Thứ Sáu, 20 tháng 9, 2019

Nhà thơ Võ Văn Trực: Người của làng

Đang chạy xe trên đường thì nhận được tin Nhà thơ Võ Văn Trực đã qua đời lúc 2 giờ sáng ngày 5/4/2019 (tức 1/3 âm lịch), tôi không quá bất ngờ nhưng vẫn có cảm giác nôn nao, dẫu biết rằng cái chết là một sự giải thoát cho cho ông, bởi lâu nay ông ốm liệt giường và không hay biết gì nữa cả. Nhà thơ Võ Văn Trực là người để lại nhiều hình ảnh trong kí ức tuổi thơ tôi, một con người hiền lành, sâu sắc, kiệm lời, khiêm nhường và yêu quý trẻ con. Thực sự trong tôi vừa cảm thấy nhẹ lòng vì ông đã thoát khỏi kiếp trầm luân trong cõi người này, nhưng cũng cảm thấy buồn và trống vắng vì cuộc đời này vừa mất đi một con người tử tế, một con người mang đặc phẩm chất xứ Nghệ quê hương ông.

Dưới đây là bài tôi viết về ông cách đây gần chục năm, khi đó ông đã yếu nhưng vẫn còn có thể trò chuyện được, giờ xin đưa lại như một nén nhang tưởng nhớ đến ông. Xin vĩnh biệt ông và gửi lời chia buồn sâu sắc đến gia đình nhà thơ Võ Văn Trực kính mến.
Nhà thơ Võ Văn Trực

Quả thực định viết về nhà thơ Võ Văn Trực đã lâu, nhưng cứ ngồi vào bàn rồi tôi lại đứng dậy, bởi buổi gặp hôm đó giữa tôi và ông để có thêm chi tiết cho bài viết này cũng thật ngắn ngủi. Sau một thời gian bị tai biến, sức khỏe của ông yếu đi, không thể tiếp khách lâu được. Còn tôi thì cũng không dám hỏi nhiều vì sợ ông mệt. Ngay lúc này đây, khi đang gõ những dòng chữ này, trước mặt tôi là mấy cuốn sách ông tặng với nét chữ nguệch ngoặc, lên xuống liêu xiêu, tôi cứ bị ám ảnh suy nghĩ về thời gian. Thời gian cho chúng ta tất cả nhưng cũng lấy đi của chúng ta tất cả, để rồi đến một ngày lại trở về con số không. Nhưng thôi, đó là quy luật của trời đất, là vòng quay sắc sắc không không của cái vũ trụ vô biên này, mà thân phận con người thì quá nhỏ bé. Đâu có ai làm thay đổi được điều đó. Tất cả rồi cũng chỉ là huyễn giả vô thường mà thôi. Nhưng tôi lại tin có một điều sẽ còn mãi. Và, sau khi đọc những cuốn sách ông đã tặng, với một chút chiêm nghiệm về con người ông, tôi lại càng tin điều đó. Cái điều còn lại đó chính là phần Người trong mỗi Con Người. Cái phần Người sẽ định vị chúng ta ở một chấm nhỏ xíu nào đó trong vũ trụ bao la này.

Quay ngược thời gian với hơn hai mươi năm về trước, khi đó tôi đang là một cậu học sinh tiểu học, ông vẫn thường đạp xe đến nhà tôi chơi. Cái căn nhà cấp bốn dột nát chật hẹp của gia đình tôi hồi đó lúc nào cũng ấm áp bởi những người bạn văn chương của bố tôi. Còn nhớ, hôm nào có ông đến chơi là bố tôi lại bảo mẹ ra chợ mua một rổ khoai lang về luộc và không thể thiếu một bát cà muối ròn tan. Ông bảo khoai lang ăn với cà pháo là nhất, nó gợi cho ông nhớ về quê hương. Phải rồi, với những người con xứ Nghệ như ông và bố tôi thì món ăn dân dã của quê hương còn là món ăn mang tính tinh thần. Trong mỗi gia đình ở xứ Nghệ, nhà nào cũng phải có một vại cà muối đặt ở góc bếp hay góc sân. Quanh năm, trong mỗi bữa cơm đều không thể thiếu bát cà muối. Có thể nói đó vừa là món ăn bình dân nhưng cũng vừa là món ăn quý tộc của người Nghệ. Bên rổ khoai lang với bát cà pháo, ngoài chuyện văn chương ông rất hay kể những câu chuyện dân gian ở quê ông cho mọi người cùng nghe, đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ, như chuyện Cố Bợ, chuyện núi Hai Vai…mà sau này ông đều viết thành sách. Ông có giọng nói nhẹ nhàng rủ rỉ, ấm áp khiến cho người nghe phải lắng lại cùng với câu chuyện của mình. Mỗi khi ông đến chơi là tôi lại sà vào lòng và thế nào cũng nhận được vài cái véo yêu của ông.

Sau này lớn lên, ấn tượng của tôi về ông còn là một bài thơ tình rất hay của ông được học sinh sinh viên truyền nhau chép vào sổ tay. Đó là bài Thu về một nửa, trong đó có những câu thơ khién cho những trái tim yêu đương thổn thức đến nao lòng:

Anh cầm trên tay giọt nắng vàng tươi
Lá lốm đốm thu mới về bỡ ngỡ
Một nửa màu xanh còn ấm nhựa
Cuống lá run run lưu luyến đậu trên cành

Những câu thơ mang tính ẩn dụ thật lãng mạn và tài tình khác hẳn với sự mộc mạc nhưng sâu sắc mà ta vẫn thường thấy trong thơ ông. Những câu thơ như càng chứng minh một điều, tình yêu đâu có phân biệt tuổi tác, người lớn tuổi cũng giống như các cô cậu mới lớn, cũng bối rối, cũng vụng về cũng lúng túng, cũng xao xuyến.

Mới đây, khi tôi đến thăm ông tại nhà riêng ở khu Yên Hoà, một ngôi nhà sang trọng có thang máy, ông vẫn nhanh chóng nhận ra tôi. Ông hỏi thăm từng người trong gia đình, thậm chí ông hỏi thăm cả những người mà ông đã từng gặp ở nhà tôi trước đây. Bản chất con người ông là vậy, sâu sắc và tình cảm.

Bên cạnh chiếc giường của ông là một cái bàn với rất nhiều sách báo xếp chồng trên đó. Tôi hỏi ông:

- Bác vẫn làm việc được à?

- Bác chỉ thỉnh thoảng đọc thôi, tay yếu đâu có viết được nữa. Không còn làm việc được buồn lắm cháu ạ. Chẳng thà ông trời cho mình chết đi còn hơn sống mà không được làm việc. – giọng nói của ông vẫn rủ rỉ nhưng có hơi run run.

- Thôi bác ạ, ai rồi cũng có lúc già yếu. Làm gì có ai thoát khỏi cái quy luật đó đâu. Cả một đời cống hiến cho văn chương như bác cũng là đáng kính nể rồi. Cũng để lại chút gì cho đời và cho nền văn học rồi bác ạ.

Tôi nhìn lên bàn làm việc của ông thấy cuốn sách “Địa chí văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh” của Nguyễn Đổng Chi được đặt ngay ngắn, ở giữa có kẹp một tờ giấy để đánh dấu trang sách mà ông đang đọc. Còn ông thì nhìn xa xăm ra ngoài khung cửa sổ của căn phòng ở tầng hai. Cuộc sống hàng ngày của ông giờ đây hầu như chỉ vỏn vẹn trong căn phòng nhỏ và ô cửa sổ để nhìn ra thế giới bên ngoài. Phía bên trong khung cửa sổ là một cuộc sống tĩnh lặng nhưng đầy chiêm nghiệm. Còn bên ngoài kia là một thế giới sôi động, đầy sắc mầu không ngừng trôi. Đó là một thế giới có nhiều yêu thương nhưng cũng đầy bất trắc mà ông đã từng trải nghiệm bằng cả máu và nước mắt với gần trọn đời mình. Dường như mấy chục năm qua, gương mặt ông không có nhiều thay đổi, chỉ có mái tóc là bạc trắng, nay vì ốm yếu nên cắt ngắn cho gọn. Thật kì lạ, gương mặt hồn hậu của ông luôn tạo cho người đối diện một cảm giác tin cậy và gần gũi nhưng luôn ẩn chứa một nỗi buồn xa xăm. Một nỗi buồn trong suy tưởng mà ông cất giữ bằng chiếc khoá thời gian. Cũng phải thôi, cuộc đời này có ai là không có nỗi buồn. Và tôi chợt nhớ đến một câu hát của Trịnh Công Sơn: “Tin buồn từ ngày mẹ cho mang nặng kiếp người”. Có thể với những tâm hồn nghệ sĩ thì nỗi buồn ám ảnh nhiều hơn, nó còn là nguồn nuôi dưỡng cảm hứng sáng tác cho họ, bởi ai đó cũng đã nói rằng, nỗi buồn là mẹ đẻ của thi ca. Tôi cũng tin rằng, nếu ai đó sống một cuộc đời không biết đến buồn đau thì chắc hẳn đó là một cuộc đời rất tẻ nhạt. Còn với nhà thơ Võ Văn Trực, ngay cả khi cười, ta vẫn có thể thấy nỗi buồn phảng phất trên gương mặt ông. Trong mỗi một kiếp người có biết bao buồn đau, mất mát mà ta phải trải qua. Và trong cái xã hội mà chúng ta đang từng ngày phải đương đầu và nếm trải này có biết bao những điều ngang trái, bất an đang diễn ra, đang rình rập từng phút từng giây khiến ta phải lo âu, suy nghĩ. Huống chi với một trái tim đa sầu đa cảm như nhà thơ Võ Văn Trực không thể không nhức buốt, không rung lên da diết theo từng nhịp đập đó của cuộc đời. Những nỗi buồn cứ chất chứa trong ông và ông cất giấu. Những nỗi buồn không làm ông gục ngã. Ông cũng không lãng quên chúng mà đem khâu nó lại, bện chặt nó lại như hành trang để tiếp tục đương đầu với cuộc đời, cùng buồn cùng vui trên những chặng đường tiếp theo. Và mỗi khi một mình đối diện với nỗi buồn, ông lại tìm đến thơ, như tìm đến một người tri kỉ, thuỷ chung trọn đời.

