Thứ Hai, 15 tháng 4, 2019

Gia hát cho đời xanh khát khao

Homer, người kể chuyện vĩ đại năm xưa từng mở đầu thiên trường ca Odyssey bằng lời cầu khấn thanh tao: “Nàng thơ ơi, hãy hát lên…”. Mỗi nhà thơ kể cho chúng ta nghe một câu chuyện về chuyến phiêu lưu của cõi tinh thần.
Nhà thơ La Mai Thi Gia

Thơ Thi Gia là những câu chuyện thầm thì không kết thúc trong trái tim một người nữ sẵn yêu và sẵn thơ:

Gia ơi, chừ em hát
Lời ngọt lành như mưa
Gia ơi, chừ em khóc
Thương ngày mình xuân xưa

(Gia ơi, đời xanh đấy!)

Chỉ là một câu chuyện dài về nỗi niềm xanh tươi của tuổi xanh tươi. Có mấy ai nuôi được màu xanh ấy, trong chính mình và trong cách nhìn đời. Bởi vậy, Thi Gia mới tự nhắc mình, rằng đời xanh đấy! Như chúng ta thầm nhắc nhau bằng câu hỏi: Đời vẫn xanh ư?...

Đời xanh, không phải vì đời rất vui, mà vì đời rất đáng sống!

Trong “cõi xanh” của Thi Gia, chúng ta đọc thấy một nguồn cảm hứng đầy đặn về tình ruột thịt, tình nhân gian, về tình ân ái, tình đa đoan… Mỗi bài thơ là một thiên truyện tí hon nhưng đầy sức gợi về nỗi phập phồng và hân hoan của con người trước những vui buồn, tai ương và hạnh phúc.

Nhà thơ chọn cho mình một giọng riêng ở mỗi thứ tình.

Trong tình máu mủ ruột rà, thơ Gia bình lặng và giản dị với điểm nhìn thơ dại về gia đình, về quê hương cố lý.  Đó là nỗi ngơ ngác chân thành: “Đỏ mắt con tìm một câu chúc miền Trung” trong buổi sinh nhật xa quê (Tiếng quê), là lời mời tự nhiên “như không” mà rất thiết tha: “Quê mình đây nè bạn - Bữa mô buồn ghé chơi - Nắng hè trong leo lẻo - Biển còn xanh hơn trời” (Biết răng chừ quê ơi), là kỷ niệm dịu dàng sâu lắng về ánh mắt cha ngày con gái lấy chồng: “Vào nhà đi cha ơi thôi đừng đợi nữa! - Con gái cha đã lớn mất rồi - Đã biết… sống trên đời ai cũng phải có đôi” (Con gái theo chồng), là khúc tiêu dao ám ảnh dành cho kẻ tha phương:

Ta ra đi hề
giữa bốn bề gió lộng
Nhưng trái tim ta hề
đã ở lại quê hương
(…)
Quê cha đất mẹ
ai ra đi mà không nhớ không thương?
Ta ra đi mà mong quay trở lại
Về với mẹ ta, cha ta, Tam Kỳ ta, Quảng Nam ta hề
Quê ơi, quê ơi!
Lũy thừa nỗi nhớ
Dâng lên ngập trời!

Bài thơ Khúc ly quê được viết từ hơn mười năm trước đã bồi đắp cho thơ Gia một tâm tình nồng nàn có chút sang trọng cổ xưa. Thơ hiện đại mà có pha lẫn giọng tiêu dao tráng chí, âm vang lạ của loại ca ngâm vốn chỉ dành cho các bậc thượng căn.

Hoài vọng đất quê làm nền cho Thi Gia viết những vần thơ cảm động về mẹ cha. Bản tính hồn nhiên trong thơ Gia là một vũ khí “đắc địa” khi chạm đến tình mẫu tử, tình phụ tử:

Nghỉ tay thôi cha ơi
quấn điếu thuốc rê mà phì phà
đốt lên niềm vui từ những hàng mạ non xanh tít tắp
phì phà cơm no áo ấm
từ những vết chai
từ đôi mắt đăm đắm suy tư trong chiều
chứa đầy mẹ
chứa đầy con
chứa đầy những nỗi lo toan nhọc nhằn, những buồn vui hạnh phúc
Tuổi cha tôi như cây lúa chín vàng
Rồi sẽ như rơm rạ
Một chiều đốt đồng khói mịt mù bay
cay xè con mắt
Có đủ vô tư để đợi tuổi về không cha ơi?

Cuốc cày chi nữa cha ơi
ngồi xuống đây mà nhâm nhi cùng con ly rượu
Uống cho tuổi cha như ngọn lúa chín vàng
trĩu hạt đòng đòng bên đám mạ xanh non.

(Tuổi cha tôi như cây lúa chín vàng)

Hình ảnh “chứa đầy mẹ”, “chứa đầy con” là sáng tạo bất ngờ, làm nhoà đi bao nhiêu ranh giới tinh tế thường vẫn có trong mỗi gia đình. Ở đó, Thi Gia chia sẻ cho chúng ta một cảm nhận rất “thật thà”:

Em chẳng có gì ngoài thân thể mẹ cho
Thanh xuân trả dần cho năm tháng

(Chẳng có gì ngoài chính em thôi)

hay những lời tình tự về nỗi đau “nguyên bản” của đời người phụ nữ:

Mẹ!
Con đau khi rời mẹ
Và đau khi con làm mẹ con mình
(…)
Đau lần nữa, đau thêm ngàn lần nữa
Từ những cơn đau mà hóa phận người

(Từ những cơn đau mà hóa phận người)

Nỗi đau không thể là điều cắn xé chúng ta mãi được. Tấm lòng trong xanh sẽ làm nguôi những buồn đau trĩu nặng. Người bà trong thơ Gia khiến ta nghĩ như thế:

Bà nuôi cha tôi bằng những sớm sương dày
Bà gánh cả mảnh vườn xanh chân trần ra chợ bán
Từ đôi tay bà bó rau như xanh hơn
Cùng những bí bầu nuôi cha tôi lớn khôn

(Bà mãi còn trong giấc ngủ của đêm)

Tôi thích hình ảnh người bà gánh cả mảnh vườn xanh trên đôi chân trần. Hình ảnh đó nửa rất thực,  nửa như là một ẩn dụ nao lòng về sức xuân mạnh mẽ trong cơ thể người nữ. Nó bất ngờ đạt tới một sự lấp lánh trong sự trộn lẫn giữa nét tươi giòn háo hức với sự tiếc nuối xa xăm. Chủ đề bài thơ rất quen thuộc, nhưng cách viết của Thi Gia tạo ra một hiệu ứng mới.

Thế giới của tình thân ruột rà trong thơ Gia còn mở ra những tứ thơ gây xúc động thực sự:

Con trai tắm cho cha
Tắm cho người đàn ông đã từng công kênh mình trên đôi vai
Bế bồng mình trên đôi tay… to bè, vạm vỡ
Đón mình vào nhân gian khi còn đỏ hỏn
Tắm cho người đàn ông năm xưa đã tắm cho mình

(Tắm gội cho cha)

Tình máu mủ và tình nhân gian dường như được gắn kết bằng hình tượng những em bé. Viết về em bé là biệt tài của Thi Gia. Cũng không có gì lạ, đó là một hồn thơ quá đỗi vô tư.
Tập thơ Gia ơi, đời xanh đấy! của La Mai Thi Gia

Lời ru của Gia có màu sắc riêng, dù đã được kết trộn với nhiều tầng cảm xúc từ dân ca người Việt.

Bé bỏng trên tay mẹ ơi
Em ngủ ngoan như hạt nắng yên lành trên lá me
(…)
Bé bỏng trong tim mẹ ơi
Có lũ kiến đen kiến đỏ kiến nhỏ kiến to xếp hàng men theo cọng rơm ra ruộng
Cõng thóc về kho cho ấm no
Lũ về theo mùa giăng giăng trắng đồng cá tép
Lời mẹ hát chiều nay nghe như âu lo.

(Cho mẹ được sinh ra)

Người thơ ấy cũng không quên để lại nhiều cảm xúc về những nghịch cảnh của nhân loại quanh mình; là câu thơ tiếc thương những em bé Hàn Quốc tử nạn trong vụ chìm phà Sewol năm 2016:“Đằng sau những nụ cười đã vĩnh viễn hết cười - Tôi mường tượng ra những đôi mắt sẽ vẫn còn khóc mãi (…) ;Trái tim trẻ thơ trôi đi cùng băng giá - Để lại những cuộc đời cũng đã hóa đêm sâu”, là câu chuyện thảng thốt của người bạn chân chất cùng quên: “Sống chẳng được cái nhà che sương gió - Chết phải được cái mồ cho ấm mẹ, mày ơi!” (Mẹ nát một đời trong cái thói bao dung),  là bài thơ viết sau sự kiện xác em bé Syria trôi dạt vào bãi biển Thổ Nhĩ Kỳ khi cùng cha mẹ trong chuyến tị nạn hãi hùng: “Ta còn gì cho ngày mai - Ta để lại gì cho tương lai ngoài những hố sâu hun hút - Ngoài những linh hồn bé thơ lạnh lẽo kêu đau” (Ta là gì trong cõi chúng ta), là những mong ước rất kì lạ của người mẹ với con: “Muốn làm quả bóng dưới chân con, lăn tròn trên cỏ - Chẳng có góc cạnh nào nên chắc sẽ không đau?” (Rồi cũng sẽ hết đêm).

