi ngay:

- Các cậu đến đây có mất công lắm không? Phải hỏi đến mấy người? Này, mà đến đây thì đừng ồn ào quá nha…

Một chị trong đoàn đến thăm nhẹ nhàng:

- Dạ thưa bác, chúng cháu cũng không vất vả gì đâu ạ, mà cũng không làm ồn gì đâu ạ.

- Ờ, thế thì được.


Nhà thơ Huy Cận và nhà thơ Ngô Thế Oanh (bên trái). Ảnh: Nguyễn Đình Toán
Tưởng nhà thơ sẽ im lặng chờ, tôi chuẩn bị nói lời thăm hỏi, ông đã tiếp luôn:

- Cái Hội đồng Từ điển Bách khoa làm được nhiều việc, nhiều việc rất lớn, đáng được Nhà nước, Chính phủ, Trung ương Đảng khen thưởng tập thể Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học, nhưng chúng ta làm ồn quá, mất trật tự quá…

Ông nói liền một hơi, mặt đỏ dần lên, tay trái vẫn để yên trên đầu gối bên trái, còn tay phải giơ lên hạ xuống mấy lần rồi đặt yên trên đầu gối bên phải, cả tay và gối đều rung rung giật giật. Tôi hơi hoảng, vội đứng dậy, đi vòng ra sau lưng ông. Tôi úp ướm nhẹ cả hai bàn tay lên bờ vai vậm vạp của nhà thơ, chốc lát, tay tôi rập rờn theo nhịp thở của ông. Thốt nhiên, tôi như thấy lại cái cảm giác vừa ngỡ ngàng, vừa thương cảm, lại vừa lo lắng một điều gì như cái lần tôi và nhà văn Hồ Khải Đại đến thăm nhà thơ Xuân Diệu dạo trước. Hôm đó anh Đại đã cầm cái khăn bông to lau mồ hôi cho Xuân Diệu, còn tôi thì cầm tờ báo Nhân Dân gấp gấp lại làm quạt phe phẩy gió, nhà thơ Xuân Diệu dịu dàng: "Em lấy cái quạt kia kìa, báo để cho phẳng phiu rồi còn đọc, còn cắt ra mà lưu giữ, mà gói đồ ăn…".

Huy Cận là nhà thơ, nhà văn hóa lừng danh, ông là Phó Chủ tịch kiêm nhiệm tại Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam. Trong những năm Hội đồng này có chuyện mất đoàn kết, tiếng nói của ông đã góp phần làm ổn định tình hình. Thời gian tôi mới về làm giám đốc Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa Việt Nam, trực tiếp tổ chức, điều hành việc làm bộ sách Từ điển Bách khoa Việt Nam và các sách từ điển khác ở đây, ông đã chỉ bảo cho tôi rất nhiều…

Quả thật, nhờ có sự hậu thuẫn và chỉ đạo kiên quyết của ông và các GS như Hà Học Trạc, Đoàn Trọng Truyến, Hoàn Minh Thảo, Nguyễn Văn Trương… mà các tập 1 và 2, tập 3 của bộ "Từ điển bách khoa Việt Nam" đã được biên soạn xong rồi được xuất bản vào các năm 2002, 2003 sau gần 10 năm bị ngưng trệ. Cơ quan đã đoàn kết lại, sự hào hứng của các nhà khoa học và biên tập viên được nâng lên…Mới hồi tưởng một tí thế, rồi nhìn ông ngồi, nghe ông nói, một nỗi thổn thức dâng lên ngực, tôi cố trấn tĩnh nhìn ra xung quanh, kịp thấy cặp mắt của chị bạn lúc nãy như có nước, tôi vội báo cáo cho ông yên tâm:

- Dạ, em mới đi công tác về, được anh em cho biết là việc phát hành "Từ điển Bách khoa Việt Nam" tập 3 do Văn phòng Hội đồng lo đã ổn dần theo kế hoạch, còn tập 4 thì mọi người cũng đang tìm gom về một đợt nữa, chắc cuối tháng này sẽ tạm đủ bản thảo thô đời mới, anh em đang biên tập và trình duyệt dần từng vòng.