“Tiếng mèo kêu xé ngang đêm
Vàng thu lá động trước thềm gọi đông
Chuyện đời bao nỗi đục trong
Câu thơ đáy chén tận cùng buồn vui
Mảnh trăng rụng xuống bên trời
Mùa thu đã chết tuyệt vời trong ta”

               -Đêm cuối thu-

Hay trong bài “Nhà tôi” thì nỗi buồn đó được cụ thể hoá như một bức tranh về cái xã hội mà chúng ta đang sống. Ở giữa đám đông ông tự cô lập mình, để mà cảm, để mà đau với những cái mà người đời đang hả hê, tung hô. Đó là sự cô lập có lương tri của một người nghệ sĩ:

“… Cuộc đời nhí nhố vây quanh
Nửa quê kệch, nửa thị thành đan nhau
Khi buồn ngắm chiếc thuyền câu
Khi vui lại ngắm nhà cao nắng đầy

Cuộc đời dở tỉnh dở say
nửa kia điện sáng nửa này sương dăng,
Bia trào bọt phía cao tầng
Bờ hồ con đĩ tụt quần nằm chơi.

Cuộc đời dở chuột dở dơi
Nửa bóng tối, nửa mặt trời nhá nhem
Hai tờ sách mở hai bên
Tôi nằm ở giữa khâu bền sợi đau”

                                -Nhà tôi-

Trong lúc trò chuyện, tôi bảo ông kể về những thăng trầm trong cuộc đời, bởi tôi muốn có những chi tiết để làm nên thân phận của một nhà thơ như ông, cho bài viết của mình. Ông chỉ lặng yên, nhìn ra ngoài khung cửa. Bỗng ông quay lại nhìn tôi, rồi lại rủ rỉ kể những câu chuyện về quê hương, về tuổi thơ của ông. Trong câu chuyện đó tôi nhìn thấy ánh mắt ông sáng lên, giọng nói của ông linh hoạt hẳn lên, chốc chốc lại nở một nụ cười. Và cứ như thế ông say sưa kể lại những kí ức của sáu, bảy chục năm về trước. Tôi chợt hiểu ra rằng khi con người ta đã bước vào cái tuổi gần đất xa trời thì mọi kí ức đều có thể trở thành vô giá nhưng cũng có thể trở thành vô thường. Khi đứng trước cái ranh giới đó thì ta phải biết cân bằng chính mình. Kể từ phút đó tôi không hỏi thêm gì nữa mà chỉ ngồi nghe ông kể lại những chuyện gì mà ông ghi nhớ, muốn chia sẻ với người khác.     Ông bảo, quê hương chính là thượng nguồn của mọi cảm xúc trong suốt cuộc đời cầm bút của mình. Trong câu chuyện, ông đã đưa tôi về với cái làng Hậu Luật, mảnh đất chôn nhau cắt rốn của ông. Ở cái làng Hậu Luật đó có ngôi đền Bạch Y, có đình Trung, có ngôi mộ cổ rộng cả mẫu đất của cụ Hùng Lễ Bá Võ Phúc Tuy, một danh tướng của Lê Lợi, người dân làng ông vẫn gọi là mộ cụ Hùng, có cánh đồng Lao, có đồi Di Lĩnh, có cổng làng rêu phong, có con đường gạch mà ngày trước cụ nghè đã bái tổ vinh quy. Ông lại kể cho tôi nghe về ngọn núi Hai Vai, con sông Bùng trong xanh với bao truyền thuyết, kể về cây đa, cây muỗm của làng Hậu Luật có hàng mấy trăm năm tuổi. Ông say sưa kể về người bạn nối khổ từ thuở mục đồng có tên là Bá; những đêm theo chúng bạn đi hát đối hát dặm trong làng và ở các làng lân cận. Ông bảo, ông mê mẩn những làn điệu dân ca, những câu hò, vè, ca dao, tục ngữ quê mình. Mê đến nỗi, khi được địa phương cho đi học ngành ngân hàng ở Trung Quốc, ông đã từ chối vì không muốn xa quê hương, không muốn phải rời xa những làn điệu dân ca, hò vè mà ông vẫn nghe, vẫn hát hàng ngày. Ông cười tươi và bảo đó là cái may mắn đầu tiên của ông. Bởi nếu không sau này, ông đã trở thành một cán bộ ngân hàng rồi. Còn điều may mắn thứ hai của ông, đó là sau khi tốt nghiệp trường Đại học Tổng Hợp, ông được nhận về làm việc ở Bộ ngoại giao. Sau khi làm việc ở đó được một năm, cảm thấy công việc không phù hợp với mình nên ông  đã xin chuyển. Có nhiều người bảo ông là gàn là dại. Cũng có thể bây giờ thành một ông to nào đó rồi cũng nên. Nhưng với ông thì đó là may mắn. Những người thân, bạn bè làng Hậu Luật cũng bảo đó là may mắn. Nhờ vậy mà làng Hậu Luật mới có một  nhà thơ Võ Văn Trực.

Chỉ cách đây khoảng 3 năm thôi, năm nào ông cũng về quê ba bốn lần, sau này yếu thì mỗi năm một lần. Cho đến hồi đầu năm nay, khi bị tai biến, ông không còn đủ sức để được về với làng Hậu Luật thân yêu của ông nữa, điều đó làm cho ông buồn và day dứt. Ông kể, cách đây độ sáu, bảy năm, ông mua chục cái quần soóc và chục cái mũ lưỡi chai, để mang về quê tặng mỗi người bạn từ thuở chăn trâu cắt cỏ một bộ. Rồi, họ cùng mặc bộ đồng phục đó để gặp gỡ nhau, đi chơi khắp xóm làng, vui vẻ hồn nhiên như thuở thiếu thời vậy. Chính vì nặng nợ với quê hương như vậy mà hình ảnh quê hương cứ đi vào trong các tác phẩm của ông một cách tự nhiên và mộc mạc. Bạn bè văn chương gọi ông là người có nhiều trang viết về quê hương nhất trong Hội Nhà văn Việt Nam. Rồi sau này, trải qua những năm tháng biến cố của lịch sử, mà đã từng được cho là “đổi mới” “cải cách” của chính quyền, cái làng Hậu Luật của ông đã bị tàn phá nặng nề. Đến mức, sau đó, ông không dám về làng khi trời còn đang sáng, mà phải chờ trời tối mịt mới dám bước chân qua cổng làng. Ông bảo, thời đó, họ dồn hết Thánh, Thần, Phật…tập trung vào một nơi thờ cúng, để còn lấy chỗ làm kho chứa. Ngay cả đến ngôi mộ cổ của cụ Hùng mà dân làng vẫn thờ cúng bao đời nay cũng bị đào lên cùng hàng trăm ngôi mộ của bà con để rồi chôn chung vào một chỗ. Một cảm giác đau xót, ớn lạnh chạy dọc sống lưng khi ta đọc bài Lưu lạc giữa quê nhà của ông:

Một khoảng trời bỗng hoang vắng cô đơn
Khi cây muỗm đầu làng không còn nữa
Lòng tôi cũng bơ vơ cùng tiếng gió
Thổi về đâu mây trắng dạt trời xa

Một mùa đông bỗng xô về hiu hắt
Khi đã tan hoang miếu mạo đình chùa
Đồ tế khí ngả nghiêng thành gỗ nát
Cuốn gia phả tả tơi thành bụi cát
Mấy chục năm lưu lạc giữ quê nhà.

Một làng vui bỗng lạnh tựa tha ma
Khi tiên tổ ông bà không còn mộ
Mồ côi cả đất đai và ngọn cỏ
Lũ chim non khản giọng lạc bài ca
Mấy chục năm lưu lạc giữa quê nhà.

Tôi quỳ sụp cổng làng, đầu cúi xuống
Chắp tay lạy nhưng ngôi mồ tưởng tượng
Nghìn vong linh ám ảnh cả làn da
Trái tim nhỏ tụ về muôn giọt máu
Mấy chục năm lưu lạc giữa quê nhà.

Có gì như đau đớn, có gì như uất nghẹn, có gì như hối tiếc tự thẳm sâu, nhưng tất cả đã quá muộn rồi. Than ôi lũ chim non khản giọng lạc bài ca mất rồi.

Trong cái biến cố khủng khiếp đó, ông cũng phải chịu một nỗi đau là mất mộ mẹ. Sau này, mỗi lần về quê, ông lại đốt một bó hương thật to, rồi cứ lang thang khắp cánh đồng để cắm hương và khấn nguyện mẹ mình trong đau thương và trong nước mắt. Chính từ nỗi đau đó ông làm bài thơ “Tìm mộ mẹ”, một trong những bài thơ hay nhất, đau buồn nhất của ông, khiến cho bất kì người đọc nào cũng có thể bật khóc:

“Mẹ mới khuất mười năm, không còn mộ
Con đi tìm, dẫm nát cỏ đồng quê
Nén hương khấn mười năm không tắt lửa
Mẹ nơi đâu? Xin hãy gọi con về.

Mất mồ mẹ con lang thang tìm kiếm
Như đứa con hoảngày rạc tả tơi
Chiếc thuyền nhỏ lênh đênh trùng song biển
Bến bờ nao con định hướng cuộc đời?

Canh cánh mãi bên lòng đau xé ruột
Giữa chiêm bao giấc ngủ nặng như chì
Mơ thấy một tay ôm vầng cỏ mọc
Mở mắt ra chăn gối ướt đầm đìa

Trên trần thế mười năm con phiêu dạt
Đất nơi đâu cũng thấy mẹ đang chờ
Hài cốt mẹ suốt mười năm lưu lạc
Con đốt trầm lạy bốn hướng vu vơ…”

Có thể nói đó là một bức tranh đen tối của một thời ngu muội. Một thời kì cần phải lãng quên trong thùng rác của lịch sử.