Với trích đoạn bài thơ dưới đây, tôi nghĩ Thi Gia có thể đã tìm thấy một vài đỉnh cao nào đó trong đời thơ của mình:

Nụ cười của chúng nhốt hồn vía tôi ở đấy
Tiếng khóc của chúng nhốt tình yêu tôi ở đấy
Tôi trở thành người tù vui vẻ an lành
Hân hoan trong chiếc lồng son mang tên Hạnh phúc
Kể từ ngày những thiên thần ấy đến chơi
Tôi biết tự do của mình đã ra đi mãi mãi
Mãi mãi...
Vì bởi chính tôi khao khát được giam cầm

Những đứa trẻ được sinh ra từ máu thịt của mình
Dạy cho tôi biết chẳng có nỗi đau nào là đáng sợ
Và có những thương yêu
Cả cái chết cũng chẳng thể nào xua tan được nó
Khi ta đã được duyên lành chọn để đến bên nhau

Và khi đời còn đầy rẫy đớn đau
Tôi ước tôi phi thường mạnh mẽ
Thật phi thường, mạnh mẽ
Sừng sững như non cao che chở đời con trẻ
Như mẹ đã từng che chắn đời tôi

(Tôi ước tôi phi thường mạnh mẽ)        

Viết về con cái của mình như thế, tự nhiên, giản dị và thấm thía, là điều mà một nhà thơ không phải lúc nào cũng có thể đạt tới. Chúng ta chào đón những câu thơ thiện lương và tài hoa này!

Tạm biệt những câu chuyện thần tiên về em bé, chúng ta lại nghe câu chuyện khác nhọc nhằn hơn một chút: chuyện về tình ái ân và tình đa đoan.

Đọc thơ tình của Thi Gia, tôi tin rằng “một nhà thơ tình biết lay động” đã đến!

Gia không phải là nhà thơ của suy tư, khắc khoải. Chất thơ Gia không ứng với vị nồng rượu đậm. Giọng thơ này không sở hữu những mật ngữ sang trọng và cô đúc. Thơ Gia là một thảo nguyên trong xanh gợi tình. Thơ tình của Gia sẽ còn nhiều sức sống và ghi dấu ấn rất tự nhiên trong dòng thơ đương đại, bởi có gì dai dẳng và mênh mang hơn gió ở thảo nguyên, hơn cỏ xanh và trời xanh thay nhau xanh ở thảo nguyên?

Nàng thơ kể chuyện Từ ấy hồng hoang mới kết thành rằng: “Hồn ta từ dạo lan theo sóng – Rót biển cho đời xanh khát khao”, rằng “cả tin nghe gió lời ân ái – ai biết ngàn dương có thật thà”, đến nỗi “hồn bay qua đỉnh trời hoang dại – hai kẻ đùa chơi không áo manh”.

Thơ Gia không có ý khiến người ta nghĩ, mà giúp người ta thở! Đọc thơ Gia là để thở những khoảng không gian không bị giới hạn:

Kể từ chiều qua đây chập choạng
Tôi và thinh không đang lặng lẽ nhớ người!
(…)
Yêu như cơn giông trút xuống cánh đồng cháy khô giữa hạ
Yêu như đám mây đen thả mình làm mưa vội vã
Yêu đi cho nhau xanh mướt trong nhau
(…)
Mình như một hài nhi nhỏ dại
Trần truồng dưới ánh trăng xanh
Và da thịt tôi tươi mới mát lành
Tôi và người sinh nhau ra lần nữa.

(Tôi và người sinh nhau ra lần nữa)

Niềm vui thơ dại trước dư tình say đắm trong mỗi câu thơ mở ra những “cánh đồng hoa giữa trời” (những cánh đồng mà Xuân Quỳnh từng ca hát), dẫn người đọc bước vào những không gian khác lạ của tình yêu đôi lứa, được thở một sinh quyển nồng nàn của khách đa tình:

Em ngồi yên rồi
Yên như đêm vậy
Người rót tình đi, ta uống nhau.

(Người rót tình đi, ta uống nhau)

Thơ Gia là tiếng thơ của thiếu nữ nói nỗi lòng thiếu phụ, bởi vậy mà người đọc cứ thấy chênh chênh nhưng là một sự chênh chênh nghịch ngợm và rất có nghề. Thiếu nữ thì trinh thơ mà thiếu phụ thì lặng người trong cuồng nhiệt:

Tôi nhớ người tôi yêu tôi muốn hét
Tiếng hét từ châu thân thăm thẳm tột cùng
Tôi muốn giấu người sâu trong ấy
Của nhau rồi ai bận tính riêng chung?

 (Tôi nhớ người tôi yêu tôi khóc!)             

Thảo nguyên xanh gợi tình chưa dừng lại. Thi Gia khiến chúng ta ngạc nhiên và thoáng chút thẹn thùng khi viết những câu thơ, ý thơ “nhạy cảm” quá đỗi, như là: “Chờ khô giữa suối nhấp nhô – sóng tình” (Chờ khô), “trong đêm ướt sũng nỗi niềm cuộn lên – cuộn lên –  cho đêm vỡ nát tan tành – Mà anh, anh vẫn vẹn lành trong em” (Vén nỗi nhớ đầy tim), “Em nhớ anh cả những lúc bên nhau, cuộn vào nhau thương nhớ - Thiếu anh cả những lúc đầy anh trong em ăm ắp đam mê (Tia nắng cuối ngày có hong khô nỗi nhớ?).

Bóng đêm của thơ Gia bị nhà thơ mắng là “Đêm hư”, thế nó đã làm gì? Nó chỉ ghẹo tình: “Xiết bông cỏ dại – ghẹo đùa lưng ong – bên tai róc rách – mùa đang trổ đòng”.

Có sao đâu. Tình yêu cho chúng ta lạc thú, trên mọi thứ mà nó trôi qua.

Nhưng sau tất cả, sau những hồ hởi thiếu nữ là đôi mắt thiếu phụ:

Khi tình yêu ta không thể yên bình
Em thương anh chung gánh cùng em trên con đường dài thẳm sâu phía trước
Em thương người em yêu tất tả vụng về
Thương cái nhìn đầy nhau mà vờ như xanh ngắt
Sau mỗi nụ cười buồn là đôi mắt đầy mưa

(Sau mỗi nụ cười buồn là đôi mắt đầy mưa)

Vậy đó. Nàng thiếu nữ trinh thơ bỗng nhiên sương tuyết như kẻ bạc đầu. Chúng ta lại nghe một câu chuyện khác rất sâu:

Đôi khi giữa những tháng ngày bình yên giản dị
Không có chút sắc màu nên mình tưởng không vui
(…)
Giờ thì mình tập yêu những thứ thuộc về mình
Vì biết chẳng thể yêu những điều mình chưa từng có

(Hết buồn rồi thì mình sẽ hết đau)

Rồi nàng quyết liệt hơn, từng trải sững sờ:

Bởi lớn rồi nên em đã hiểu
Những bàn tay đâu thể nắm suốt đời
Khi mỏi quá cần buông nhau một lát
Cho cả hai người được phép thảnh thơi

(Chỉ cần có nhau ở chốn nhau về)

đến nỗi: “Thản nhiên mà đi qua nhau - Cái vẫy tay còn ở lại” (Thản nhiên). Và cái chết ngọt ngào hay sự thức tỉnh ngọt ngào xuất hiện: “Em học vầng trăng buông tim mình xuống đáy” (Gói lòng mình, gói cả bão giông), “Em chọn cách quay đi và khóc” (Có phải con đường quanh là con đường dài nhất).

Trăng đã chực chờ đắm
Rơi vào lòng suối sâu

(Em mơ)

Mọi thứ đang “chực chờ” để ái ân miên viễn. Trăng của Thi Gia giàu nhục cảm nhưng là thứ nhục cảm trong lành. Hãy “giải thiêng” bằng niềm vui ân ái (“tại đêm bày chuyện dập dìu – Nên ta ta cũng đánh liều giải thiêng”) – một đề nghị rất ngây thơ và đầy cảm hứng của nàng Thi Gia.

Tôi gọi Thi Gia là người “sẵn thơ”, từ tên gọi như là định mệnh cho đến những niềm thi hứng riêng tư. La Mai Thi Gia có thể biến thành “Mãi là thi gia” (mãi là nhà thơ) được chăng? Có thể lắm. Biết đâu tạo hoá chẳng vô tình.

Mọi chuyến phiêu lưu đều chứa đựng những kinh nghiệm, kì thú hoặc nhạt màu. Cũng có nhiều mất mát ở chặng cuối cùng. Cách chữa lành những vết thương phù du mà có thật là trả lại sự “như như” cho muôn tạo vật, cũng như cho chính mình. Hân hoan buồn và vui, đấy là quà tặng của trái tim hồn nhiên trước những vết xước của tâm hồn!

Từ Thơ Trắng đến Đời Xanh, miệt mài với chuyến phiêu lưu rất xa, Gia đã không quên hân hoan trả lại màu tự nhiên cho cõi tục:

Gia ơi, đời xanh đấy
Người còn thương lá vàng
Cho em mầm hoa biếc
Ươm tình chờ xuân sang.

Hãy đọc thơ Gia bằng niềm hy vọng; như cách chúng ta sống và hát trong hy vọng, dù hy vọng không đồng nghĩa với niềm vui; nó đồng nghĩa với sự sẵn lòng.

Đông kinh, Nhật Bản 02.2018
LÊ THỊ THANH TÂM
(Lời giới thiệu tập thơ Gia ơi, đời xanh đấy! của La Mai Thi Gia)

TIN LIÊN QUAN:



Thứ Tư, 10 tháng 4, 2019

Nguyên Ngọc: Minh triết của rừng

Tôi bắt đầu đọc Nguyên Ngọc cũng đã khá lâu. Thú thực, các tác phẩm hư cấu của ông: Đất nước đứng lên, Mạch nước ngầm, Đất Quảng… không hấp dẫn tôi nhiều lắm. Có lẽ vì đó là những tác phẩm của một thời, và không phải là thời của tôi? Nhưng ký Nguyên Ngọc thì khác. Cũng được ông viết trong cái thời chiến tranh ấy, mà sao đến giờ đọc lại bài ký "Đường chúng ta đi" vẫn thấy gai người trước một thứ văn xuôi đẹp, vừa giàu chất thơ vừa hừng hực lời hiệu triệu.
Nhà văn Nguyên Ngọc

Tạng văn Nguyên Ngọc dường như chỉ phát huy đến tối đa năng lực và sức hấp dẫn của nó khi ông dùng đến thể ký. Tập ký gần đây nhất của Nguyên Ngọc, Các bạn tôi trên ấy (NXB Trẻ, 2013), viết về Tây Nguyên, gợi lên khá nhiều điều cần phải suy ngẫm. Nghĩ lại, và nghĩ tiếp.