Nhà thơ ngồi yên trên ghế, kéo cái khăn bông to xụ quàng thêm một vòng qua cổ, nói theo kiểu lão gia ban bảo nghiêm nghiêm mà vẫn thân gần:

- Được rồi, được rồi… ông đi vắng mấy tuần mà công việc cơ quan vẫn chạy theo kế hoạch, thế là ông biết tổ chức sắp xếp quản lý như người ta nói với tôi rồi. Tôi nằm đây mà tôi vẫn biết hết, để hôm nào tôi nói thêm cho ông rõ nữa, ông chưa hiểu lịch sử của Hội đồng chỉ đạo Từ điển Bách khoa này đâu ông nhà văn giám đốc ạ!

Chúng tôi im lặng, vừa muốn can ngăn ông hãy nghỉ cho khỏe đã, lại vừa muốn ông phân tích dặn dò. Một người trong đoàn, nhớ ra việc vào đây là để thăm nhà thơ bị ốm, kêu lên:

- Chúng cháu vụng quá, có hoa đây, để cháu thay cho bác nhé!

Rồi mấy chị em anh em người đi xúc lọ, lấy nước, người cắm hoa mới, người bày các thứ quả lên bàn. Ríu rít mấy phút, căn phòng như sáng đẹp hơn. Gương mặt nhà thơ tươi trẻ lại lạ kỳ, ông nhìn hoa, nhìn sang mọi người, nhìn đăm đăm vào tôi, giọng dịu lại:

- Đẹp quá, đẹp rồi đấy, có thích nghe thơ không?

Chúng tôi như cùng reo lên: "Có ạ". Tôi gợi:

- Bài gì vui vui thơ tình ấy ạ.

- Thơ tình mà vui được à? Ông làm lý luận phê bình chắc có biết người ta bảo vẻ đẹp trong thơ Huy Cận là nỗi buồn nhân gian cảm quan vũ trụ chứ?

Hỏi xong, nhà thơ ngồi ngay ngắn lại, hai tay ông nâng lên chén nước nóng, chiêu một ngụm, ông chẹp chẹp miệng. Nhìn tất cả mỗi người, ông nhấp thêm một ngụm nữa, rồi thong thả đọc, giọng trầm nặng thổ âm xứ sở:

- Anh biết yêu em đã muộn màng
Nhìn em trăm bận chỉ nhìn ngang
Biết rằng nhìn thẳng thêm đau đớn
Anh sợ tình ta sẽ dở dang…

Đoạn, dừng lại một tí, ông hỏi: "Xuân Diệu từng nói tình đẹp là tình dang dở phải không?", rồi đọc tiếp:

- Muốn trốn em, mà trốn được nào
Mắt em thầm gọi sắc như dao
Mỗi lần gặp lại lòng đau điếng
Trốn cả lòng anh, trốn được sao
Em hỡi, lòng anh yêu đã sâu
Yêu em ngay tự thuở ban đầu
Gặp em như níu lòng anh lại
Em đẹp, lòng anh lại nhói đau

Em hỡi! Yêu em chẳng muộn màng
Lửa bền trong đá mấy muôn năm
Lửa đôi ta chẳng cùng nhau đượm
Sẽ đốt lòng ta ra bụi than.

Chúng tôi im nghe, im nghe. Tôi ngỡ là tiếng đọc thơ chậm rãi trầm đục mà như vội vã níu kéo, mà như có gì thống thiết kia đang phát ra từ một khối đá nâu đen có đỉnh bồng bềnh mây trắng bay, có cặp mắt nhỏ tinh anh đượm buồn đang lấp lóe sáng.

