Thứ Ba, 27 tháng 8, 2019

Trần Vũ Mai - quyết liệt và mạnh mẽ

Hằng năm, cứ đến ngày 19 tháng Giêng, ngày nhà thơ Trần Vũ Mai qua đời, là nhóm bạn bè chúng tôi lại nhớ đến anh, một nhà thơ, một người bạn, một hồn thơ quyết liệt và lặng lẽ đến kỳ lạ.

Vào chiến trường miền Nam từ tháng 4 năm 1971, đã từng “nằm vùng” rất lâu ở cực Nam Trung Bộ, nơi chiến trường nổi tiếng là “đói và chết chóc”, hồi đó gọi là T6 mà anh em chúng tôi vẫn đùa là “ 6 tấm”, nó là cái gì thì ai cũng biết rồi. Trần Vũ Mai đã tham gia nhiều chiến dịch, trải qua nhiều trận đánh cùng với bộ đội và du kích, đã chất chứa trong lòng mình, trong ký ức mình bao nhiêu là số phận những con người trong chiến tranh mà anh mong sẽ có ngày mình viết lại được. Không để làm gì, chỉ để trả ơn trả nghĩa với đồng đội, đồng bào đã bảo bọc mình những tháng năm gian khổ và cay đắng.
Từ phải sang: Các nhà văn Trần Vũ Mai, Thanh Quế, Dương Đức Quảng, Nguyễn Khắc Phục tại chiến trường khu V.

Hòa bình, là dịp may cho những người có tài năng văn học đã sống sót qua chiến tranh như Trần Vũ Mai. Anh háo hức, ngược xuôi, đi và viết, đi và nghĩ, đi và yêu. Nhưng vốn là một chàng trai vừa bản lĩnh, mạnh mẽ nhưng lại vừa đầy những thương cảm, yếu đuối, Trần Vũ Mai đã chọn Trần Mai Ninh và Hemingway làm thần tượng - hai nhà thơ nhà văn cũng đầy những phức cảm giống như anh.

Là một người từng trải nhưng có tâm hồn ngây thơ và thánh thiện của một đứa trẻ, Trần Vũ Mai đã tin yêu là hết mình. Nhưng khi thất vọng thì cũng thật khó gỡ. Anh đã thất vọng vì mọi điều không tốt đẹp như anh nghĩ, như anh tin, như anh kỳ vọng. Sau chiến tranh, rất nhiều cái xấu, nhiều người không tốt đã xuất hiện, và họ đã nhiều lần khiến Trần Vũ Mai phải thảng thốt kêu lên: “Ơ, sao lại thế này?” Thì nó là thế, biết làm sao!  

Bây giờ, không phải nhiều người biết đến Trần Vũ Mai và thơ anh, mặc dù theo tôi, anh là một trong những nhà thơ tài năng và bản lĩnh vượt trội của thế hệ thơ chống Mỹ. Cơ sự cho cái thiếu “duyên nổi tiếng” này là ở chỗ Trần Vũ Mai lúc sinh thời không bao giờ thèm “PR” cho thơ mình. Anh cố ý tránh xa những nơi có thể đọc thơ hay quảng bá thơ, nhất là thơ của anh. Công tác ở Nhà Xuất bản Tác Phẩm Mới (tức Nxb Hội Nhà Văn sau này) nhưng Trần Vũ Mai không hề “nhân dịp” đó để công bố bất cứ tập thơ nào của mình ở Nhà xuất bản “nhà” này. Và hình như anh cũng hơi thờ ơ với sự công bố tác phẩm của mình ở những nơi khác. Mai làm việc quá nghiêm cẩn, anh trăn trở với từng con chữ, nhưng hình như anh chỉ làm thơ cho… mình đọc là chính, như kiểu anh ghi nhật ký. Trong số những nhà văn trẻ hồi ấy đi chiến trường, thì Trần Vũ Mai là người chăm ghi nhật ký nhất. Nhiều đoạn nhật ký của anh được công bố sau khi anh mất (Mai mất năm 1991) mang tính văn học rất cao, vì được anh viết rất kỹ.

Trường ca Ở làng Phước Hậu của anh được thai nghén và viết từ một ngôi làng ở Phú Yên. Lúc đầu nó có tên là Cảm giác lạc quan, nhưng về sau nhà văn Nguyễn Chí Trung, người thủ trưởng đầy quả cảm trong chiến đấu mà Mai rất quí trọng, đã gợi ý anh nên đổi tên là Ở làng Phước Hậu cho nó… dễ hiểu. Có lẽ ông Trung thấy cái tên Cảm giác lạc quan này tuy hay và lạ nhưng hơi… ngài ngại thế nào ấy (?). Thôi thì lấy tên Ở làng Phước Hậu có vẻ “người thật việc thật” cho nó... lành. Tôi nghĩ, chính cú “thay tên đổi họ” ấy đã khiến trường ca này, một trong những trường ca rất hay về cuộc chiến tranh chống Mỹ, có một số phận hơi khuất lấp. Đó là điều rất đáng tiếc.