Trong số hai mươi tư bài của tập ký, bài Nước mội, rừng xanh và sự sống là một bài khá lạ. Nguyên Ngọc không đưa người đọc vào không gian của cao nguyên Nam Trung bộ ngay, mà ông kéo người đọc xuống biển, đúng hơn là xuống vùng đất mấy trăm cây số ven biển Nam Trung bộ, nơi miên man những cồn cát lớn, nơi vốn mặc định trong ý nghĩ của rất nhiều người chúng ta là đất nghèo, nghèo xác nghèo xơ.

Có thật là thế không, có luôn là thế không, khi trong quá khứ, chính ở vùng đất này đã từng hiện diện một vương quốc Champa cực kỳ thịnh vượng? Sự thịnh vượng ấy từ đâu mà có? Câu trả lời: từ nước mội. “Nước mội là nước rỉ ra từ các chân đồi cát, trong veo, mát lạnh, tinh sạch đến mức có thể bụm vào lòng bàn tay, ngửa cổ uống ngay ngon lành. Ở đây người ta vỡ ruộng ngay trên cát, các đám ruộng được gọi là “thổ”, những đám thổ trồng đủ các loại hoa màu. Ở góc thổ bao giờ cũng có một chiếc ao nhỏ, cạn thôi, nhưng quanh năm lúc nào cũng đầy ắp nước, tát đi lại đầy ngay, cả trong những mùa nắng hạn gay gắt nhất” (tr.44). 

Vậy đó, nước mội giúp người dân xứ cát phát triển sản xuất nông nghiệp. Nó cũng giúp họ phát triển hoạt động giao thương biển, khi ít nhất, dù muốn hay không, thương thuyền quốc tế khi qua các cảng biển ở đây vẫn phải cập bờ để “ăn” nước ngọt. Ngọn nguồn của nước mội ở đâu? “Chính rừng Tây Nguyên, từ trên Trường Sơn rất xa xôi kia, đêm ngày, hàng triệu triệu năm nay, như một người Mẹ vĩ đại, bao dung mà tảo tần, hứng lấy tất cả các nguồn nước của đất trời, cất lấy, để dành, tằn tiện, tuyệt đối không phí mất một giọt nào, để từng ngày từng ngày chắt chiu mà bất tận cung cấp cho đứa con đồng bằng của mình, cho sự sống có thể sinh sôi nảy nở, trường tồn trên dải đất cát trông chừng rất khắc nghiệt kia” (tr.46). Từ xa đến gần, rốt cuộc rồi Nguyên Ngọc lại trở về với Tây Nguyên, quê hương tinh thần, vùng yêu (mà cũng là vùng đau) của mình.

Bằng các trang viết về Tây Nguyên trong tập sách, Nguyên Ngọc đã làm hiển lộ một Tây Nguyên với tất cả sự huyền ảo, mê đắm, đơn giản mà minh triết một cách đặc dị của nó. Có thể nói, xuyên qua những biểu hiện phong phú đến rậm rịt của đời sống, của văn hóa các tộc người Tây Nguyên, ông đã tìm thấy “yếu tố nền”, có ý nghĩa chi phối mọi dạng thức tồn tại ở nơi đây. Đó là Rừng. Tây Nguyên chính là rừng. Nguyên Ngọc khẳng định: “Ở Tây Nguyên, rừng là tất cả, bao trùm. Khởi nguyên là rừng. Chúa dạy: Khởi đầu là Lời. Ở đây, khởi đầu là Rừng. Nguyên lai là rừng. Rừng là bắt đầu và tận cùng của mọi thứ trên đời này. Như không gian, như thời gian, vô tận” (bài Người về Kông Chro, tr.177). 

Một không gian rừng, một thực thể rừng kỳ lạ và kỳ diệu. Nó tỏa ra một sức hút, một sức ám đến không thể cưỡng lại được đối với con người. Rải suốt các bài ký, Nguyên Ngọc đã kể cho ta biết, một cách thật thú vị, về nhiều con người bị rừng Tây Nguyên “ám” như thế nào: Nhạc sỹ Y Yơn, nghệ sỹ múa Giang Nga, họa sỹ Su Man, một ông phó tư lệnh quân khu người Hre, rồi Hruck – con trai anh hùng Đinh Núp v.v… toàn những người đang công tác sinh sống yên lành bình thường giữa cộng đồng, bỗng chốc biến mất. Họ “về rừng”, về chỉ để lang thang trong rừng vài ngày, rồi trở lại.

Thậm chí có những con người vốn sinh ra và trưởng thành trong một không gian xã hội khác hẳn, khi đến với rừng Tây Nguyên, lập tức bị chiếm lĩnh hoàn toàn, họ sống trong rừng Tây Nguyên như những người Tây Nguyên suốt hàng chục năm trời. Đó là trường hợp của các nhà dân tộc học Jacques Dournes (tác giả cuốn P’tao, một lý thuyết về quyền lực ở người J’rai Đông Dương) và Georges Condominas (tác giả cuốn Chúng tôi ăn rừng) – những “ông Tây” đã yêu Tây Nguyên và đã thực sự “sống Tây Nguyên”. Nhưng như vậy thì mới chỉ là sự ghi nhận rừng Tây Nguyên ở bề mặt, ở lớp vỏ. Một người gắn bó với Tây Nguyên hơn nửa cuộc đời - cũng là người, nói như nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên, “đi rất rộng trong văn hóa, đi rất sát với cuộc sống, với nhân dân, và đi rất sâu trong tư duy” - như Nguyên Ngọc, ắt sẽ còn phát hiện từ đó nhiều điều hơn thế nữa.

Rừng là sức hút và rừng cũng là sức đẩy. Rừng là đam mê và rừng cũng là nỗi sợ. Nếu như tôi không nhầm, có lẽ Nguyên Ngọc là người đầu tiên và cũng là duy nhất cho đến lúc này nhận ra rằng: “Con người Tây Nguyên là con người sống rất chông chênh, trên một ranh giới mong manh, bên này là rừng bên kia là xã hội. Họ luôn bị níu kéo giữa hai bên… Tây Nguyên chính là thế chông chênh kia, một thế chông chênh bền vững, một thế bền vững chông chênh” (bài Các bạn tôi ở trên ấy, tr.72).

Cái thế chông chênh ấy lý giải tại sao người Tây Nguyên, vẫn phải sống ở làng, nhưng lại có những lúc bất chợt tan biến mất vào rừng, lang thang vô định trong rừng, như một thôi thúc tự thân, không thể không thỏa mãn, cho dẫu họ luôn ám ảnh nỗi sợ bị sảy chân, bị rơi tõm vào cái âm u hoang dã của rừng.

Cái thế chông chênh ấy lý giải tại sao vào mùa Ninh Nông hàng năm, khi lúa đã gặt xong, mọi cư dân trong làng người Xơ Đăng lại bỏ tất cả nhà cửa, vật dụng, quần áo mà vào thật sâu trong rừng mươi ngày, nửa tháng, hái lượm tìm cái ăn, cọ đá vào nhau để làm ra lửa, dùng cái cây mà ném con thú… như người nguyên thủy, và năm nào cũng vậy. 

Cái thế chông chênh ấy cũng lý giải tại sao đi giữa rừng Tây Nguyên, thỉnh thoảng ta lại bắt gặp một khoảnh đất lạ, mang dấu vết của một nơi từng là làng: mấy cây mít, xoài, vài bụi ớt hiểm, mấy cây cà đắng, dăm cột nhà cháy… Người Gia Rai gọi đó là rngol, “Rngol là một khoảnh nhỏ con người đã mượn của rừng để thuần hóa làm làng, plei, làm văn hóa, nay lại trả về cho rừng, và hoang dã đang chiếm lại, rất nhanh. Cũng có thể một hôm nào đó con người lại đến đây, lại mượn thêm lần nữa, thuần hóa cho mình một đoạn khúc nào đó, rồi lại trả, cho thành rngol, rồi lại mượn, làm plei, và lại trả…” (bài Akhan, mùa xuân, tr.248). 

Cứ thế, trên thực địa Tây Nguyên của mối quan hệ rừng, đại diện cho tự nhiên, và người, đại diện cho văn hóa, Nguyên Ngọc đã tiến tới một nhận thức mang tính biện chứng về quan hệ giữa văn hóa và tự nhiên: “Văn hóa là sự cố gắng bứt ra của con người khỏi tự nhiên, bứt ra nhưng vẫn cứ phải dính liền, không chìm nghỉm trong ấy nhưng vẫn còn phải nhúng rễ rất sâu trong ấy, nếu không muốn khô khốc, cằn cỗi, chết rụi” (bài Các bạn tôi ở trên ấy, tr.72). Đây là một nhận thức quan trọng, theo tôi, quan trọng đến mức nó có thể và cần phải trở thành kim chỉ nam cho một định hướng phát triển bền vững về mọi mặt ở Tây Nguyên, và không phải chỉ ở Tây Nguyên. 

Trước hết, nó giúp ta hiểu rằng với con người thì tự nhiên chính là bào thai mẹ, là nguồn dưỡng chất, là cái Gốc. Cái cách mà chúng ta đã và đang làm với rừng Tây Nguyên – chặt và đào, hùng hục khai thác, tàn phá rừng đến cùng kiệt – không gì khác hơn, chính là hành động triệt hạ cái Gốc kia. Khô hạn và lũ lụt từ đấy mà ra. Và con người Tây Nguyên, khi không còn rừng nữa, còn có chỗ nào để họ thỉnh thoảng tan biến vào, tự làm mới lại tâm hồn mình bằng cách tắm gội trong ngọn nguồn nguyên thủy?