Tôi nhìn ra phía cửa, có mấy người bệnh, có mấy người đến thăm ông hay thăm ai đó đang sẽ sàng đứng nghe ông đọc thơ. Hình như nắng mùa đông có rực lên ở ngọn cây cao cao rì rào ngoài kia, hình như có làn gió nào đưa hương hoa lan vào phòng thoang thoảng. Tôi biết là sẽ còn lâu, còn chưa biết đến bao giờ mới lại được chính nhà thơ đọc cho nghe thơ ông, lại được xem công chúng nghe thơ như thế này nữa, nên rất muốn ông tiếp tục. Nhưng trông cái dáng ngồi đã chùng xuống của Huy Cận, biết là ông đã mỏi lắm, tôi định nói lời hẹn một dịp khác, thì đã có tiếng ai đó: "Bác đọc bài gì về quê hương đi!", nhà thơ giơ bàn tay to bè vỗ vỗ vào tay tôi: "Mình chưa mệt, chưa mệt đâu…", rồi ông đọc luôn:

- Ông đồ xưa xứ Nghệ
Càng dạy chữ càng nhiều
Tính tình người xứ Nghệ
Càng biết lại càng yêu

… Tình xứ Nghệ không mau
Nhưng bén rồi sâu lắng
Quen xứ Nghệ quen lâu
Càng tình sâu nghĩa nặng

Ôi tâm hồn xứ Nghệ
Trong hồn Việt Nam ta
Ôi tâm hồn xứ Nghệ
Trong hồn Việt Nam ta…

Biết ông đọc theo kiểu nhảy cóc trích đoạn, tôi thấy hay hay, nhìn ông hồn nhiên mê say giữa sự chăm chú của mọi người, tôi trộm nghĩ: Có ai hạnh phúc như nhà thơ không? Nhưng nghe và thấy ông đọc mấy dòng cuối theo kiểu vè xứ Nghệ, như luyến láy nhấn nha nhấn nhứ, mà giọng trầm đục nhỏ dần, tôi biết là ông mệt thật rồi.

Huy Cận ngồi yên lặng, gương mặt chìm đắm xa xăm, mấy sợi tóc bạc trên vầng trán rịn mồ hôi của ông lay động khẽ. Cặp môi dày của ông mấp máy như định nói gì. Tôi nâng lên ông một chén nước nóng thoảng thơm mùi hoa cúc. Nhà thơ đỡ lấy hít hà mấy nhịp rồi uống một hơi, như cách nhà văn Tô Hoài dạo nào uống rượu vang một mạch gần cạn cả cốc.

Nhà thơ tự sửa lại dáng ngồi duỗi ngửa ra sau, mái đầu hơi cúi xuống, cặp mắt lim dim khép dần như muốn ngủ. Có lẽ ông đang tự lắng nghe lại tiếng thơ tiếng hồn còn âm vang đâu đó cùng chúng tôi. Cặp lông mày lốm đốm bạc có mấy sợi dài hơn xòe ra rung rung bỗng nhướng lên. Tiếng một phụ nữ: "Chào nhà thơ! Anh khỏe rồi à?". Giọng Huy Cận trầm ấm, hơi ngân nga: "Ai đó? Mời vào, mời vào".

Chúng tôi nuối tiếc đứng dậy chào ông ra về, để người khác còn được trò chuyện với ông. Chẳng biết họ có nghe ông đọc thơ nữa không? Kể cũng mong họ được như mình, nhưng lại sợ ông mệt quá.

Mấy hôm sau tôi vào thăm ông lần nữa, nhà thơ bảo: "Hôm ấy các ông về rồi, bọn mình còn vui mãi đấy! Tôi sắp được ra viện ông Nguyên An ạ!". Ông vịn bàn tay to mập ấm mềm lên vai tôi bảo: "Dạo ở đây một tí đi".

Cây cỏ trong khuôn viên bệnh viện lao xao theo bước chân lệt xệt tập tễnh của Huy Cận. Hình như cái lao xao ấy đã gợi ông nhớ đến một vạt đồi xanh sơn cước ở quê với tuổi ấu thơ bảy tám mươi năm về trước thì phải.