Trong chốc lát, ông im lặng nhìn tôi, rồi lại nhìn quanh căn phòng của mình như muốn kiếm tìm một điều gì đó. Lúc này tôi mới để ý, bên dưới tủ sách đồ sộ của ông, có rất nhiều báo cũ, tài liệu, bản thảo được ông xếp thành hai hàng dài, ngay ngắn trên nền gạch. Những tờ báo cũ, những trang bản thảo bằng giấy pơ luya đã ố màu thời gian vẫn được ông cất giữ nâng niu. Rồi ông đứng dậy, từ từ đi lại cái tủ sách. Tôi định dìu ông lại đó, ông bảo: “Để bác tự đi được”. Ông rút ra mấy quyển sách đem lại tặng tôi. Có thể nói, nhà thơ Võ Văn Trực có một sức lao động rất đáng nể. Kể từ khi nghỉ hưu ông đã sáng tác hàng mấy trăm bài thơ, độ dăm cuốn tiểu thuyết, ngoài ra còn có những cuốn khảo cứu, sưu tầm về văn hoá dân gian. Đọc tác phẩm của Võ Văn Trực, ta có thể thấy được phần nào con người ông, thời đại ông đang sống ở trong đó. Những đau thương mất mát, vui buồn trong đời ông, những ngang trái bất công của xã hội cứ ăm ắp trong tác phẩm của ông đã chạm đến trái tim người đọc. Sau khi tặng sách cho tôi, ông bảo: “Kể từ khi bác bị ốm. Anh em báo Văn Nghệ đến thăm nhiều lắm. Mọi người chu đáo lắm”. Tôi thầm nghĩ bụng, một con người hiền lành và nhân ái như ông thì làm sao mọi người có thể không nhớ đến được kia chứ. Kể từ lúc nghỉ hưu cho đến cách đây độ hai, ba năm thôi, năm nào ông cũng tổ chức một bữa cơm vào dịp gần tết, rồi gọi tất cả đám thanh niên báo Văn Nghệ đến để liên hoan. Đối với cánh thanh niên của báo Văn Nghệ, ông vừa là một thủ trưởng cũ, vừa như người cha, chú và cũng như một người bạn. Bởi khi còn là Phó tổng biên tập báo Văn Nghệ, ông luôn luôn chan hoà, gần gũi, sẻ chia và nâng đỡ cánh trẻ.

Kể từ ngày nghỉ hưu ông tránh xa mọi cuộc hội hè đoàn thể. Mọi thứ công danh đều trở thành vô nghĩa, chỉ còn lại cái tình tri kỉ với một số bạn bè, với văn chương mà thôi:

Bạn bè tan tác cả rồi
Còn dăm ba đứa ta ngồi với nhau
Lẽ đời thấu hết nông sâu
Chén vui chưa cạn chén đau đã đầy
Một lời tỉnh hai lời say
Nồng nàn bằng hữu chua cay nhân tình
Thôi thì mình tự yêu mình
Vứt cha cái bả công danh mà về
Chính trường càng ngẫm càng ghê
Lưỡi tê vị đắng tay tê chén cầm
Nhìn nhau nước mắt ướt đầm
Giọt vui nâng chén, giọt bầm ruột gan.

                              -Uống rượu với bạn-

Rồi thỉnh thoảng lại thấy ông lóc cóc đạp cái xe đạp mi ni đến thăm một số bạn bè cũ. Khi đã đi gần hết cuộc đời, nhìn lại chặng đường đa qua, nhìn lại những được và mất trong cuộc đời, con người ta mới sực nhận ra rằng cuộc đời này vốn rất giản đơn, nhận diẹn trắng đen cuộc đời bằng cái cười mỉm, nhận diện thế thời bằng nỗi chua cay:

Một cành cây gẫy
Thảng thốt cánh chim

Một luồng gió độc
Bóp chết ngọn đèn

Một tiếng chó sủa
Bóp nát bình yên

                    -Đêm-

Với hàng nghìn trang sách viết về quê hương, viết về người thân ruột thịt, về bạn bè ở cái làng Hậu Luật có lẽ nên gọi ông là Người của làng. Bởi trái tim ông luôn hướng về mảnh đất quê hương, vui buồn vì nó. Ngay cả khi đau yếu này ông vẫn luôn nghĩ về nơi ấy. Và tôi xin được kết thúc bài viết này bằng câu thơ của ông:

“Tình cốt nhục, nghĩa lân bang
Quý hơn gấp triệu lạng vàng cầm tay”
TRẦN VŨ LONG
(VĂN NGHỆ)

 ______________________________


Nhà thơ Võ Văn Trực sinh ngày 28/1/1936 tại làng Hậu Luật, xã Diễn Bình, huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ An. Năm 1958 ông ra Hà Nội học đại học. Sau khi tốt nghiệp đại học, ông đã xác định theo đuổi con đường văn chương. Dù ông từng được Bộ Ngoại giao nhận về nhưng cuối cùng vẫn xin được chuyển sang làm việc tại một cơ quan văn hoá. Năm 1962, ông về làm biên tập viên tại Nhà xuất bản Thanh niên. Đến năm 1977, ông về làm việc tại báo Văn nghệ cho đến lúc nghỉ hưu.

Cầm bút từ những năm sáu mươi, ông viết nhiều thể loại: thơ, văn, bút ký và biên khảo. Võ Văn Trực là tác giả nhiều tập thơ trong đó có Trăng phù sa, được giải thưởng Hội văn nghệ Hà Nội năm 1983. Ngoài thơ, bạn đọc còn biết đến Võ Văn Trực với những tác phẩm viết về quê hương, như tập bút ký Truyền thuyết núi hai vai, hay cuốn tiểu thuyết Chuyện làng ngày ấy viết năm 1990, được nhà xuất bản Lao động tái bản tại Hà Nội năm 2005, đã gây ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc.

Một số tác phẩm chính: Chú liên lạc đội Xích vệ (1972), Trận địa quê hương (1972), Người anh hùng đất Hoan Châu (1976), Ngày hội của rạng đông (1978), Hành khúc mùa xuân (1980), Trăng phù sa (1983), Tiếng ru đồng nội (1990), Hương trong vườn bão (1995)

Ông cũng đã được trao nhiều giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam và các Hội văn nghệ, các cuộc thi sáng tác: Giải thưởng Hội văn nghệ Hà Nội năm 1983 với tập thơ Trăng phù sa; Giải thưởng Bộ Giao thông Vận tải 1987 với tập bút ký Đèo lửa đèo trăng…

Trước khi nghỉ hưu, nhà thơ Võ Văn Trực là Phó Tổng biên tập báo Văn nghệ. Có thể gọi nhà thơ Võ Văn Trực là người điển hình cho tính cách người xứ Nghệ: hiền lành, thủng thẳng nhưng gàn và cục tính. Ông cương trực như chính cái tên cha mẹ đặt cho mình, luôn thẳng thắn và quyết liệt đấu tranh với những thói rởm đời dù ông hoàn toàn nhận thức được rằng, sự đấu tranh đó không phải lúc nào cũng mang lại cho ông những điều may mắn.

Về nghỉ hưu, nhưng nhà thơ Võ Văn Trực vẫn không rời trang viết. Ông viết về quê hương, về những chiêm nghiệm của cuộc đời. Song tuổi già, sau lần tai biến cứ dần nuốt chửng trí nhớ và sức lực của ông. Ông không nhớ gì nhiều, khoảng ký ức đậm nét nhất là hình bóng quê nhà, ở làng Hậu Luật, xã Diễn Bình, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Ở đó có con sông, bến đò quê hương, có cả một tuổi thơ ngập tràn trong tiếng đùa nghịch của ông và chúng bạn thời thơ ấu...

Nhà thơ Võ Văn Trực từ trần hồi 2h42 phút sáng thứ sáu ngày 5/4/2019, thọ 84 tuổi.

Tang lễ nhà thơ được tổ chức từ 9h15 đến 11h ngày thứ ba, mồng 9 tháng 4 năm 2019, tức ngày mồng 5 tháng 4 năm Kỷ Hợi tại Nhà tang lễ Bệnh viện Thanh Nhàn quận Hai bà Trưng, Hà Nội.

Tin bài khác:

·         Nỗi oan của môn Văn
·         Nhà văn làm nghề gì?
·         Thân thương lá chuối



Thứ Hai, 16 tháng 9, 2019

Trường ca Trần Anh Thái dưới góc nhìn văn hóa sinh thái - nhân văn

Khi các trường ca: Đổ bóng xuống mặt trờiTrên đường và Ngày đang mở sáng của nhà thơ Trần Anh Thái lần lượt xuất hiện vào các năm 1999, 2004, 2007 trên thi đàn, nó ngay lập tức thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu, phê bình hàng đầu cùng nhiều độc giả yêu thơ. Mới đây, Trần Anh Thái lại cho ra mắt trường ca Mỗi loài hoa một mặt trời - Một trường ca hiện đại, bề thế bằng một nội lực mạnh mẽ và chiều sâu nhân tính cho thấy, nguồn cảm hứng dồi dào và mối lương duyên của ông với thể loại trường ca ở Việt Nam.
Nhà thơ Trần Anh Thái

Không phải ngẫu nhiên, nhà nghiên cứu phê bình văn học Chu Văn Sơn trong buổi tọa đàm “Trường ca Trần Anh Thái” tại Viện Văn học Việt Nam lại khẳng định: “Trần Anh Thái là cây trường ca số một của thế hệ anh. Hiện nay, Trần Anh Thái là một trong những cây trường ca nổi bật nhất đương đại”. Có thể thấy, ý kiến đánh giá dựa trên những cơ sở xác đáng về người nghệ sĩ này.
     
Đọc các trường ca của Trần Anh Thái dễ nhận thấy ở trong sâu thẳm con người ông luôn tiềm tàng nguồn cảm hứng lớn, dồi dào mang đậm tính nhân sinh sâu sắc, có khả năng tạo đột phá về con người “Kẻ thất trận dưới chân đồi lê bước/Kéo hoàng hôn rã rời/Kẻ thắng trận hai tay ôm mặt khóc/Thương tích tạc vào gió thổi ngàn sau”. Xuyên suốt trong các trường ca là những vấn đề về thân phận con người trong và sau chiến tranh, cuộc nhân sinh, những cảm hứng về cội nguồn văn hóa làng hay cũng chính là văn hóa dân tộc. Trong bài viết này, chúng tôi tiếp cận trường ca Trần Anh Thái ở một khía cạnh khác, khía cạnh “Làng” trong trường ca của ông từ góc nhìn văn hóa sinh thái - nhân văn.
     