Còn có không gian nào để từ đó những lễ và hội, những nhà rông nhà dài, những đêm akhan miên man, những ché rượu cần, những cồng và chiêng, những cuộc diễn tấu Klong Put tự nhiên và đầy ngẫu hứng… tồn tại, vận hành trong một thể thống nhất, hữu cơ? Không ít lần Nguyên Ngọc đã lo sợ: “Tây Nguyên đang mất gần sạch rừng xanh rồi. Đại ngàn thì tuyệt đối không còn. Tất cả đang trống trơn, phơi ra đỏ ngầu đất trơ khô cháy. Con người ở đấy rồi sẽ ra sao đây? Thú thật, tôi chưa biết, chỉ lo sợ. Rất lo sợ” (bài Tây Nguyên, mùa lễ hội, tr.270).

Thứ hai, nhận thức trên sẽ giúp ta hiểu đúng về đặc điểm của văn hóa tộc người, tránh được những ngộ nhận, nhờ thế, không ứng xử sai và không dẫm phải vết xe đổ của sự áp đặt văn hóa. Trong tập bút ký này, Nguyên Ngọc đã nêu nhiều dẫn chứng chứng minh điều đó. Người ta xúc phạm đến người Tây Nguyên khi “cả gan” hỏi mua hoặc đặt làm tượng nhà mồ chỉ vì không hiểu rằng tượng nhà mồ không phải thứ làm ra để bán, người chế tác tượng (có thể là bất kỳ ai) không hề nghĩ mình là nghệ sỹ đang sáng tạo nghệ thuật, anh ta thậm chí còn không có chủ định làm ra pho tượng nữa kia. “Ở Tây Nguyên không có người nghệ sỹ chuyên nghiệp. Người ta không làm nghề nghệ thuật. Nghệ thuật tuyệt đối không phải một nghề. Nghệ thuật là đời sống, cách sống, thế thôi. Là hơi thở, là không khí… Ở Tây Nguyên, vậy đó, người ta làm nghệ thuật vì chẳng đừng được. Vì một khao khát tự bộc lộ, tự biểu hiện, tự bóc mình ra, đột ngột ập đến, không cưỡng lại nổi” (bài Tượng gỗ rừng già, tr.33, 34, 35). 

Người ta đã vô duyên, đã phí tiền của công sức khi làm và “đem cho” làng Tây Nguyên cái nhà rông đúng kiểu truyền thống, vì không hiểu rằng nhà rông phải do tự làng làm lấy, sống đời sống của làng, nó chính là linh hồn của làng. “Một cái nhà rông đem cho, dù người cho là ai, dù với thiện chí chân thành đến bao nhiêu và đẹp đẽ đến mấy, sao chép giỏi đến mấy kiểu nhà rông đúng nhất, cổ xưa nhất, vẫn là một ngoại vật, một dị vật trong đời sống của làng” (bài Nhà rông, hồn của làng, tr.57).

Cuối cùng, quan trọng hơn cả, nhận thức trên sẽ giúp ta hiểu đúng giá trị của văn hóa tộc người, từ đó tránh được sự kỳ thị (công khai hoặc ngấm ngầm) về văn hóa. Còn nhớ, vào những năm năm mươi của thế kỷ XX, trong một hội thảo quốc tế về chống phân biệt chủng tộc, nhà dân tộc học lừng danh thế giới Claude Levy Strauss trình bày một bản báo cáo có tên Lịch sử và chủng tộc (đã có bản dịch tiếng Việt, của Huyền Giang) trong đó ông nhấn mạnh: không có những nền văn hóa tộc người cao hơn hay thấp hơn, mà chỉ có những nền văn hóa tộc người khác nhau.

Đọc tập bút ký của Nguyên Ngọc, thấy rõ ràng văn hóa Tây Nguyên là một nền văn hóa khác biệt, và là một sự khác biệt cần phải, rất đáng được trân trọng, cho dẫu đó là sự khác biệt của một thiểu số. Có thể nói, Nguyên Ngọc đã trầm mình vào nó, quan sát, cảm nhận, đánh giá nó với tư cách của một người bên trong chứ không phải một người ở bên ngoài hay ở bên trên. Bởi thế, dễ hiểu tại sao ông đã viết, với đầy sự tự hào về vẻ đẹp của nhà rông Tây Nguyên, vẻ thanh nhã cao quý của già làng Tây Nguyên trong đêm kể sử thi.

Bởi thế, dễ hiểu tại sao ông đã viết, rất say sưa và đầy sự đồng cảm, về bản tính thích đi lang thang vô định của người Tây Nguyên, quan niệm của họ về cái sống và cái chết, đàn ông và đàn bà, hôn nhân và tình dục, làm và chơi, tích lũy và đem cho v.v… Phải đắm đuối với Tây Nguyên đến thế (đắm đuối nhưng tỉnh táo!) ông mới có thể làm được một sự liên hệ thú vị giữa lễ thổi tai với rượu cần, và nhận ra ở đó một triết lý:

Nhớ và quên, ngẫm mà xem, phải chăng nói cho cùng đó là hai lẽ sinh tồn tuy hai mà một, hai mặt chủ yếu không thể tách rời của công cuộc làm người ở đời. Không biết nhớ thì hiển nhiên không thể là con người rồi. Song sống mà không biết quên, không có những lúc biết quên đi đến mức “nẻ cả lỗ tai” thì cũng chẳng thể nào sống nổi trên cõi nhân gian biết mấy khổ đau, quá phức tạp và nhiêu khê này. Cuộc đời này, phải chăng lắm lúc cũng đáng quên biết bao nhiêu, quên phứt đi cho rảnh, cho rồi, mà ngẫm cho cùng cũng lại đáng sống để mà nhớ lấy biết bao nhiêu” (bài Lễ thổi tai và rượu cần, tr.314).

Đó là minh triết mà Nguyên Ngọc nhận được từ văn hóa Tây Nguyên. Minh triết của rừng.

HOÀI NAM
(NGƯỜI ĐÔ THỊ)

TIN LIÊN QUAN:






Thứ Bảy, 6 tháng 4, 2019

Cành đào cuối cùng của Văn Cao

Cứ mỗi dịp Tết đến xuân về, khắp phố phường Hà Nội lại tràn ngập sắc hoa. Hoa trong quầy, hoa trong quán, hoa bán vỉa hè, hoa gánh trên vai, trên xe đạp, trên xe máy len lỏi vào khắp ngõ ngách của đường phố.
Nhà thơ, nhạc sĩ Văn Cao

Khắp các cửa ô đều trở thành những chợ hoa với hàng trăm loại hoa đua sắc mà không thể kể hết được. Hoa là một nhu cầu, một yếu tố tinh thần không thể thiếu của người Hà Nội trong những ngày Tết. Chơi hoa, chơi cây cảnh là một thú chơi tao nhã và tinh tế từ xa xưa của người Tràng An ngàn năm văn hiến.

Nhạc sỹ Văn Cao là một người yêu thích hoa. Ông còn là họa sỹ, phải chăng vì thế mà ông có phần yêu các sắc màu rực rỡ của hoa mà tạo hóa ban tặng thế gian này hơn những con người bình thường chăng?

Trong nhà Văn Cao luôn có một lọ hoa đặt trên nóc đàn piano tùy theo mùa của các loài hoa. Mùa xuân có hoa lay ơn, mùa hè có hoa sen, mùa thu có hoa cúc… Song có lẽ thứ hoa ông thích nhất là hoa đào, thứ hoa chỉ nở một năm một lần vào đúng những ngày Tết cổ truyền của dân tộc.

Có lẽ vì thế trong nhiều tác phẩm của mình ông đều nhắc đến loài hoa đó. Trong bài “Thiên thai” ông viết “… Thiên thai chốn đây hoa xuân chưa gặp bướm trần gian, có một mùa đào dòng ngày tháng chưa tàn qua một lần…”.

Hay trong bài “Tiến về Hà Nội”, ta lại thấy“… Năm cửa ô đón mừng đoàn quân tiến về, như đài hoa xuống cành nở năm cánh đào, chảy dòng sương sớm long lanh…”.

Chính vì thế, cứ đến Tết, dù bận mấy, ông đều đi chợ hoa truyền thống tại phố Hàng Lược, đắm mình trong rừng hoa khoe sắc giữa lòng phố cổ Hà Nôi để quên đi những ngày tháng vất vả lo miếng cơm manh áo.

Len lỏi trong dòng người dòng đời là hình ảnh một nhạc sỹ già thân hình gầy guộc, chống ba toong với đôi mắt sáng, kiên trì chọn mua một cành đào ưng ý nhất…

Tôi còn nhớ cái Tết năm Ất Mùi (1995). Mùa xuân năm đó rét hơn mọi năm. Sức khỏe của cha tôi -Văn Cao đã yếu nhiều nhưng nghe tin cô con gái ở Ba Lan về ăn Tết với gia đình, ông vui lắm.

Đã lâu lắm rồi gia đình chưa có một cái Tết đông đủ con cháu. Sáng 27 Tết, một người bạn mang đến biếu cha tôi cành đào bích to như một cái nơm, nụ hoa nhiều nhưng lá trông không được tươi. Nhìn cành đào, cha tôi có vẻ không ưng lắm.

Một lúc sau ông bảo cậu em tôi đèo lên chợ hoa Hàng Lược. Ông thích chơi đào phai. Với ông đào phai đẹp hơn đào bích vì nó có dáng tự nhiên không bị uốn nắn, lộc lá nhiều, sắc hoa phớt hồng khép nép e lệ như một thiếu nữ bước vào tuổi dậy thì.

Gần trưa mới thấy ông về, trên tay ông là một cành đào bích có thế rất đẹp. Tôi hơi ngạc nhiên hỏi: “Sao năm nay bố lại mua đào bích? Đã có một cành đào bích rồi mà”.

Ông nở nụ cười bảo: “Năm nay rét, đào phai kém lắm. Bố phải tìm mãi mới chọn được cành đào này. Năm nay em Hương nó về, chơi đào bích cho không khí gia đình vui tươi hơn”.

Buổi chiều hôm đó cô em tôi đến. Nhìn thấy hai cành đào, nó reo lên: “Đẹp quá. Bố mua những hai cành cơ à? Con mới về còn mải đi trả quà cho mọi người nên chưa đi sắm Tết được”.