NGUYÊN AN
Nguồn: VNCA




Thứ Năm, 6 tháng 6, 2019

Chùm thơ Sinh thái 5 tác giả

Đỗ Hồng Ngọc - Nguyên Cẩn - Trần Hoài Lâm - Trần Nhã Phương Uyên - Nguyễn Văn Toan


ĐỖ HỒNG NGỌC

Rùng mình…

“Tùng địa dũng xuất”
               (Kinh Pháp Hoa)

Người rùng mình hỏi vì sao động đất sóng thần cứ triền miên hết ngày này sang ngày khác?
Vì sao núi lửa cứ phun trào?
Vì sao băng tan vì sao bão táp…?
Vì sao trẻ con người già bị cuốn trôi bị thiêu đốt thành phố tan hoang cửa nhà đổ nát như món đồ chơi
của một đứa trẻ đang giận dữ
Vì sao và vì sao?…


Nhưng hãy lắng nghe
Dù trong giây lát


Trái đất cũng đang rùng mình tự hỏi vì sao những ngọn núi cứ triền miên đổ sập?
vì sao những dòng sông nghẽn tắt?
vì sao những mũi đao cứ ngày đêm xoáy sâu vào lòng đất?
Vì sao chim rừng cá biển không chốn nương thân
Vì sao cổ thụ mầm xanh bị tận diệt
Vì sao lúa bắp phải cấy ghép gen người?…
Vì sao và vì sao?


Ta nương tựa vào nhau.
Nay có vẻ đã không còn cần nhau nữa!
Đất rùng mình phận đất…
Người rùng mình phận người…




NGUYÊN CẨN

Chiều trên giòng Vu Gia

Biết nói gì với con về những công trình thuỷ điện?
Xưa anh ngợi ca rền rĩ suốt bao năm
Những con sông không thể ngủ yên hoài
Phải thức dậy và nhảy theo điệu rock
Nay sông Bung cỏ hai bờ đứng sững
Nghiêm nghị chào con đập chẹn dòng trong
Kìa A Vương lũ xả cứ tuôn tràn
Nọ Za Hung cuồn cuộn về như thác
Những cánh rừng không còn - như bàn tay chặt cụt
Để nước xô bờ, cha biết nói sao đây?
Đêm Đông Giang nghe tiếng khóc sông Côn
Chiều Xã Bốn nghe lúa buồn phơi nắng
Sáng Nam Giang mẹ lần mò ngăn nước
Những con bê lưu lạc dắt nhau về
Sông hóa kiếp thành hồ hay suối cạn
Bầy con trẻ từng trên cát nắng
Sẽ đen giòn như lũ lạc đà thui
Biết nói gì cho con khi đã tắt niềm vui
Dòng điện sáng là rừng xưa vĩnh biệt
Lời tha thiết vọng từ thăm thẳm núi
Bầy hươu sao tán loạn chạy trên đồng
Đêm qua ai khóc - không chỉ một giòng sông
Riêng Vu Gia nhớ Thu Bồn đứt ruột…
Riêng Vu Gia khiến hồn não nuột
Rượu Hồ Đào sao lại ném sông trôi?




TRẦN HOÀI LÂM

Bụi

Bụi mù trời anh không thấy mặt em
anh muốn thở nhưng anh ngộp thở
em ở đâu giữa phố bụi mịt mùng


Sáng thức giấc trong đầu anh là bụi
bụi trên những ô kính và bụi trong chăn
Bụi vương đầy những ý nghĩ của anh nhưng anh không lau sạch được
em ở đâu trong phố bụi mịt mùng
Rồi đến lúc ta phải tìm nhau bằng tiếng
bởi hình hài bụi đã phủ từ lâu
nhưng tiếng của anh và tiếng của em cũng phủ đầy bụi
đầy bụi như ly cà phê trong góc quán chiều qua