Lịch sử thi ca viết về làng quê Việt Nam đã có không ít nhà văn, nhà thơ bằng hình thức này hay hình thức khác đạt được những thành tựu đáng kể. Song, để kiên trì, trọn vẹn, khác biệt và độc đáo như Trần Anh Thái thì có lẽ thật hiếm hoi.
     
Khi nói về “làng”, các nhà nghiên cứu văn hóa thường có nhận định: “Với Việt Nam khoe văn minh ấy là văn minh lúa nước, khoe văn hóa ấy là văn hóa làng quê”. Nếu như sân đình, bến nước, cây đa, lũy tre xanh... là biểu tượng quen thuộc của thơ ca nói chung về những ngôi làng Việt nơi đồng bằng Bắc Bộ, thì biểu tượng ngôi làng Trần Anh Thái là “Làng trước biển trằn lưng che biển”. Làng trước biển, trước dập vùi xô giật giữa bão tố phong ba, nên nó không thể bình yên, thi vị mà ngược lại: nhọc nhằn lam lũ, luôn quằn quại đối đầu để sinh tồn ngay từ lúc nó mới khởi hoang; chấp nhận thách thức, chấp nhận đớn đau để lột xác, để đứng dậy, bước đi... Không chỉ trong Đổ bóng xuống mặt trời, hình tượng làng biển với muôn vàn liên hệ sinh động, phức tạp khác nhau còn được trở đi trở lại, ẩn hiện xuyên suốt trong các trường ca của ông.
Mỗi loài hoa một mặt trời - một trong những trường ca của nhà thơ Trần Anh Thái

Văn hóa xét cho cùng là hệ quả của việc từng cộng đồng thích ứng với môi trường tự nhiên và xung quanh để sinh tồn. Văn hóa làng biển nằm trong nhóm văn hóa sinh thái - nhân văn, là văn hóa được sản sinh trong quá trình con người thích ứng với môi trường sống, từ đó hình thành nên những tri thức, những hành vi ứng xử, những tập tục, nghi lễ, thói quen…

     
Trong các trường ca Trần Anh Thái, dấu ấn làng biển trong văn hóa sinh thái - nhân văn được thể hiện rõ nét. Ngôi làng nhỏ bé nơi biển Đồng Châu quê hương ông được khởi ngay từ “Đoàn người đi lam lũ dưới hoàng hôn” nơi “Thuở hồng hoang mở đất/Sương giá tan tê dại kiếp người”. Ở đó, Trần Anh Thái đưa người đọc đến một không gian rộng lớn, mù mịt mênh mông của biển, nơi chưa có dấu hiệu của sự sống. Đó là thế giới của rối mù, vô định, đầy chướng khí:“Không dấu chân đi qua/Bờ biển đầy chướng khí/Không có cánh buồm về/Gió thừa đầy cửa bể”. Khi ấy, biển là một không gian tự nhiên trong vũ trụ, mịt mùng, hoang vu, cô đơn. Sự xuất hiện của “Những người đàn ông mang theo búa rìu và con dao rựa” thì làng mới “bắt đầu một tiếng hú hoang”. Đây không phải là tiếng hú thông thường mà là một tuyên ngôn, một cuộc thách đấu mở đầu cho tinh thần khai sáng. Công cuộc chinh phục khởi hoang không là những hoan ca mà “Người đàn ông bổ lưỡi rìu vào đất/Giọt máu rơi mây khói chẳng hình thù” là “Người cúi mặt dưới vòm khuya khoắt/Ánh ngày loảng xoảng tiếng dao khuơ”. Và ngay sau khi nhát rìu bổ xuống, một sự nổi loạn đã xẩy ra “Sóng gào biển động”; “Sóng gió bập bùng”; “Sóng đổ dưới chân người tê buốt”. Biển ẩn chứa đầy hiểm họa, bất trắc khôn lường bởi sự ngang tàng bất trị mãi cho đến:“Cơn bão đi qua/Người sực tỉnh giữa vùng tai họa/Ngày câm lặng/Gốc đa già bật rễ đổ đêm”. Khi ấy, cái ngày khởi khoang ấy, mới được phân định rạch ròi trong mối quan hệ giữa con người và môi trường tự nhiên, kẻ chinh phục và đối tượng bị chinh phục. Sự đối lập giữa chiến thắng và khuất phục.
     
Làng biển - nơi nhà thơ sinh ra khác hẳn với mọi ngôi làng từng có trong thơ ca Việt Nam. Nơi đây “Nắng không dựng thành tường cho người tựa/Mây không là nhà che tiếng khóc”, mà sự sống mơ hồ, trần trụi “Trôi giữa bến bờ hư thực/Lô xô mái cỏ túp lều nghèo”. Chính sự khốc liệt của vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa đã tạo nên đặc trưng, chi phối các yếu tố địa lý, thiên nhiên. Những trận bão lụt tràn dâng nước mặn. Những cơn gió độc mang theo chết chóc. Biển trong thơ Trần Anh Thái không bình yên, không là những mơ mộng lãng mạn viển vông, không phải “Rừng vàng biển bạc” như sách vở hay những bức tranh cổ động đã từng có; mà nó còn là hiện thân của nỗi đau, sự hủy diệt: những trận giông bão bất chợt, những chiều gió quái, những cơn giận dữ cuồng lộ: “Giông bão tràn chát mặn ngày qua”; “Quả mướp già cha để dành làm giống/Gió ngược hai chiều vặn rớt mặt ao”“Bão dựng trước nhà/Xác người lạ dạt vào bụi dứa”.
     
Trong thế giới thơ viết về làng quê ở các trường ca Trần Anh Thái luôn hiện lên một vẻ đẹp độc đáo, khác biệt. Đó là vẻ đẹp của sự hoang hoải, khốc liệt. Cái đẹp buồn, ẩn trong đó sự cô đơn và những suy tư sâu sắc về kiếp sống nhân sinh: “Con cóc già vuốt mặt ngồi im lặng/Cỏ đồng xanh nhàm chán kiếp người/Ngày tháng kéo nỗi buồn thả xuống/Nhịp thời gian biền biệt thả trôi”. Hình ảnh làng quê trong trường ca của ông thường u buồn, đớn đau; vừa hoang vu khốc liệt vừa xa xăm thăm thẳm cõi người, tác động mạnh mẽ vào tâm trí người đọc, không cho phép sự giản đơn hời hợt khi tiếp cận tác phẩm của ông:“Cánh buồm trôi nước xiết đục ngầu/Hoang thú chết phương trời xứ lạ/Hóa làm chiều gió ngược đêm thâu/Bao ngổn ngang sóng xiết sông sâu”. Tiếng sóng biển nơi quê hương ông chở nặng tâm sự đến “khàn đêm”, làm cho “Bàn tay héo gió/Mắt người mờ tỏ” chứ không hề nồng nàn dịu êm mơ mộng. Biển còn dự báo bao buồn đau ly biệt:“Biển mất mùa hải âu bay đi mất/Bệnh đậu mùa gõ cửa các căn nhà...”
     
Thiên nhiên trong thơ ông không còn là đối tượng khách thể mà nhập vào sự sống người, thành dòng máu rần rật chảy trong huyết quản, để vượt thoát nỗi khổ đau. “Lửa đốt phiến đá xanh khắc hình vào đá” “Những mầm cây ấm dần hơi thở/Hạt giống/Bật từ bóng tối”.
     
Khi những đau thương, chết chóc ập xuống ngôi làng thì biển chính là “người” bao dung ôm chắn cho làng. Mối quan hệ giữa biển và người là một. Biển đứt từng khúc ruột, réo rắt, rền vang nỗi xót xa: “Biển rền man dại trời bên”. Biển chất chứa, chở nặng nỗi đau con người, chia sẻ với họ những mất mát.Đối với cư dân làng, biển vừa là nguồn sống, vừa chứa đựng niềm tin, ước mơ về tự do; là đấng siêu nhiên nâng đỡ, cứu rỗi con người; mênh mông và bí ẩn:“Tôi soi dọc đời tôi/Con thuyền ẩn đầy bất trắc/Lúc tôi ngã sóng soài biển nâng tôi lên mặt đất/Khi đêm tối bủa vây sao biển sáng soi đường”. Biển từ “bốn mùa sóng đục” “sóng xiết sông sâu” trở thành một không gian tràn ngập  ánh sáng, thứ ánh sáng lung linh, kì ảo chỉ có ở biển.Những tiếng thì thầm của biển, tiếng ru vọng về của những con sóng là lời an ủi hữu hiệu, nhất là với người thi sĩ cô đơn.“Biển vuốt ru đưa tôi đến bến bờ”. Nhà thơ tận hưởng tình yêu trong sự vĩnh cửu của thiên nhiên để tìm niềm hi vọng vượt thoát khỏi nỗi khổ đau:“Tôi bốc cát xây lâu đài trong ngày biển động/Lâu đài vút cao hạt cát đời bé bỏng”. Từ mối quan hệ kẻ đi chinh phục, kẻ bị xâm phạm, biển đã là máu thịt cùng đồng hành với con người đi qua nỗi khổ đau. Thiên nhiên bị khuất phục trước nghị lực phi thường của con người. “Cha vác kheo đi dưới mặt trời/Bóng gẫy trên mặt sóng”, “Bóng cha lồng lộng trùng khơi” - hình ảnh đẹp, uy nghi, kỳ vĩ của trí tưởng tượng, làm cho cách nhìn về người lao động sang một chiều kích khác, chiều kích thánh thần. Không gian biển trong trường ca của ông không chỉ là không gian thực, không gian sống của con người mà còn là không gian tâm linh. Trần Anh Thái viết về biển với nhiều cung bậc sắc thái khác nhau vừa lạ vừa gần gũi quen thuộc. Hành trình hướng ra biển là hành trình “Ký ức sáng trên vầng trán người đạo sĩ già ẩn cư miền cao Yên Tử” “Người đạo sĩ chống cây gậy trúc chỉ tay về phía biển Đông/Mặt trời đang mở sáng”. Ở đây làm ta liên tưởng tới bóng dáng những đoàn quân Vi-kinh hùng mạnh ở châu Âu thuở đi chinh phục, mở mang bờ cõi “Vẳng cơn gió ngàn năm/Mơ hồ những cuộc chinh phạt” để hướng đến chân trời mới…
     