Cha tôi cười: “Bố mua có một cành thôi còn một cành người ta biếu, bố cho con một cành đấy, thích cành nào thì con đem về chơi Tết. Lâu lắm rồi con mới về ăn Tết với gia đình, có cành đào trong nhà thì mới ra không khí ngày Tết”.

Cô em tôi sướng quá, nó cứ tần ngần định chọn cành đào thế cha tôi mua nhưng rồi lại lấy cành đào được biếu vì hiểu rằng cha tôi thích đào thế.

Nhiều năm sống gần gũi Văn Cao, tôi hiểu rõ thú chơi đào của ông. Theo Văn Cao, đào đẹp đầu tiên là ở cái dáng, cái thế của cây, của cành, sau mới là hoa và lá. Muốn hoa đẹp, phải chọn những cành nhiều nụ, nụ to và mập thì hoa mới đẹp, chơi được lâu.

Có những năm, cha tôi chọn được cành đào hoa nở đẹp qua tận rằm tháng giêng. Cành đào cha tôi mua về năm đó quả là rất đẹp, nụ to và nhiều, xen với lá xanh tươi mơn mởn, trên cành mới nở dăm bảy bông hoa to và đỏ thắm. Cha tôi ngắm cành đào và tỏ vẻ ưng ý lắm. Ông  bảo: “Cành đào này nụ nhiều có thể chơi được qua rằm…”.

 Nhà tôi có một cái lọ sành to, cao khoảng 2 gang tay chuyên để cắm đào, tôi đổ nước vào và bê cho cha tôi. Văn Cao lấy cành đào ra, cẩn thận châm lửa đốt cháy một đoạn gốc để hãm hoa nở chậm.

Đặt cái lọ vào một góc phòng khách đối diện cửa ra vào, ông thận trọng cắm cành đào và chèn gốc cẩn thận rồi xoay cho thế của cây đào đúng vị trí đắc địa nhất. Ông sợ nhất những cành đào nở tung tóe, chưa hết Tết hoa đã úa tàn.

Đối với ông nếu năm nào đúng giao thừa sang ngày mùng 1 Tết mà đào nở ra đều khắp các cành thì năm đó sẽ gặp nhiều may mắn.

Bữa cơm chiều 30 Tết đối với dân tộc ta rất thiêng liêng. Nó là bữa cơm hội tụ toàn gia đình, cả năm mới có một lần để tưởng nhớ đến tổ tiên, dòng họ. Nhưng ở gia đình tôi, cha tôi thường mời thêm một số người bạn, họ là những người không có gia đình hoặc vì điều kiện phải sống xa nhà…

Cha tôi bảo: “Bố mời các chú ấy đến ăn tết với gia đình ta cho vui. Không khí ấm cúng, có đông đủ con cháu trong nhà sẽ làm vợi đi nỗi nhớ nhà, nhớ quê, bớt đi nỗi cô đơn trong những ngày Tết. Bố cũng vui hơn vì có bạn uống rượu”. Tôi hiểu lòng cha tôi.

Nhưng Tết năm đó không thấy cha tôi mời bạn. Cả gia đình tôi quây quần bên mấy mâm cỗ, con cháu ríu rít thay nhau chúc sức khỏe ông. Cha tôi vui lắm, có lẽ nhiều năm rồi ông mới lại có được một cái Tết vui vẻ và đầm ấm như thế. Ông ngồi nhấm rượu với mấy miếng pho mát cô em tôi mang từ Ba Lan về. Đôi mắt ông sáng lên, hài lòng nhìn lũ cháu cười nói, ăn uống thoải mái, vô tư…

Đêm 30 Tết cành đào của ông nở bung ra hàng chục bông hoa đỏ thắm. Con cháu đã nhà nào về nhà nấy còn lại mình ông lặng lẽ ngồi nhâm nhi ly rượu, ngắm hoa đào nở, chờ đón giao thừa.

Sáng mồng 1 Tết, mãi gần trưa hai vợ chồng tôi mới lên nhà chúc Tết cha mẹ. Vừa bước vào nhà tôi đã ngẩn người nhìn cành đào. Mới tối qua, cành đào nở đẹp như tranh vẽ, vậy mà sáng nay hoa đã héo rũ.

Cha tôi lặng đi, đôi mắt thoáng một chút thất thần nhìn tôi, ông bảo: “Chốc nữa con mang cây đào ra ngoài sân, đêm nay có hơi sương nó tươi lại thì may”. Lát sau cô em tôi đến, vừa bước vào mồm đã oang oang: “Bố biết không cây đào bố cho con hôm nay nở đẹp lắm, ai cũng khen”. Cha tôi cười nhẹ: “Đào mà nở đẹp vào sáng mồng một thì năm nay số con sẽ gặp nhiều may mắn trong công việc làm ăn”.

Những ngày Tết vui vẻ rồi cũng qua đi, cô em tôi trở về Ba Lan, anh em chúng tôi lại trở về với cuộc sống thường nhật. Tuy nhiên, tôi vẫn tôi vẫn áy náy về cành đào héo vào đúng ngày mồng một tết của cha tôi.

Sau tết không lâu, lên thăm cha tôi, ông vẫn khỏe, tôi cảm thấy yên tâm. Hai cha con ngồi tâm sự, ông bảo: “Hôm vừa rồi bác Trúc Lâm đến chơi, xem tử vi cho bố. Bác bảo năm nay bố có cái hạn ốm đau, bác dặn bố đừng vào viện”…

Rồi cha tôi cười: Tao mà ốm là mẹ mày bắt đi bệnh viện ngay, ở nhà bà ấy không hầu được… Con người ta có số đấy”.  Mùa xuân năm ấy cha tôi vẫn sống vui vẻ và khỏe mạnh. Ông vẫn đi đây đó thăm thú bạn bè. Tôi cũng quên đi mọi chuyên.

Không ngờ cuối tháng thì cha tôi phải vào Bệnh viện Việt Xô vì bệnh cũ tái phát. Hai tuần sau vào ngày 10-7-1995, ông ra đi, để lại cho gia đình chúng tôi một khoảng trống không thể bù đắp. Cho đến bây giờ cứ mỗi khi tết đến xuân về, anh em chúng tôi lại mang một cành đào đến mộ thắp nhang mời ông về ăn Tết với gia đình, con cháu.

Nhạc sỹ Văn Cao đã ra đi, bỏ cõi trần gian để về với chốn thiên thai - cái cõi Đào Nguyên ấy luôn“… Có một mùa đào dòng ngày tháng chưa tàn qua một lần”… Phải chăng, Thiên thai là cõi mơ của Văn Cao.

VĂN THAO
Theo VNCA

TIN LIÊN QUAN:



Thứ Năm, 4 tháng 4, 2019

Truyện ngắn Sơn Nam: Hương rừng

Sống ở rừng U Minh Hạ từ lâu rồi mà Hoàng Mai hãy còn có cảm giác như lạc loài tận đâu đâu, bước chân đi không vướng đất. Ví nàng như cánh bèo rày đây mai đó thì không đúng lắm: có lẽ nàng như đoá hoa sen, gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Nhưng loại hoa sen thông tục quá, lại thường lọt vào tay phàm! Đằng này, bẩm sinh nàng thuộc về một phẩm chất thanh cao hơn.
Nhà văn Sơn Nam

– Tằng tổ nhà ta vốn họ Trần, nhờ dày công phò chúa từ Thuận Hoá đến đây nên được cải ra họ Nguyễn, Niên mỗ, ngoạt mỗ, quân Tây Sơn đến mãi tận chốn rừng già này, chúa Nguyễn đành ra khơi tìm nơi cứu viện. Thảm hại thay! Tằng tổ nhà ta tuổi già, nhuốm bịnh không vượt biển hộ giá được, đành cam lỗi đạo quân thần, giả dạng lê dân, nương náu nơi chốn thanh lâm u cốc. Người được phong đến chức ngự y. Gia phổ ghi chép rành rành, nói xứ này, chỉ dòng họ ta là có gia phổ, đó con.

Cha của nàng thường nhắc nhở như vậy.

– Là quan ngự y, cớ sao tằng tổ ta không tự chữa bịnh được. Hẳng là bệnh nan y! thưa cha…

Bao lần nàng ướm hỏi như vậy nhưng không dám. “Thuộc dòng hoàng phái nhưng sao triều đình không chú ý tới mà ban cho chút bổng lộc?”. Đó là nỗi thắc mắc triền miên của nàng khi thấy cha già chuốt tre đan giỏ mà độ nhựt hoặc ngồi buông cán câu bên bờ trúc, giữa trăm bầy muỗi rừng.

Thỉnh thoảng, cha nàng nói khẽ như thanh minh, tự an ủi:

Hoàng đế đang tức vị thuộc dòng ngụy, do tân trào dựng lên. Giọt máu hùng anh của tiên vương này đã bị lưu đày nơi hải đảo Bòn Bon, bặt tăm nhàn cá. Nhận chức hương giáo trong ban hội tề làng Khánh Lâm sở tại, chẳng qua là cha muốn bưng bít dư luận. Bổng lộc của tân trào, cha nào màng, chỉ nguyện làm bạn bầu với cây cỏ, gió trăng.

Ngày ngày lớn khôn, Hoàng Mai càng yên tâm tin tưởng nơi dòng máu quí phái của mình. Cội hoàng mai cổ thụ trước sân, há chẳng là một bằng cớ? Bao năm rồi, nó vẫn bền gan khoe sắc khi gió Tết thổi về; vùng U Minh này mấy ai biết thưởng thức giống hoa vương giả lạc loài! Bản Nam Bình réo rắt trong ruột cây đàn thập lục chỉ để riêng cho nàng thông cảm đó thôi… Nhưng cơ trời không ai ngờ được, tránh được. Mây đẹp của đỉnh Ngự còn có khi tan, nước yên làng của dòng Hương thường bị gợn những làn sóng nhỏ. Năm ngoái, năm kia, khi vừa quá tuổi trăng tròn, một buổi chợt soi mặt vào lu nước mưa, nàng bắt gặp cái màu trắng trong leo lẻo của dàn da mình. Miệng chúm chím hàm tiếu, nàng vuốt mớ tóc đen huyền; bàn tay ngà đặt trên má đỏ hây háy, mơn man chuyền suối tóc về trên sau lưng gầy. Nhưng… lạ kìa! Hàng chục sợi tóc thi nhau tuôn xuống.