Đi qua những ngã tư và những vỉa hè
bụi vùi lấy người lao công im ngủ
anh cố lau những giọt mồ hôi trên trán mình
nhưng đó không phải là những giọt mồ hôi
mà là những giọt bụi


Hãy nhớ đêm này ta gặp mặt
Bụi cũng sẽ phủ lấy cuộc làm tình của hai chúng ta
Bụi sẽ nhảy múa trên ngực em và cả trên ngực anh
rồi chúng mình sẽ sinh những đứa con đầy bụi
và anh sẽ tìm cách lau sạch bụi trên mắt con mình
khi chúng chưa ra đời, chúng hãy còn trong em.




TRẦN NHÃ PHƯƠNG UYÊN

Chưa bao giờ

Chưa bao giờ em ra sau đồi
lặng lẽ ngồi xuống trong hoàng hôn và hát
chưa bao giờ hoàng hôn nói với em về sự rộng lượng của cây cỏ
chưa bao giờ
chưa bao giờ em biết chuyện của cây cỏ


Hãy cùng anh ra sau đồi
hay ngồi xuống bên hoàng hôn và đợi
hãy ghé tai vào gốc sim già nua ấy
và lắng nghe sự rộng lượng của cây cỏ
như anh đã bỏ hết muộn phiền.


em đã không biết ngày sinh của cỏ
em đã không thấy ngày tàn của hoa
chưa bao giờ em biết trong bình minh có nhiều pho truyện cổ
bởi em chưa bao giờ lắng nghe gió hát trên đồi và chim khóc
trong mơ


có khi nào em khóc dưới mưa
nước mắt em sẽ là mưa chát mặn
có khi nào em ngủ trên sương
đôi vai em sẽ là chim hạc trắng


Hãy một lần lắng nghe em à
hãy ngồi bên giáo đường và nhìn chim di trong bản nhạc của người hành khất bụi bặm
em sẽ thấy trong bản thánh ca có lời Thiên Chúa
lời của người lúc sinh hạ cỏ cây


hãy lắng nghe em nhé, một lần thôi
em sẽ thấy lồng ngực em là biển
và anh là những cơn sóng đó
sóng cuồng nộ rồi sóng lại đi hoang



NGUYỄN VĂN TOAN

Thần rừng chiêm bao

Thần rừng không bao giờ ngủ
Những cây vầu kể cho người giấc mơ của sự rời rạc
Cơn bão đến chúng không thể cùng cầu nguyện
Gốc cây cụt lủn kể rằng
Chúng thường mơ thấy mình còn nguyên vẹn
Những con thú bị thương thì thầm về giấc mơ bị săn đuổi
Máu và những phần thân thể rơi rớt chạy theo chúng
Rồi thần rừng cũng nói về những giấc mơ của mình
Trong bóng tối của ban ngày
Những bóng ma loài người nhăn nhúm dưới vuốt quạ
Chúng khẩn khoản xin người cho trú ngụ những gốc cây
Người đồng ý
Loài chim bay quanh từ biệt
Từng đàn lao vào vách đá
Những ma người hưởng thụ
Thần rừng không bao giờ ngủ
Nhưng Người vẫn có những giấc mơ
Trong ánh sáng buổi tối
Ngọn lửa bày biện bữa tiệc cuối
Những cơn mưa đen từ tro tàn rơi
Phủ lên ngọn núi trần truồng
Bầy thây ma nhảy múa man dại quanh thần
Người chỉ còn một mình trên đỉnh ngôi nhà hoang tàn.

Nguồn: Sông Hương


TIN LIÊN QUAN:



Nhà văn Thùy Dương: Trăn trở với mỗi thân phận Người

Nếu không biết Thùy Dương sinh ra và lớn lên ở Hải Dương, sẽ đoán   chắc nàng là người Hà Nội gốc. Gọi là nàng v ì nàng không chỉ xinh đẹp, ...