Trong văn hóa nhân loại, đất đai được mệnh danh là vị thần có sức mạnh lớn lao, phương Tây gọi đó là Đất Mẹ - nữ thần Gaia, tượng trưng cho sức mạnh tái sinh, vẻ đẹp phồn sinh của tự nhiên. Phương Đông quan niệm đất là hành Thổ, một trong ngũ hành cấu thành nên thế giới. Đất đai, cánh đồng làng biển hiện lên trong thơ Trần Anh Thái khác thường: “Bao ngổn ngang sóng xiết sông sâu/Người làng ngậm buồn thả vào trời biếc” là “Mưa ướt mặt vầng trăng tháng Tám/Ngày ba bề tiếng ếch rạc bên sông”, “Hoa ngô rụng xác mặt người/Chiêng trống gõ trời bay mất”. Nơi làng biển quanh năm trầm hùng trong tiếng sóng, và “Người đối mặt vào trời khô khốc” nhưng: “Làng tồn sinh sau mỗi sáng mai”“Làng trĩu hình gánh lúa gập trên lưng”. Cơn bão qua, hạn hán đến, những cánh đồng khô nứt nẻ, hành hạ: “Đồng vắng không [Mùa màng mộng mị vòng quanh/Cào cào xác mặt cỏ xanhHoa ngô rụng xước mặt người/Bờ ao sót gốc muống già”. Đến nỗi: “Chiếc vương miện trên cánh đồng cổ tích/Đã bao phen bỏng rát mặt lư đồng”. “Cà chưa thành hoa sương muối chà nẫu ruột”. Nhà thơ tái hiện lại một cánh đồng trống không, tiêu điều, lụi tàn “những hạt giống xác xơ” giữa vùng sống khắc nghiệt trước biển. Vấn đề ở đây, Trần Anh Thái không nhằm hướng người đọc vào sự khổ đau bi lụy, mà ông muốn khẳng định giá trị Người, khẳng định sức sống mãnh liệt và nghị lực phi thường, không khuất phục của con người quê hương ông. Bời vì đó là “cánh đồng mọc ra từ máu thịt ông bà”. Nhà thơ tôn vinh con người “Tên họ cao hơn mọi tôn giáo lễ nghi”. Chính con người mới làm nên sự sống, bóng tối tan ra thì ánh sáng trở về:“Cây ngô đồng không tưới vẫn ra hoa/Lá tre nhỏ mà vòm che rợp mát”; “Hạt giống giấu nụ cười/Những mầm cây ấm dần hơi thở/Hạt giống/Bật từ bóng tối/ Cái chết lửng lơ/Những chiếc rễ từng ngày bám vào lòng đất”.
     
Cánh đồng trong trường ca Trần Anh Thái còn là cánh đồng đầy thương tích chiến tranh. Mảnh đất làng vốn héo mòn do sự sống khắc nghiệt vừa bật dậy thì bất ngờ chiến tranh ập đến “Người đưa thư báo tin chiến trận/Mẹ đánh rơi nia gạo xuống sàn nhà”. Chiến tranh  luôn là khúc quanh nghiệt ngã của lịch sử, là bản bi ca của thời đại. Những đứa con của làng ra đi. Họ ra đi để cho làng còn. Máu, xương của họ chôn vùi trong đất: “Mặt bạn tôi bê bết máu chiến hào”. Mảnh đất quê hương trở thành chứng nhân của những trận đánh khốc liệt, oằn mình đau đớn.Với Trần Anh Thái, đất có linh hồn, có đời sống riêng, đời sống của đất gắn với lịch sử làng. Khi mỗi đứa con chết đi, cả cánh đồng ngân lên bài thánh ca:“Mẹ đưa em về nằm bên mộ bố/Khắp cánh đồng ngọn gió hát ru”. Thi sĩ là người tri ân sâu sắc với mảnh đất thiêng liêng: “Nhọc nhằn, tình yêu và cái chết, hòa điệu cùng bài ca dính đầy máu và mồ hôi của đất”. Nhưng là“mảnh đất nâng tôi qua nồng ấm bình minh vang vọng tiếng người”. Trở về với làng là tìm về bình yên nơi quê cha đất tổ, về cội nguồn văn hóa bao đời. Chính điều đó thúc giục nhà thơ “lang thang khắp cánh đồng tìm dấu chân tổ tiên” tìm những điều bí ẩn sau “mảnh đất im lìm tầng tầng máu đổ/Mảnh đất linh hồn ông cha”. Rồi có ngày “Mảnh đất tổ tiên giờ mang bán đổi”“Mảnh đất ngàn đời linh thiêng vừa mất”... Những dòng thơ viết về cánh đồng làng bằng một tình yêu mãnh liệt, tràn đầy cảm xúc với cuộc đời trong trái tim thi sĩ của ông. Cánh đồng hay cũng chính là mảnh đất tổ tiên ngàn đời để lại, đó chính là linh hồn của con người, của dân tộc. Kẻ nào không có tình yêu đó kẻ đó không tồn tại.
     
Làng trong trường ca Trần Anh Thái cũng chính là cuộc sống con người. Ông đã “làng hóa” để tạo ra không gian rộng lớn với những tầng sâu tâm tưởng về thân phận con người. Con người với tất cả vẻ đẹp sinh ra từ khổ đau, bất hạnh, biệt ly; từ tình yêu đắm say và niềm khao khát yêu thương trên con đường nhọc nhằn, thăm thẳm cô đơn của kiếp nhân sinh mà một nhà thơ đích thực như ông luôn suy tư, dằn vặt. Đọc trường ca của ông, ta thường bắt gặp một không gian xác xơ, hoang vắng, rợn ngợp: “Tiếng quạ kêu rờn rợn dọc bãi bồi/Hoang thú chết phương trời xứ lạ” “Cánh bèo dạt góc trời xô dập/Lặng lẽ vùi trong cát nở hoa”.
     
Bức tranh quê hiện lên khác lạ, độc đáo. Song, nếu chỉ dừng lại ở đó thì bức tranh làng biển chưa thật hoàn hảo, và chưa làm nên diện mạo độc đáo của ngôi làng trong trường ca này. Sinh vật trong trường ca Trần Anh Thái không tràn trề xanh tốt, không có cánh đồng lúa thẳng cánh cò bay, chẳng êm đềm mơ mộng mà chứa trong nó đầy những âu lo, vật vã ưu tư trước nghiệt ngã của cõi sống: “Cây lúa đồng trồng mãi chẳng ra bông/Cây dừa chưa kịp xanh kiến đã ăn trụi lá/Tàu chuối non gió xé rách bươm/Hoa xương rồng cuối đông nở muộn”. Trên cánh đồng ấy chỉ có “cây mào gà đỏ rực” mọc lên bởi khả năng thích nghi. Những thách thức số phận dồn dập đổ xuống khiến: “Bờ ao sót gốc muống già/Giun đất xéo đi cày lại/Ễnh ương ngồi già nua hốc tối”; “Khoai sắn bới non/Cây ngô rụi xuống/Rau muống trổ ngồng/Đồng không dặt dẹo/Cá chết ngày đông”. Biểu tượng “đồng không dặt dẹo” cho thấy sự sống dở chết dở. Chúng giống con người, trút dòng máu, hơi thở cuối cùng xuống đất đaiỞ miền thôn quê, tiếng chim hót, ếch nhái râm ran và tiếng dế trên cánh đồng là những bản đồng ca thanh bình. Nhưng trong trường ca Trần Anh Thái, vẫn tiếng dế kêu nhưng là tiếng kêu duệch doạch, chúng lay lắt trong cõi mơ hồ, ai oán; ngay cả chim chóc cũng véo von lạc giọng:“Chim chích chòe méo giọng ban trưa”. Cây đa, gốc gạo đầu làng là biểu tượng của làng quê giờ đây cũng bật gốc, trút lá trái mùa: “Gốc gạo đầu làng ứa dòng nhựa đỏ/Suốt ngày đêm trút lá trái mùa”. Chưa bao giờ, ta thấy trong thơ ca Việt Nam một cánh đồng quê lại lụi tàn, xơ xác, độc đáo như làng biển thời chiến tranh trong các trường ca Trần Anh Thái.
     
Và chỉ khi mồ hôi con người đổ xuống thì đất tái sinh: “Hạt giống giấu nụ cười/Những mầm cây ấm dần hơi thở”. Một không gian sống rộng lớn và phong phú bật mở “ba mươi mùa bãi sú ngoài đồng đàn sếu tìm đường về sinh nở”, “sú vẹt lầy bùn”;“Bầy cá bay ngang mặt trời lấp lóa thủy tinh”; “Những chú còng tìm về hang sinh nở”.
   
 Cứ như thế bản sắc của làng hiện ra. Nhà thơ gửi gắm sự gắn bó máu thịt của mình vào đó với một tình yêu quê hương đắm say và một trách nhiệm cao cả trước cuộc đời. Những hình ảnh khốc liệt của thiên nhiên tràn ngập trong thơ ông chính là những ẩn dụ cho cuộc sống thực của kiếp người. Nó soi tỏ nhân tính, buộc người đọc phải dừng lại trầm tư suy tưởng.
     
Ở một khía cạnh khác, trong các trường ca Trần Anh Thái, biểu tượng về Mặt trời ở làng không thuần nhất tượng trưng cho đấng tối cao, sự ban phát. Có thể thấy trong nghệ thuật nói chung, hình tượng mặt trời thường lớn lao, kì vĩ, khoáng đạt tràn đầy ánh sáng. Nói đến mặt trời người ta liên tưởng ngay đến điều tốt đẹp nơi thế gian, đó là lý tưởng, chân lý, là sự hướng thiện. Đó là hình ảnh cho sự cao cả, vĩ đại...
     