Gió nhẹ thoảng qua; chân tóc lấm tấm đung đưa, vướng bận chưa chịu bay đi như còn than van niềm biệt ly vô cớ. Nàng cau mày trở vào phòng, cầm lược chải kỹ. Nàng toan rú lên. Lược đùa đến đâu là tóc rụng đến đó như lá úa trên cành đến độ gió trở mùa. Nàng e thẹn. Nàng giận dỗi.

Thân phụ nàng – Ông hương giáo – chạy tới. Nàng soi gương, không day lại rồi trả lời về tiếng rú khi nãy:

– Không gì lạ đâu, thưa cha.

Ông hương giáo đã hiểu nguồn cơn. Mớ tóc rối nằm cuộng đống trên bàn khiến ông xúc cảm, không che giấu được cơn buồn. Chiếc gương mờ soi đôi má ửng của Hoàng Mai, màu ửng đỏ lạ thường, không biến đổi dầu khi nàng sợ hãi.

– Từ hồi tấm bé, làn da của Haòng Mai mịn quá, bóng quá. Trăm sự đều do đó mà ra…

Ông thở dài, cũng như ông đã thở dài hồi mấy năm trước, tuy gió bấc về không lạnh lắm nhưng Hoàng Mai đòi đốt lửa để sưởi rồi dẫm chân lên than hồng mà cưòi. Đêm đến, ông nghe tiếng rên khe khẽ. Ngỡ là con gái nhuốm bịnh, ông đến gọi cửa đôi ba lần. Hoàng Mai nằm đó, tỉnh mà như say, hơi thở hổn hển, đôi mắt úp vào chiếc gối mềm như trốn tránh mấy sợi tơ trăng buông xuống từng hồi, khi gió rạt rào khẽ rung làm hở ra mấy mí lá che trên đầu vách.

Bịnh của nàng, ông doán được, ngặt không muốn nói rõ tên ra: bịnh nan y – bịnh cùi. Ông chỉ khuyên con gái năng đi duốc vì ở rừng này… “phong” nhiều lắm. Quyển gia phổ ngủ từ lâu đời dưới lớp bụi trên bàn thờ được vời xuống. Lật ra kính cẩn dưới ánh nến bạch lạp. Hơn trăm năm qua, kiếng họ Nguyễn chưa ai nhiễm chứng ấy, rõ ràng không phải bịnh di truyền. Ông suy luận:

– Có thể nhà mình đắp nền trên ngôi mộ xưa của ai. Và tự ngày xưa, ai dám, chối rằng khu rừng này không là bãi sa trường mà người thắng kẻ bại đều lẫn lộn trong đống xương Vô Định đã hóa ra cát bụi:

Trang phụ lục thứ sáu của quyển gia phổ thứ nhứt còn thố lộ vài chi tiết khó hiểu, viết bằng chữ nôm:

“Đến Ngạc Ngư Đàm tức Đầm Sầu, Ao Sấu, hơi sương lạnh buốt, chướng khí xây thành. Khách hỏi: loại Ngạc Ngư (cá sấu), từ đâu lạc vào đầm? Kẻ thổ dân thưa: không ai rõ. Chúng đến đây như án ngữ nẻo đường qua truông quỉ. Nơi ấy, muôn nghìn ma quái như ẩn, như hiện. Lại có loài ong dị thường năng về là ổ; lạo ong này lưng nhuộm ngũ sắc, vượt thiên lý để hái nhụy trăm hoa đem về luyện Ngọc. Người phàm chưa ai đến gần được.

Chúng không sợ khói, hửi nhằm hơi kim khí ở trược là chúng ào ra như giông tố giết cho kỳ được kẻ ngạo mạn. Quan ngư y họ Trần biết được tin ấy bèn sai quân sĩ bày mưu kế hòng cướp ổ ong nọ, đoạt loại Ngọc thiên nhiên hiếm có đem về luyện thuốc trường sinh…”

Tư Lập, tay thanh niên khét tiếng về nghề ăn ong ở xóm Cán Gáo được ông hương giáo mời về nhà, bày rượu thịt thết đãi, đối xử như thượng khách.

Trang gia phổ lại giở ra, đọc nho nhỏ vừa đủ cho Tư Lập nghe. Tư Lập gật đầu.

Trong rừng già này, bên kia Ao Sấu, thỉnh thoảng loài ong ngũ sắc ấy trở về. Ban đầu chú Tư dùng con dao xương nai mà cạo lấy mật nhưng không hiệu quả. Lần sau, chú mài miếng xương người, dẹp như cây dao, theo ý muốn của ông hương giáo. Ngọc ong đã lấy được, đem về. Chú bán tín bán nghi vì thấy “ngọc” chỉ là mớ nhụy bông quế lại thành ké mà loài ong dự trữ bên góc ổ. Từ đấy, ông hương giáo mời Tư Lập ở luôn trong nhà cho có bạn. Ngày đêm, ông chong hàng chục ngọn nến bạch lạp chung quanh mớ “ngọc” để luyện, hy vọng rằng khi đúng một ngàn ngày nó sẽ trị được bịnh nan y của Hoàng Mai. Tư Lập như không chú ý đến điều vô lý đó, cứ ra vào nhìn trộm hình dáng giai nhân rồi nằm trằn trọc… mãi đến một đêm nọ, lúc đứng ngắm thẫn thờ cội mai già trước sân, chú nghe hơi thở nào ấm nồng, nhồn nhột sau gáy:

– Anh Tư ở đây vui chớ? Nãy giờ em không dám hỏi.

Chú nhìn kỹ: không phải là dạng hồ ly tinh trêu cợt, chính là Hoàng Mai cô gái con ông hương giáo mà bấy lâu nay chú trộm nhớ thầm thương.

Nàng nói tiếp:

– Cha của em dặn em gọi bằng anh. và đừng làm gì anh buồn.

Chú hiểu ý. “À té ra bấy lâu nay ông hương giáo thương mình”. Chú đánh bạo tìm bàn tay nàng. Nàng lắc đầu:

– Em hơi mệt, như vậy…

Rồi nàng nâng tay áo lên, thứ tay áo lỏng thỏng quá rộng quá dài:

– Anh nắm cái chéo tay áo này, em cũng đủ vui rồi.

Cảm đông làm sao! Ngạc nhiên làm sao! Một mùi hôi hám từ trong tay áo bay ra. Khi níu cái chéo tay áo của người đẹp. Tư Lập thấy rõ ràng bên trong: ngón tay của nàng rụng mất hồi nào, chỉ có năm cuộn vải nhỏ vấn khéo léo thay thế.

Hôm sau, chú viện cớ ra đi lúc mùa bông tràm nở trắng rực. Chú không thèm làm nghề ăn ong nữa. Hàng trăm tấm kèo bằng cây mun, chú giao lại cho ông hương giáo. Chú về ở long Xuyên. Nhưng hương rừng có ma lực quyến rũ. Lúc mới đến thì vui. Ở lâu lại sanh buồn. Xa cách lâu ngày thì đâm ra nhớ không nguôi, không trở lại thì không được.

Chú lại trở về.

***

Sông Trèm Trẹm bắt nguồn từ xóm Cán Gáo chảy về phía Nam, qua xóm Tân Bằng rồi đổ ra sông Ông Đốc, hòa mình vào vịnh Xiêm La.

Thằng Kim nóng lòng, không biết Tư Lập muốn dừng lại làm ăn ở khúc nào. Giây lâu, Tư Lập nói:

– Rừng U Minh còn nhiều bí mật! Đừng lo mà. Tao hứa dẫn mày tới chỗ này vui lắm, đừng sợ chết đói. Có tao.

Xuồng ngừng lại giây lát nghỉ trưa rồi mái dầm lại tiếp tục khoát dòng nước đỏ ngòm, tuy chảy mạnh nhưng tứ bề khuất gió nên không gợn sóng. Đôi bờ quanh co, hoa lá nghiêng mình lại, gioa đầu, bắt tay nhau che kín bóng mặt trời.

Khách đi đường ngỡ mình lạc lối trong hang, thứ hang thiên nhiên, bất tận. Có tiếng vượn hú. Từ bên này, con vượn bồng con, nắm sợi dây rau câu, lấy trớn đu mình sang nhánh ở bờ bên kia để hái trái rừng. Trái quá chát, vỏ quá dày, vượn nhăn mặt, bực tức ném mạnh. Trái vừng sa vào giữa lưới nhện giăng hờ, lơ lửng. Lưới rung rinh không đứt hẳn; con nhện hoảng hốt, thả sợi tơ dài, sa xuống. Chợt thấy mặt nước, nó toan rút lên. Nhưng trể quá rồi! Con cá bông phóng mỏ theo, táp mạnh. Thằng Kim ngỡ đó là con trăn. Cá lớn bằng cây cột nhà, vảy xanh vảy trắng thêu từng vòng ngời lên khắp thân mình. No mồi, cá lặn sát đáy, lội nhanh. Bầy cá con hối hả di chuyển theo mẹ, hàng trăm con lấm tấm như rắc cườm đầy mặt nước, mất dạng trong bóng mát đằng kia. Bờ sông im lìm, mặt nước thẫn thờ trả lại bóng dáng hiền hòa của cây chồi mọc sát mé bãi; bông vừng buông thõng xuống từng xâu chuỗi hường, chen lấn, nối tiếp nhau như bức mành mành. Nhánh vừng khó cắn, lá vàng rụng mất hẳn. Đôi đọt non nhú lên, mỏng mịn, chưa nhuốm được màu xanh vì thiếu nắng; ở xa, trông như những cánh bướm khổng lồ đang phập phồng, ngứa ngáy, chưa đậu yên chỗ là đã chớm bay.

– Kim, mày biết nước sông này màu gì không?

– Ở dưới sông, giống như màu máu bầm. Múc lên tay coi thì như nước trà pha đậm.

Tư Lập day lại:

– Hồi xưa, có người nói nó giống như cà phê đen. Ờ… mày uống cà phê lần nào chưa?

– Chưa, chú Tư à.

– Bán thiếu gì, tại chợ Thới Bình. Dân ở chợ là người mới tới mua bán lập nghiệp, họ chưa dám đi sâu vô rừng làm ăn như tụi mình bây giờ. Họ nể nang dân phía này lắm.

– Sao vậy, chú Tư?

– Vì dân này là dân cố cựu, phá sơn lâm, đâm Hà Bá dọn đường cho họ tới sau làm ăn. Con nhà tướng đi mở đường máu mà!

Tư Lập vừa nói vừa vói tay đập sau lưng. Thằng Kim đã hiểu nghĩa mấy tiếng “mở đường máu”. Ba bốn đốm máu đỏ ngời: mấy con muỗi vừa bị đè nhẹp xác.

Nó sực nhớ tới bầy muỗi bu quanh nó từ mấy ngày rày. Ban đầu, nó bực mình, đập giết thẳng tay, phải buông dầm khiến xuồng lủi vô bờ. Mổi lần như vậy, Tư Lập day lại:

– Cứ bơi lẹ, muỗi cắn ít hơn. Ở lầy quầy mình bị cắn nhiều mà không đi tới đâu hết. Xuống xuồng để bơi chứ đâu phải để đập muỗi!

Nghe lời Tư Lập, thằng Kim bấm môi chịu đựng.

Vài tiếng gà gáy văng vẳng, hưởng ứng nhau phá tan bầu không khí tĩnh mịch. Vòm cây lần lần trống trải nắng rớt từng mảng, ngưng đọng không chịu trôi theo dòng nước ngày càng chảy hăng. Bên bờ, nước đổ róc rách theo con lạch nhỏ, vỏ tràm trôi lềnh bềnh trắng. Thằng Kim nôn nức:

– Tới chỗ nghỉ chưa, chú Tư?

– Chưa. Hai voi nữa. Mày nhớ không, hồi sáng tới giờ mới qua có sáu voi.

Hai voi, đường còn xa. Thằng Kim yên lòng vì sẽ đến chỗ nghỉ trước khi trời sụp tối:

– Chú có bà con ở đây hả?

Tư Lập cau mày không trả lời, mở gói thuốc ra vấn hút. Đó là gói thuốc mà chú hứa tiết kiệm, để dành hút khi tới nơi.

Thằng Kim đoán chừng Tư Lập đang suy nghĩ nhiều. Chú lẩm bẩm:

– Ừ, bà con hay là người dưng, chuyện đó không quan hệ. Nhắc tới tao buồn quá, muốn quày trở lại bây giờ. Nhưng đã tới đây rồi không lẽ lại trở về. Tao không muốn kiếm nhà quen. Ở gần xóm đông thì bất lợi, ở xa quá cũng hại. Mày tin tao. Tao không dại gì trở lại đây mà tìm cái chết… Ờ, mày họ gì? Mấy ngày rày, tao quên hỏi.

– Họ Trương hay họ Trần gì đó, tôi quên rồi. Nghe nói hồi đó ba tôi đổi họ.

– Ối! Họ gì cũng được, miễn tới chừng người ta hỏi thì đừng trả lời lập dập. Nói vậy chớ ai xét hỏi. Tao có quen với vua. Hồi xưa, có người ở xóm này được cải ra họ Nguyễn cho giống với họ vua… Họ nói vậy hay lắm.

Thằng Kim ngơ ngác hỏi:

– Bà con với vua sao lại ở đây?

Tư Lập không trả lời. Chú bơi mạnh, mũi xuồng quẹo vô bờ, phía trái. Vàm mương nhỏ hiện ra. Chú nói:

– Mày nghỉ tay đi. Tới phiên tao rồi…

Ngồi trước mũi, chú bơi phía mặt vài dầm rồi trở lẹ qua bên trái, bơi vài dầm. Xuồng lướt tới ồ ồ. Gặp dây, gặp nhánh cây cản mũi, chú bứt, bẻ rôm rốp. Gặp nước cạn, chú đứng mà chồng hoặc quì trên sạp xuồng, ngả mình tới lấy trớn. Thằng Kim vui sướng quá. Lúc này nó khỏe tay, dầu muốn tiếp sức với Tư Lập cũng không được. Mũi xuồng quá nhỏ, nào đủ chỗ để hai người cùng ngồi ngang nhau. Hơn nữa, bơi xuồng theo lối mới này nó chưa quen. Mặt trời sụp xuống thấp, rọi thẳng từ trước mặt. Con rạch quá nhỏ, uốn ngoằn ngoèo như ruột ngựa nối liền qua những lung, bào, tròn tròn méo méo như hình mấy cái bao tử, gan, lá lách… Sậy mọc khỏi đầu.

Hương rừng ngào ngạt, mùi hương xa lạ nhưng rất quen thuộc. Thằng Kim hít mạnh để hửi cho kỹ, để nhớ cho rõ nhưng nhớ mãi không ra. Chợt ngẩng đầu lên, nó trố mắt. Rừng cơ hồ không còn chiếc lá nào cả! Trên hàng vạn nhánh nhỏ, bàn tay thần nào rắc lấm tấm hằng hà sa số đợt bông gòn, không phải riêng trước mặt mà khắp các tứ phía. Rừng sáng lạn, ai dám nói là rừng âm u? Bông kết oằn sai, mịn màng, trắng tuyết; đài, cánh đâu không thấy chỉ thấy toàn là nhụy ngọt.

Nó buột miệng:

– Rừng cây gì vậy? Chú Tư.

Tư Lập day lại cười vang:

– Thằng quỉ! Hửi mà không biết mùi mật ong sao? Tràm chớ giống gì! Muôn ngàn hũ mật ong của trời ban xuống cho trần gian còn treo lủng lẳng như mù sương trên nửa lừng đó. Hửi vô thì say. Say thì không tỉnh được. Có người toan dùng nó mà luyện thuốc trường sinh, từ trăm năm nay…

***

Tư Lập ngâm mình dưới bưng nãy giờ khá lâu rồi. Nước dâng lên nửa ngục. Hai tay chú quậy dưới bùn, chân bò tới lui, bọt nước sôi ùng ục. Chú rút lên một cây búa to tướng, nói huyên thiên:

– Nó còn nguyên, mới tinh. Bộ trái đấy xoay tròn sao mà! Hồi năm ngoái tao nhớ rõ ràng, nhận ở gần gốc cây tràm bên kia. Bây giờ nó chạy qua bên này. Để tao rửa sạch cho mày coi. Cam đoan không có một bợn sét, khuất dưới lớp bùn non, mưa nắng không sao thấu tới. Sét ăn hư hõng là khi nào mình giữ không kín. Lòng người cũng vậy… Mày chưa hiểu hả?

Thằng Kim thật tình không hiểu câu nói lắc léo của Tư Lập. Nó không cần tìm hiểu. Cây búa khiến nó ngạc nhiên hơn: cán dài cỡ năm tấc, lưỡi cao hơn hai tấc, bề ngang lưỡi búa trên một tấc rưỡi, lớn như mấy cây búa thần mà các ông tướng hát bội thường vác ra khi đánh trận.

– Cầm thử coi nặng không? Tay anh hùng mới cử nó được. Tạo ra lúa gạo, xuồng, chèo là nhờ nó. Nên nhà nên cửa, nên đất nên vườn, nên chồng nên vợ, xưng hùng xưng bá cũng nhờ nó.

Tư Lập nói tiếp:

– Đói bụng chưa?

– Hơi đói. Nãy giờ tôi lưỡng lự; gạo còn chừng hai nắm, không lẽ nấu cháo. Hay là mình kiếm nhà nào mượn đỡ.

– Mượn gạo mà ăn, xưa quá! Ở xứ này, tao không muốn gặp mặt ai hết. Con người ta chết… không phải vì thiếu gạo. Tới lớn, mày hiểu câu nói đó. Bây giờ đi với tao tìm nhà quen, bảnh thì mày đi trước một lần coi!

Nói vậy chớ tư Lập bước trước, đạp lên choại, lên dớn nghe sột soạt. Thay vì đi thẳng lại phía rừng tràm trắng tih, thơm ngào ngạt, Tư Lập quẹo trở về phía rừng thấp lè tè, cây cối mọc so le hỗn loạn. Bùn non ngập mắt cá. Muỗi bay lợn cợn, vướng vít dưới chân cây còn u tối. Tư Lập khuyên nhủ:

– Ráng chịu cực vậy! “Lô” rừng tràm đằng kia là của người ta. Rừng chồi phía này mới là của mình. Vắng hai năm nay, tao ngán rồi, không muốn nhớ lại cái mùi nhụy tràm.

– Sao vậy?

– Đừng hỏi nữa. Tao muốn lánh mặt người quen. Mai chiều, có lẽ mình qua nơi khác. Gió thổi hiu hiu, buồn quá.

Tư Lập thẫn thờ đôi mắt rồi bỗng nhiên khoát tay, ra dấu im lặng. Chú ngồi nép xuống. Thằng Kim cũng bắt chước, cúi đầu, ái ngại. Tư Lập cầm tay nó mà nói khẽ:

– Đừng động đậy, thở nhè nhẹ. Nó kìa…

Thằng Kim ngớ ngẩn, liên tưởng đến thứ tai nạn khủng khiếp:

– Co… ọp hả?

– Nói bậy xui xẻo! Ong mật.

Và nó định thần khi Tư Lập nói rõ thêm:

– Ong mật… đi ăn bông. Bay rề qua rề lại, thấy chưa, thấp chủn trên đọt sậy kìa.

Thằng Kim mừng rỡ:

– Ngộ quá! Ổ nó ở đây đây, hả chú. Làm sao kiếm được? Ý! Nó lớn bằng hai con ruồi.

Om sòm cái miệng! Về chống xuồng lại đây mau, tao chờ! Nhớ cái hộp quẹt máy. Thằng Kim hối hả làm y lời. Trở lại chỗ cũ, nó chợt nghe tiếng “hì” ở phía rừng tràm. Té ra nãy giờ Tư Lập lội tắt qua mương đi lại đằng ấy.