Khác biệt với quan niệm trên, có thể khẳng định chắc chắn rằng, mặt trời trong trường ca Trần Anh Thái không lẫn với bất kì thứ mặt trời nào trong nền thi ca Việt Nam. Mặt trời nơi làng biển quê ông luôn bao phủ bởi lớp mây u ám, ảm đạm và ẩn chứa nhiều bí ẩn: “Mặt trời tắt đêm vang hỗn độn/Bầu trời xám, mặt đất xám/Bầu trời phăng phắc vắng”. Một không gian hỗn độn, mờ đục, thiếu sức sống. Đây dường như không phải không gian sống của con người, chỉ rặt bóng tối vây bủa. Đó là thứ mặt trời không mang lại sức mạnh hay điều kỳ diệu nào mà ngược lại nó như một tín hiệu về điềm dữ sắp xẩy ra: “Phía trước chân trời/Tối mù giông tố/Ánh sáng nhô lên hổn hển”; “Những vì sao sáng tối mập mờ”; “Mặt trời ngăn ngắt”. Một không gian mù tối bao trùm, ánh sáng nhỏ nhoi lóe lên nhưng nhanh chóng phụt tắt, làm cho sự hỗn loạn gia tăng, cuối cùng bóng tối ngự trị. Một không gian chật hẹp, tù túng, bí bách, thiếu vắng sự sống và tự do cá nhân. Đến nỗi, Chúa trời cũng vô tâm, vô tình trước nỗi cay đắng, cơ cực đang đè nặng kiếp người: “Thượng đế rong chơi/Người thợ cày nhâm nhi giọt máu của mình”.
     
Trần Anh Thái phủ nhận sức mạnh của mặt trời “Làng trước biển sóng rền bão tố/Người đứng lên đổ bóng xuống mặt trời”. Và qua sự đối lập giữa hình ảnh “mặt trời rong chơi”, “đám mây lơ đễnh” với cuộc sống thiếu vắng tự do, nỗi đau khổ và cõi sống nhọc nhằn lam lũ của người nông dân Việt... Nhà thơ mơ đến một vòm trời khác, một vòm trời tràn đầy ánh sáng, thứ ánh sáng rực rỡ mà không gay gắt, không nắng cháy cũng không phải ánh trăng mờ xuyên qua ngọn tre “ánh trăng côi cút đêm rằm”. Nhà thơ luôn đặt ra những câu hỏi truy vấn về ý nghĩa của cuộc sống: “Có rạng một vòm trời khác?”. Một mặt trời giúp đoàn người lam lũ bước sang thế giới khác tốt đẹp hơn, chứ không phải thứ mặt trời như thực tại. Bầu trời mơ ước đó hiện lên huyền ảo, rực rỡ, trong câu thơ “Ánh sớm trong suốt ban mai mặt trời màu hồng ngọc sáng trên mặt nước”. Nhưng làm cách nào, con đường nào giúp thay đổi thế giới, đưa cuộc sống con người đến một thế giới tràn ngập ánh sáng? Nhà thơ tìm thấy ở thực tại một sức mạnh khác, một mặt trời khác, đó chính là những Con Người. Con Người của tư duy và hành động, con người của những cá nhân trong quá trình vươn tới tự do sáng tạo, để tạo ra những gía trị mới. Chính họ chứ không phải ai khác, bằng trí tuệ, bàn tay, mồ hôi đổ xuống thì ánh sáng sinh ra. Họ giản dị là những nông dân sống trên đất làng “làng là nơi cho ánh sáng tìm về, cho mặt trời nương tựa”, còn cái “mặt trời vô tích sự mặc mây che” kia thì...
     
Bằng quan niệm này, nhà thơ Trần Anh Thái đem đến cho độc giả một nhận thức mới về hạnh phúc, về ngọn nguồn sự sống. Ông đề cao Con Người, những nông dân Việt, những cư dân làng biển. Với nhà thơ, con người chính là mặt trời của mặt trời. Hình ảnh vời vợi uy nghiêm của đoàn người đi dưới hoàng hôn kỳ vĩ khắc sâu vào tâm trí người đọc: “Làng trước biển sóng rền bão tố/Người đứng lên đổ bóng xuống mặt trời”...
     
Trong các trường ca Ngày đang mở sáng, Trên Đường, Mỗi loài hoa một mặt trời khi viết về làng, Trần Anh Thái dường như chìm đắm vào nỗi buồn triền miên không dứt. Có người nói “Thơ Trần Anh Thái là thơ lấy tâm trạng để miêu tả tâm trạng”. Nhận xét này có lý nhưng theo chúng tôi, trong thế giới thơ ông còn luôn hiện lên một vẻ đẹp khác, vẻ đẹp của cô đơn trong suốt. Những hình ảnh thánh thiện nội tâm mang màu sắc tôn giáo và triết học làm xao xuyến bâng khuâng: “Dòng người, sương mờ buổi sáng, nỗi ngờ vực vang lên. Con đường chênh vênh gió. Cái chết của thời gian, sự sống của thời gian âm u, xao xuyến. Trong khoảng hỗn dộn của vô cùng, ý nghĩ rối rời chật chội. Ngày trôi qua giấc mơ. Những dấu chân ngơ ngác rời xa ký ức”.
     
Nỗi buồn xa vắng mênh mang trong cõi thẳm sâu mơ hồ đưa con người vào thế giới trầm tư suy tưởng: “Không ai đốt lửa trước con đường, chỉ có niềm hy vọng cháy lên. Sức mạnh bàn chân ở nơi thẳm sâu miền trắc ẩn, ngân nga nơi dấu chân tổ tiên, nơi những câu chuyện buồn không dứt. Đi! Dừng lại là đắm chìm, là hoang mang cay đắng, là tiếng vọng xa xăm lạnh buốt cõi người. Không có bờ sóng vỗ vào đâu?”
     
Ở một khía cạnh khác, nhà thơ phản ánh hiện thực bi thương qua việc dựng lên một thế giới tâm linh đầy ám ảnh. Những câu thơ viết về vấn đề này có thể xếp vào hạng những câu thơ hay trong thơ ca Việt Nam: “Giỗ Tết người ta mua hương hoa viếng người thân trong nghĩa trang liệt sĩ/Nén hương chị thắp trời không”, “Chị héo hon lẫn vào dòng người đi tìm hài cốt/Ca cút kêu thảng thốt bên trời”. Những ban thờ, những nén hương, những tàn nhang rơi lạnh, nấm mồ không tên không địa chỉ... “Cây vàng mã mua cất vào góc tủ/Chị sợ đốt rồi hương khói biết bay đâu?” Lấy chuyện âm để soi sáng thế gian, lấy cõi ma để nói cõi người. Qua đó, người đọc thấm thía những bi kịch của kiếp sống nhỏ nhoi, mong manh. Nói gọn: Trường ca trần Anh Thái là những trường cảm xúc mạnh mẽ, dồi dào về các giá trị nhân bản.Trái tim nhân bản của ông hiện lên rõ rệt sâu sắc qua từng con chữ. Ông thấu hiểu thân phận người, đồng cảm với nỗi đau của họ. Từ đó lên tiếng tố cáo tội ác chiến tranh, tội ác của thói vô cảm và đạo đức giả. Nó chính là nguyên nhân của mọi nỗi thống khổ. Mỗi câu thơ đầy ưu tư, phiền muộn như vắt ra từ máu, trĩu nặng nỗi buồn đau nhân thế của  người nghệ sĩ tài năng và giàu lòng trắc ẩn này, không chỉ dành cho cá nhân ai, mà chính là niềm cảm thương cho cả một dân tộc, cả một thế hệ...
     
Giá trị không thể phủ nhận trong trường ca Trần Anh Thái là tầm vóc tư tưởng và ngôn ngữ. Trong cả bốn trường ca của ông, người đọc có thể thấy ông luôn có ý thức hướng ngòi bút đến tận cùng nỗi đau của con người, đặc biệt là người phụ nữ. Bằng trái tim nhạy cảm và một tình yêu thương sâu sắc con người, nhà thơ không ngần ngại phơi bày bộ mặt thật của chiến tranh “Xác quân thù xác bạn gục vào nhau”... Ông không đứng trên lập trường dân tộc mà hơn thế, là tính nhân văn cao cả, từ góc độ văn hóa nhân loại để lên tiếng phản đối, tố cáo.
     
Hình ảnh nén hương, ban thờ xuất hiện dày đặc trong các trường ca của Trần Anh Thái:“Ngôi đền Thần hoàng tổ tông mười hai đời trước/Máu người hằn khô vách đá lô xô”“Nén nhang thắp âm u sông nước”;“Khu đền thiêng đóng cửa/Người canh đền đã xưa/Thương tích hằn thế kỉ/Chiếc đỉnh thờ u uất khói hương”. “Tôi thắp một nén hương/Tàn nhang quẩn một vòng tròn trống”; “Chiếc đỉnh đồng mất lửa/Những tàn nhang đã tắt”“Trên bàn thờ tàn nhang đã tắtKhói hương ngơ ngẩn trần nhà”. Hương lửa tượng trưng cho sự hủy diệt, nhưng đồng thời  cũng tượng trưng cho sự sống, biểu tượng của ý chí, của khát vọng đẩy lùi cái hữu hạn, bóng tối để sinh sôi, khởi phátNgọn lửa trong trường ca Trần Anh Thái là ngọn lửa của văn hóa, đầy sức sống, thiêu rụi tối tăm, mở ra một thế giới mới.
     
Nói đến văn hóa sinh thái nhân văn không thể không đề cập đến cuộc sống thường nhật của làng: “Người thợ cày đêm đêm ngồi uống nước chè trước hiên nhà nhìn sao tua rua tính vụ/Cơn gió nam vơ vất chòm râu/Ông gieo cuộc đời xuống vài ba thước đất/Khói thuốc lào chậm rãi thả vào trăng”. Một hình đẹp, xuất sắc về gía trị của người lao động gắn với thiên nhiên huyền diệu. Đây nữa: “Hình người gẫy khúc/Đàn ông gò lưng vác đất/Tảng đất buông ra nắng vỡ ngang đầu/Đồng mở tới đâu/Bàn tay héo gió/Cơn khát giày vò/Mắt người mờ tỏ...”. Tôi thích những câu thơ văn xuôi rực rỡ, đẹp một cách huyền bí, lung linh xuất hiện phổ biến trong trường ca Trần Anh Thái: “Mùa đông lén lút giấu sau làn sương mỏng manh bay ngang mặt nước/Những người đàn bà mải miết tìm hang bắt cá cầy cầy bên thong nước đỏ ngầu màu đất phù sa”; “Những người đàn bà nhẹ nhàng đặt cây đèn cầy bên thong nước khéo léo lùa bầy cá vào ô lưới giăng cửa đợi chờ”.
     
Khả năng tưởng tượng rộng mở, bay bổng tới không giới hạn; nhịp thơ khỏe khoắn, rắn chắc, cảm xúc mạnh mẽ tự nhiên, lôi cuốn là thế mạnh trong thơ Trần Anh Thái: “Những người đàn ông ngực trần lực lưỡng sải cánh tay cuồn cuộn tung tấm lưới về phía hừng đông rực sáng/Ngày mới rộn vang cuộc sống hào phóng tự do đôi cánh hải âu chao trên ngọn sóng”.“Niềm hạnh phúc giản đơn thầm lặng/Sân phơi cá trắng nắng thu vàng”. “Trai làng ra đi biển bốn mặt mịt mờ bão tố/Những thiếu phụ đêm đêm nhẩm tính lịch nước ròng/Một cơn gió đổi chiều một tiếng chim khác lạ/Bỗng giật mình nỗi sợ thót tim”.
   
Vừa cụ thể vừa huyền ảo, cái hùng vĩ hòa trộn với trầm lắng nội tâm tạo đột biến bất ngờ đáng nể: “Mặt trời lướt qua lớp sóng bạc đầu đoàn thuyền căng buồm về bến/Bóng cha lồng lộng trùng khơi…Những người ngư dân vạm vỡ ngực trần bước đi rạng rỡ/Giọt nước mắt người đàn bà sau vạt áo lặng  rơi”. Những trang thơ Trần Anh Thái, hình tượng người lao động được tôn vinh như những vị thần. Bóng họ uy nghi lồng lộng nhưng lại trầm tư sâu thẳm, có khả năng đánh động trái tim người đọc: “giọt nước mắt người đàn bà sau vạt áo lặng rơi”. Nhà thơ nhìn vấn đề ở một chiều kích khác - chiều của linh giác. Ở đây không chỉ thấy hào quang mà còn thấu suốt được những góc khuất của kiếp người, góc chìm của hiện thực đời sống. Những mất mát, trả giá trong cuộc mưu sinh không chỉ đè nặng lên vai người đàn ông mà còn âm thầm trĩu nặng trong trái tim người thiếu phụ... 
     
Viết về đời sống lao động của người dân làng biển trong trường ca, chính là viết về ký ức, về ý nghĩa hình thành nền văn hóa - văn minh biển. Nhà thơ khẳng định họ là chủ thể duy nhất của chính bản thân họ, với ý nghĩa trung thực nhất của từ này. Là quá trình tự hoàn thiện con người, của lịch sử dân tộc, qua khả năng chinh phục và sáng tạo. Bằng suy nghĩ thấu đáo, nhà thơ dự phóng về  một thế giới mới, một vị thế mới cho con người:

“Bóng người đánh cá già lồng lộng in vào trời đất. Đôi mắt sáng tiên tri chỉ tay về phía mặt trời đang tan trong làn sương...”.

  NGUYỄN THỊ THUẤN
(VHNA)





Thứ Tư, 11 tháng 9, 2019

Chữ và nghĩa: 'Khôn cho người ta...'

Dạng đầy đủ của câu tục ngữ này là "khôn cho người dái, dại cho người thương, dở dở ương ương chỉ tổ người ghét". “Từ điển tục ngữ Việt” (Nguyễn Đức Dương, NXB Tổng hợp TP.HCM) giải nghĩa câu này là: "(Đã tinh khôn) hãy tinh khôn cho ai cũng phải e nể; (đã khờ dại thì) hãy khờ dại cho ai cũng phải cảm thương; chứ hành xử vừa chẳng ra dại, vừa chẳng ra khôn thì chỉ khiến cho mọi người ghét bỏ mà thôi".
Tác giả Nguyễn Đức Dương còn thống kê thêm 3 biến thể chuyển chú nữa:“Khôn cho người rái, dại cho người thương, dở dở ương ương chỉ tổ người ghét”; “Khôn cho người ta dái, dại cho người ta thương, dở dở ương ương chỉ tổ người ta ghét”; “Khôn cho người ta rái, dại cho người ta thương, dở dở ương ương chỉ tổ người ta ghét”. Chúng chỉ khác về số câu chữ và thêm trường hợp chính tả viết khác (dái và rái) còn nội dung ngữ nghĩa như nhau.

Có một chữ "dái" cần làm rõ trước khi giải nghĩa toàn bộ câu tục ngữ này.

"Dái" (hay còn viết là "rái") là một từ cổ. “Từ điển Việt - Bồ - La” (A. de Rhodes 1651) giải nghĩa là "sợ"; “Đại Nam quấc âm tự vị” (Huình Tịnh Paulus Của, 1896) giải nghĩa là "kiêng nể"; “Từ điển Từ cổ” (Vương Lộc, NXB Đà Nẵng, 2001) và “Từ điển tiếng Việt” (Hoàng Phê chủ biên, Trung tâm Từ điển học, 2017) cho từ này là từ cũ, ít dùng và cùng giải nghĩa là "kiêng nể".

Từ "dái" này lại đồng âm với một "dái" khác, hay dùng hơn, có nghĩa thông dụng, chỉ "bìu dái" (khẩu ngữ, tức "âm nang" - là "bọc chứa hai tinh hoàn của người (hay động vật có 4 chi, như trâu, bò, chó, lợn, dê, cừu..."). "Dái" trong thành ngữ "Chạy như chó dái" hay tục ngữ "To đầu mà dại, bé dái mà khôn" chính là "dái" này).

"Dái" có nghĩa cổ còn xuất hiện trong một số tục ngữ khác nữa. Chẳng hạn: 1. “Quen dái dạ, lạ dái áo” (Với người quen biết, sống với nhau lâu thì cái mà người ta tôn trọng, kính nể chính là lòng dạ (gồm tư cách, sự hiểu biết, cách ứng xử...); còn với người lần đầu mới quen thì hình thức bề ngoài (trước hết là trang phục, quần áo, bộ dạng..) lại làm cho người ta thấy coi trọng. Câu này cũng ngầm chuyển tới một thông điệp "tốt gỗ hơn tốt nước sơn", cái thực chất của mỗi người quan trọng, giữ vai trò quyết định trong việc định giá trị. 2. “Yêu nhau chị em gái, dái nhau chị em dâu, đánh nhau vỡ đầu anh em rể” (chị em gái - chị em ruột - thường thương yêu, đùm bọc nhau; chị em dâu - có sự cách biệt về quan hệ - thường hay e dè, giữ ý, không thân mật; anh em rể - thứ anh em hình thức - thường hay xích mích, va chạm, không thân thiện, tới mức có thể choảng nhau "vỡ đầu" như chơi - kể cũng hơi quá chứ anh em rể đâu đến nỗi tệ thế?).

Từ "dái", hiểu sâu xa hơn, không chỉ là "kiêng nể", mà còn là "tôn trọng, khâm phục, đáng học hỏi". Đó là một cách ứng xử mà người đời lựa chọn trong quan hệ nói chung. Vậy, tục ngữ "Khôn cho người ta dái, dại cho người ta thương, dở dở ương ương chỉ tổ người ta ghét" cần giải thích chính xác là: "Mỗi người ở đời, có ba cách thể hiện tư cách (cũng như tư chất) và sẽ nhận được ba thái độ ứng xử khác nhau của cộng đồng:

1. Nếu (thực sự) tỏ ra khôn ngoan, giỏi giang, khéo léo sẽ được người khác nể trọng; 2. Nếu tỏ ra còn non kém, dại khờ (một cách chân thành, hồn nhiên) thì sẽ được người khác thông cảm, chia sẻ, quý mến (kém cỏi, thua chị kém em đâu có sao, miễn là ta biết mình biết người); 3. Còn ai đó có biểu hiện không rõ ràng, chả ra khôn chả ra dại, tinh tướng ta đây lên mặt với đời dễ bị người khác "đọc vị" tẩy chay, không nhận được sự tôn trọng và sẽ bị phân biệt đối xử".

“Cái gì cũng phải rõ ràng
Dở dơi dở chuột cả làng không chơi...”.
PGS-TS PHẠM VĂN TÌNH
Nguồn: TTVH



Thứ Ba, 10 tháng 9, 2019

Triết gia, nhà văn Nga A. Zinoviev: Người tới từ tương lai

Chưa bao giờ thỏa mãn với hiện tại, nhưng Alexander Zinoviev cũng không khi nào tỏ ra bi quan đối với nền văn minh trần thế. Có thể trong một thời điểm nào đó, những lập luận của ông chưa được hiểu đúng chiều và đúng hướng nhưng trong nhận thức của xã hội Nga và cả trong tâm thế của nhiều trí thức trên thế giới, di sản triết học và văn chương của Zinoviev luôn đồng nghĩa với tiến bộ và phát triển.
Nhà văn Alexander Zinoviev

Đêm 10/5 tại Moskva, ở tuổi 84, nhà văn kiêm triết gia nổi tiếng thế giới Alexander Zinoviev đã trút hơi thở cuối cùng sau một thời gian dài lâm trọng bệnh (ung thư não). Có lẽ đó cũng là một kết cục tất yếu đối với một trí thức suốt đời mê mải tư duy về số phận nước Nga và thế giới đã không có được phút nào bình an trong tâm tưởng như Zinoviev. Tuy nhiên, dẫu người đã về cùng cát bụi nhưng những suy nghĩ của ông chắc chắn sẽ còn giúp nhân loại tiếp tục quá trình nhận thức gian khó và không mệt mỏi về tương lai của mình.

Con đường trăn trở

Cuộc đời của Zinoviev không bằng phẳng và rất phong phú sự kiện. Ông sinh năm 1922 tại tỉnh Kostroma trong một gia đình nông dân Nga đông con nhiều cái. Học giỏi từ nhỏ, năm 1939, Zinoviev thi vào Trường Đại học Triết, văn và sử Moskva (MIFLI), học đường đã đóng vai trò thay thế các khoa xã hội nhân văn của Trường Đại học quốc gia Moskva mang tên Lomonosov (MGU) trong 10 năm, từ 1931 tới 1941. Khi cuộc chiến tranh Vệ quốc vĩ đại bùng nổ, Zinoviev gia nhập quân đội, trải qua mọi cảnh lửa, nước và ống đồng trong đạn bom, bắt đầu là một chiến sĩ lái xe tăng và cuối cùng trở thành một phi công lái máy bay tiêm kích, tham dự tới 31 chuyến bay chiến đấu. Đảng và Nhà nước Xôviết đã trao tặng người lính Zinoviev nhiều huân và huy chương...