Chú vội ngồi lên xuồng, chụp cây dầm, hờm sẵn:

– Bậy quá! Nó “đi bông” tới đây rồi mất dạng. Chờ một hồi nữa coi.

– Đi bông là gì? Chú Tư.

– Là đi hút nhụy bông… kìa mê quá!

***

Một con ong rồi hai con ong bay qua sát ngọn cỏ, lưng ngời những rằn xanh đỏ, hai chân sau quặp lại kẹp hai đốm vàng sậm mà thằng Kim đoán là nhụy bông. Ong vừa qua khỏi chừng mươi thước. Tư Lập hối hả bơi xuồng theo. Nhưng hai con ong nọ lại đáp xuống, mất dạng. Chú nói:

– Đây là trạm thứ nhì của tụi nó. Rán chờ chút nữa. Chém chết tao cũng ăn được ổ này.

Sau đôi ba lần theo dõi rồi dừng lại như vậy, Tư Lập bỗng cười vang, múa men tay chưn như đứa trẻ thấy kẹo. Hàng trăm con ong bay chập chờn trước mặt, đáp xuống, vọt lên cao, không dời chỗ. Chú ngóng xem hướng gió trên ngọn cây, ra lịnh cho thằng Kim đứng im rồi chú đi khuất, chập sau mang về một nắm rễ cây gừa.

Hộp quẹt bật lửa lên. Nắm rễ gừa ngún cháy, khói bay đều. Chú nói nhỏ:

– Đi theo tao, đừng chạy bất tử nghe!

Chú phồng má thổi mạnh, khói tung bay mịt mù chưa tan là chú thổi thêm lần nữa, chân bước nhanh tới. Hiển hiện sau lớp khói mỏng kia, vật gì lạ thường như một trái cây khổng lổ, lớn bằng cái nia, đen ngòm rực rỡ như nạm muôn ngàn hột thủy tinh chấp chóa…

Thằng Kim há miệng:

– Ổ ong hả? Ong đâu hết rồi?

– Cả triệu con kết lại, nằm sắp lớp đen ngời, chớp cánh lia lịa đó, không thấy sao! Ổ ở bên trong. Lên xuồng đi. Rủi bề gì tao với mày thối lui, lặn dưới mương, úp chiếc xuồng này lại mà che…

Tư Lập cầm nhánh cây khô gạt mạnh vào ổ; ong rớt xuống cỏ từng mảng, lần lần tan ra. Ổ ong khoe mày trắng tinh như sáp, treo trên khúc cây gác nghiêng; cây kèo.

Chú quát:

– Chống xuồng lại. Tao với mày khiêng nguyên ổ xuống. Dầu sao mình cũng mang tiếng ăn cắp của thiên hạ rồi.

Đặt dưới xuồng, ổ ong nứt ra, mật vàng tươi chảy đọng vũng. Tư Lập chụp cây dầm, bơi trối chết, lướt qua sậy, qua năn. Thằng Kim cúi đầu sát ván, nhắm mắt, e nhánh hai bên quật nhằm. Nó cười tươi khi thấy mái chòi hoang hiện ra trước mặt, Tư Lập trao cây dầm cho nó thò tay xé tàn ong:

– Trời ơi! Tao hại tao! Tao ăn cắp… của tao.

– Chú nói gì?

– Miếng kèo bằng cây nhum. Hồi năm ngoái tao gởi nó lại cho người quen. Chữ “điền” tao khắc làm dấy rành rành.

Cây rừng chuyển răng rắc. Đâu đây có tiếng chưởi thề ỏm tỏi, xen vào tiếng dầm khuấy nước. Tư Lập cau mày.

– Họ đi theo dấu bắt tụi mình. Không khéo lại xảy ra đâm chém, uổng mạng. Nhiều khi họ mạo nhận là của họ để hăm dọa mình. Lát nữa, mày đứng yếu bóng vía… Cứ cãi lại cho tao.

Thằng Kim giựt mình:

– Chú đi đâu? Một mình tôi không dám…

– Tao núp sau hè. Họ tới kìa! Cầm búa lên! Đụng độ thì tao ra ăn thua.

Nhanh như chớp, Tư Lập bước lui, ngồi khuất sau bụi mật cật. Thằng Kim nhìn trước mặt. Hàng cây rung rinh, rẽ ra. Một người vạm vỡ cầm búa, bước tới:

– Khôn thì chịu tội. Thằng kia, mày ở xóm nào tới?

Thằng Kim cố giữ sắc trầm tĩnh:

– Tôi ở đây, mần ăn…

– Ăn cắp chớ mần ăn? Tao theo dấu tụi bây nãy giờ. Công trình mấy tháng nay toa tạo sẵn để mày hưởng! Đã ăn cắp mà lại còn gỡ luôn tấm kèo, chẳng khác nào ăn trộm rồi đốt luôn nhà của tài gia.

– Tôi không biết gì hết…

– Chém chết mẹ chớ không biết!

Lưỡi búa của khách hươi lên. Thằng Kim cũng nâng cây búa một cách vụng về. Khách nhìn nó, ngạc nhiên rồi nhìn cây búa:

– Mày ăn trộm búa nữa hả? Ráng mà đỡ. Nè!

Hoảng hốt, Tư Lập nhảy ra, nắm cườm tay người khách lạ:

– Tao ở nhà ông hương giáo hồi xưa đây mà. Chú mày đến sau nên không biết rõ tao là ai.

Khách trố mắt:

– Trời! Cậu Tư. Về hồi nào! Trời… nãy giờ thấy cây búa, tôi hồ nghi là của cậu. Sao không lại thăm cô Hoàng Mai?

Tư Lập vuốt mồ hôi trán:

– Thôi! Về đi. Nhắn với ông hương giáo rằng tối nay tao tới.

Khách nói:

– Buồn lắm! Cô Hoàng Mai yếu nhiều.

Tư Lập thở dài:

– Vậy hả? Đừng nói nữa. Về trước đi.

Khách rút lui. Tư Lập nói ngậm ngùi:

– Trốn mà không khỏi. Trốn Tây ta là chuyện dễ; trốn người quen là chuyện khó hơn. Ta ăn cắp ổ ong khi nãy mà chi? Nghề ăn ong có nghiệp chướng… Đâyu là ổ ong cuối cùng của tao trong nghề…

Thằng Kim hỏi:

– Sao vậy? Ai đau nhiều vậy chú? Cô Hoàng Mai là người bà con…

– Bà con không phải bà con. Người dưng không phải người dưng. Tối nay mày thay mặt tao, lại đó mà thăm ông hương giáo. Phần tao, tao phải xa rừng này. Ở lại đây, mày có dịp học khôn. Đừng buồn. Để tao nói lại đầu đuôi sự tích, hồi năm trước…

***

Nghe xong thằng Kim đi từng bước chẫm rãi đến nhà ông hương giáo. Câu chuyện tình của Tư Lập hãy còn lâng lâng trong trí nó. Gió chiều nhẹ thổi. Mùi bông tràm ngào ngạt. Nó nhìn từng gốc cây, lắng nghe từng tiếng lá trở mình mà khoang khoái trong lòng. Rừng U Minh này đối với nó cơ hồ không là còn gì bí mật khó hiểu nữa.

Đến nhà ông hương giáo, nó được thết đãi cơm nước tử tế. Ông hương giáo không nói chuyện nhiều. Nó nói dối rằng… chừng lát nữa Tư Lập sẽ đến. Nhưng Tư Lập có đến đâu! Đêm đó, nó được nằm ngủ trên ván gõ, trải chiếu bông, giăng mùng rộng rãi. Nửa đêm, nó chợt tỉnh vì ánh đèn chói mắt.

Ông hương giáo nói:

– Chú em thức hả? Kìa! Trên bàn thờ, từ bao năm rồi, tôi luyện “ngọc ong” để trị bịnh. Bịnh gì, chắc Tư Lập nói sơ cho chú em hiểu rồi. Tôi buồn quá. Tư Lập không trở lại nhà này nữa đâu. Chú em cứ nói thiệt. Phải vậy không?

Thằng Kim nói:

– Dạ cháu không biết. Chú Tư không nói rõ…

– Ta hiểu lắm. Dầu sao, trở về lần này, Tư Lập cũng đã tỏ ra có nghĩa! Ai nỡ câu thúc chí trai của mình trong một xó để đổi lấy chữ nhàn? Ai nỡ bỏ cái danh dự để mua chuộc một chức tước quí phái huyền hão. Từ xưa, tằng tổ của ta cũng vì khí khái ấy mà phò Chúa, xiêu lạc đến đây! Bây giờ ta yếu lắm rồi. Dầu muốn bắt chước Tư Lập, ta cũng không còn đủ sức lực mà bắt chước. Gia thế của ta, thiên hạ đã rõ. Câu thúc Tư Lập ở mãi tại đây chăng? Ta chỉ là người hương giáo, quyền hạn gì? Ừ! Tôi là tôi cho Hoàng Mai. Năm nay, nó ngồi một chỗ, không còn đủ sức mà ra thăm cội hoàng mai trước ngõ như hồi Tư Lập biết.

Sáng hôm sau, thằng Kim từ giã ông hương giáo rồi đến ngồi bên mé rạch. Bông vừng tươi thắm, cây cối hai bên bờ giao đầu lại, mát mẻ. Nó chờ đón bất cứ xuồng ghe ai, đi về đâu cũng được, để quá giang. Sau lưng nó, trên thềm nhà, trong bóng mát, hình dáng của Hoàng Mai với đôi mắt và mớ tóc trùm kín trong chiếc khăn. Chiếc tay áo của nàng lòng thòng che khuất mấy ngón tay, từ từ nâng lên như tiễn đưa một hình bóng…

TIN LIÊN QUAN:



Nhà văn Thùy Dương: Trăn trở với mỗi thân phận Người

Nếu không biết Thùy Dương sinh ra và lớn lên ở Hải Dương, sẽ đoán   chắc nàng là người Hà Nội gốc. Gọi là nàng v ì nàng không chỉ xinh đẹp, ...