Năm 1946, Zinoviev lại vào học tiếp ở Khoa triết MGU và tốt nghiệp vào năm 1951. Năm 1954, Zinoviev bảo vệ rất thành công luận án phó tiến sĩ về phép lôgích trong bộ sách "Tư bản" của Karl Marx. Năm 1960, Zinoviev bảo vệ thành công luận án tiến sĩ và trở thành người phụ trách bộ môn toán lôgích tại Khoa triết MGU. Hàng loạt những tác phẩm triết học có giá trị đã xuất hiện dưới ngòi bút ưu thời mẫn thế và đầy trách nhiệm với cuộc sống của Zinoviev.

Là một triết gia có cách nhìn hiện thực phê phán đối với những gì còn chưa hoàn thiện, Zinoviev đã không mấy quan tâm tới việc giữ mồm giữ miệng khi phát ngôn quan điểm của mình. Trên phương diện này, có lẽ ông là người gần gũi với nhà văn Nga nổi tiếng từ thế kỷ XIX, Saltykov-Shedrin (1826-1889). Trong tâm thức của hai nhân vật khác thời nhưng cùng kiệt xuất này, tình yêu tổ quốc vô bờ bến trước sau như một luôn gắn liền với thái độ đấu tranh không khoan nhượng và trung thực với những khoảng tối đang còn ám ảnh dân tộc Nga. Chính vì thế nên ngay cả khi do hoàn cảnh phải tạm thời sang cư trú ở nước ngoài (tại Munich từ năm 1978 tới 1999), Zinoviev vẫn nhất mực chối từ xã hội tư bản. Về sau, ông đã rất tự hào là trong gần 20 năm ở xa nước Nga, ông đã hoàn toàn sống bằng tiền nhuận bút và các bài giảng chứ không hề nhận bất cứ một xu nào từ phía những kẻ muốn ông phát ngôn theo chúng để chỉ trích chế độ Xôviết. Những tác phẩm của ông xuất hiện trong thời gian này cũng đầy trăn trở và tâm huyết đối với nước Nga và nhân loại...

Có lần, ông đã tâm sự: "Tôi là người Nga, tôi thuộc về dân tộc Nga. Tôi biết thế nào là dân tộc Nga. Nhưng tôi không phải là kẻ theo chủ nghĩa dân tộc...". Ngay cả trong lúc tưởng như sa cơ, tưởng như bị quê hương ruồng bỏ, ông vẫn còn nói được một câu nổi tiếng làm "tẽn tò" một số thế lực muốn kích động ông chống lại nước Nga: "Tôi không coi phương Tây là vương quốc tự do, tôi cũng không coi Liên Xô là vương quốc nô lệ...".

Zinoviev tự gọi mình là "người tới từ tương lai" bởi lẽ, với trí tuệ siêu việt của mình, ông muốn giúp nhân loại tỉnh táo và hiện thực hơn khi lựa chọn con đường phát triển. Không phải mọi điều ông nói đều hiển nhiên đúng, nhưng dẫu sao đó cũng là những thông tin tham khảo hữu ích đối với những ai muốn tạo dựng một tương lai bớt u ám hơn những gì đã có.

Công bằng với lịch sử

Trong cách nhìn nhận của Zinoviev ở đầu thế kỷ XXI, xã hội Xôviết đã là đỉnh cao của lịch sử nước Nga, mặc dầu chưa chắc đã là điều tốt nhất mà nhân loại mơ ước: "Tôi không viết sách giáo huấn, tôi không đưa ra những nhận định mang tính chủ quan nhưng tôi biết: trong lịch sử Xôviết của chúng ta đã mở ra một dạng thức mới của tiến hóa xã hội. Khác hẳn tất cả những gì đã có và những gì đang hiện hữu. Xét về ý nghĩa này thì đấy là một thí nghiệm xã hội vĩ đại, có ảnh hưởng vô cùng to lớn đối với nhân loại, và toàn bộ quá trình tiến hoá của nhân loại đã và đang diễn ra dưới ảnh hưởng của mô hình ấy. Quý vị nghĩ rằng Liên bang Xôviết đã không có ảnh hưởng tới lịch sử thế giới ư? Thật là nực cười nếu ta phủ nhận ảnh hưởng đó. Tại phương Tây, người ta đã vay mượn từ kinh nghiệm Xôviết vô số những thành tựu và những thành tựu này đã trở thành máu thịt của nhân loại".--PageBreak--

Xã hội Xôviết, theo cách lý giải của Zinoviev, đã là một hệ thống tổ chức xã hội khác hẳn: "Liên Xô lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại đã bắt tay vào việc thành lập những liên hiệp tầm cao hơn hẳn so với các mô hình xã hội khác... Trong cuốn sách "Siêu xã hội" tôi đã mô tả tỉ mỉ cái đó là như thế nào. Siêu xã hội - đó là mức độ tổ chức xã hội cao hơn hẳn. Chúng ta hãy thử xem xét toàn bộ quá trình tiến hóa của nhân loại - một thí dụ kinh điển: có những quốc gia mang tính dân tộc của các nước Tây Âu, nhưng cũng có những liên hiệp thô sơ hơn. Liên bang Xôviết chỉ tồn tại 70 năm. Nhưng tại Liên Xô lần đầu tiên đã phát minh ra một hình thức tổ chức cao hơn hẳn...".

Zinoviev cho rằng, xã hội Xôviết đã có rất nhiều ưu thế chủ quan bất chấp vô số những khó khăn khách quan. Và sự tan vỡ của Liên bang Xôviết đã có thể diễn ra, ngoài một số yếu tố nội tại nào đó, chủ yếu là do những "mưu ma chước quỷ" từ bên ngoài cộng hưởng với sự phản bội lại đạo lý và tư tưởng cộng sản từ phía một bộ phận lãnh đạo cấp cao bị tha hóa bởi những "viên đạn bọc đường" từ phương Tây.

"Ông có tiếc về sự tan rã của Liên bang Xôviết không?" - khi nghe câu hỏi này, Zinoviev đã đáp ngay lập tức: "Tôi không bao giờ tiếc nuối cái gì cả. Liên Xô đã tan rã, không còn Liên Xô nữa. Nhưng chính nhờ Liên bang Xôviết mà dân tộc Nga mới có thể tồn tại được và đã đóng được một vai trò nào đó. Sau khi Liên Xô tan rã, dân tộc Nga đang phải đối mặt với nguy cơ suy thoái... Điều này đã được các nhà chiến lược của phương Tây tính toán từ những năm 40 của thế kỷ trước. Chỉ tính riêng tại Hoa Kỳ đã có tới hơn 300 trung tâm chuyên về nghiên cứu chiến tranh lạnh với nước ta. Trong chiến tranh lạnh đã có hàng chục triệu người bị lôi kéo vào những hoạt động chống lại Liên Xô. Đó là một mưu đồ khổng lồ. Chuyện này đã diễn ra không phải là trong ngày một ngày hai...".

Đọc đến đây có thể nhớ tới những lời phát biểu mới nhất của Tổng thống Nga Vladimir Putin trong Thông điệp Liên bang thường niên đọc trước hai viện Quốc hội Nga cũng vào ngày 10/5 vừa qua. Ông Putin đã đề cập tới nhu cầu nước Nga phải trở nên mạnh mẽ hơn, đông dân hơn để bảo vệ quyền tồn tại xứng đáng của mình trên trường quốc tế.

Không lý tưởng hóa xã hội Xôviết, nhưng Zinoviev luôn cố gắng nhất quán gìn giữ thái độ công bằng đối với quá khứ, đặc biệt là với những nhân vật từng đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển Liên Xô trước đây. Về Stalin, Zinoviev nhận xét: "Tôi đánh giá ông ấy là một trong những nhân vật vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại... Bởi lẽ, ông ấy đã tạo lập được một cường quốc vĩ đại". Theo Zinoviev, trong những năm Stalin lãnh đạo quốc gia Xôviết, đặc biệt là những năm cuối thập niên thứ ba đầu thập niên thứ tư của thế kỷ trước, tại Liên Xô đã xảy ra những vụ việc này nọ nhưng cần phải có một lãnh tụ cứng rắn như Stalin thì mới làm bình ổn được tình hình đất nước; khắc họa hình ảnh Stalin chỉ dưới những góc nhìn tiêu cực đều là xuyên tạc sự thật.

Là một triết gia sâu sắc, Zinoviev không bao giờ tư duy theo kiểu "vơ đũa cả nắm". Ông tâm sự, ngay trên chính trường Nga hiện nay, dù luôn bị tác động bởi những xung lực tiêu cực xa và gần vẫn đang tồn tại những nhà chính trị xứng đáng được kính trọng bởi tâm huyết và đạo đức của họ. Khi ông Putin mới vào làm chủ Điện Kremli, Zinoviev đã nhận xét như sau: "Tôi rất kính trọng Tổng thống mới. Tôi nghĩ rằng, trong số những người có tham vọng đối với vị trí đó thì đây là phương án tốt nhất. Tôi có thể nói rằng, trong tình hình hiện nay thì tôi cũng không thể nghĩ ra cách ứng xử nào tốt hơn cách ứng xử như của Tổng thống Putin...".

Vô thần nhưng có tín ngưỡng - đó chính là lời tự nhận xét của Zinoviev về bản thân mình. Tín ngưỡng của ông là tình yêu thật sự vô tư, thật sự xót xa, thật sự chân thành đối với con người theo cái nghĩa chung nhất của từ này. Ông trước tiên là một triết gia lớn đậm đặc tính nhân văn của dân tộc Nga nhưng cũng là một triết gia lớn đậm đặc tính nhân văn của chung nhân loại

PHƯƠNG HÀ
Nguồn: ANTG



Nhà văn Thùy Dương: Trăn trở với mỗi thân phận Người

Nếu không biết Thùy Dương sinh ra và lớn lên ở Hải Dương, sẽ đoán   chắc nàng là người Hà Nội gốc. Gọi là nàng v ì nàng không chỉ xinh đẹp, ...