Có thể giải mã cái tên ban đầu Cảm giác lạc quan của trường ca này, khi cái lạc quan ngay sau giải phóng mới chỉ là “cảm giác”. Điều đó hoàn toàn đúng, và là một người từng ở chiến trường Nam Bộ ngót 5 năm, tôi chứng thực điều ấy.  Khi lạc quan mới chỉ là cảm giác, thì từ lạc quan tới bi quan lại là một khoảng ngắn. Ai đã từng đi kháng chiến, đã từng sống sau chiến tranh ở Việt Nam đều thấu hiểu điều này… Nhưng có lẽ Trần Vũ Mai cố gắng để không tin như vậy. Nhưng rồi thực tế đã buộc anh nghĩ khác. Anh chọn cho mình sự “giải thoát tạm thời” bằng cách… uống rượu, và chọn giải pháp căn cơ hơn là ghi nhật ký. Và viết những bài thơ, viết cả một trường ca mới Nàng chim Lạc mà anh cất trong ngăn kéo để chơi.

Tôi ít thấy một nhà thơ nào mà coi danh vọng “không là cái đinh gì” như Trần Vũ Mai. Nhớ ngày mới giải phóng, giữa Sài Gòn tôi gặp lại Trần Vũ Mai khi anh theo quân đoàn 2 đánh vào Sài Gòn. Mai đi xe jeep, rủ tôi vào nhà hàng Thanh Thế uống rượu tây. Trông anh giống hệt Hemingway khi ông chiến đấu ở Tây Ban Nha trong nội chiến. Mà đúng là trong đời, Mai chỉ thần tượng có hai người: một là Trần Mai Ninh, và hai là Hemingway. Đều là hai nhà thơ nhà văn ưa mạo hiểm và sống lãng tử. Trần Vũ Mai cũng vậy. Anh đã mạo hiểm trong chiến tranh. Và mạo hiểm cả trong hòa bình. Ngay cái chết của anh cũng mơ hồ và bí ẩn như cái chết của Trần Mai Ninh và Hemingway. Dù là chết trong hòa bình.

Trần Vũ Mai có hai bài thơ viết trước và sau khi đã ở chiến trường gây được ấn tượng rất mạnh đối với tôi và nhiều anh chị em làm thơ khác cùng thế hệ, đó là bài thơ Thành phố nghiêng mình viết ở Nha Trang tháng 4 năm 1975, và bài thơ Thảm cỏ bờ sông Hồng viết đầu năm 1971 trước khi rời Hà Nội vào chiến trường Cực Nam Trung Bộ. Rồi tôi đọc và tìm thêm một bài thơ nữa mà tôi rất thích, vì nó bộc lộ được những yêu thương, dằn xé và đau buồn của Trần Vũ Mai, đó là bài thơ Tự khúc viết tháng 9 năm 1978.

Bây giờ, đọc lại bài thơ Thảm cỏ bờ sông Hồng, bài thơ Trần Vũ Mai viết đầu năm 1971, trước khi rời Hà Nội vào chiến trường khu Năm cùng anh chị em trong lớp viết văn trẻ đặc biệt của Hội nhà văn Việt Nam, bài thơ vừa dịu dàng vừa mãnh liệt, vừa hồn nhiên vừa kiêu hãnh, tôi lại càng tiếc cho một tài năng thơ đã sớm bị cắt ngang mạch sáng tạo. Vào một lúc tĩnh tâm nào đó, có lẽ chúng ta nên đọc lại bài thơ này để có cảm nhận sâu hơn về một thế hệ đã dấn thân vào chiến trường những tháng năm ác liệt nhất.

THẢM CỎ BỜ SÔNG HỒNG

Buổi sớm
gương mặt em như xa vắng
anh đi những phố hè tìm mọi mảnh đường quen
lổ đổ tinh mơ rêu phủ
đường cong xa vời
gạch lửa phơi đỏ thắm

Đã từng mưa ở đây
Nắng đã từng trắng
mảnh tường tươi này
anh thuộc lòng dấu cũ em qua

Bữa ấy chúng mình đi trong đêm lửa đạn sông Hồng
mưa lũ
tay em lạnh mà không run sợ
anh nghĩ ngày mai còn trời đạn ấy
mặt anh thì xạm cháy
nhưng ngày mai ơi
chớ vắng bàn tay em
trên đôi vai người lính của ta cứng cỏi từ năm vào cuộc
ngày mai ơi
Hà Nội không phai
suốt một ngày bầu trời thăm thẳm
nhớ riêng em
tôi nhớ những gì tôi chưa có được
thảm cỏ bờ sông Hồng non tơ
màu cẩm thạch nghiêng chào giã biệt
nếu ta có lỗi với em
cũng vì ta muốn mình không có lỗi
trước mặt em còn được tươi cười
giọng vang và trẻ mãi
bao giờ ta cũng chỉ là ta thôi

Cùng với những gì ta mến yêu sầu tư mộng tưởng
thảm cỏ bờ sông Hồng phủ bọc trái tim
nơi sâu kín ấy cũng đã bị đạn bom chạm tới
những tròng mắt đảo điên để ý đến ta rồi
đừng buồn em nhé, bây giờ
hồi em buồn nhớ
anh còn buồn hơn

Em
nhỏ bé mà trắng tinh
trước mặt thảm cỏ dòng sông
cầm tay một bông đại đóa
em ạ, chớ buồn
anh vào cực Nam đây.

(Hà Nội, 3/1971)

Nhưng một bài thơ có thể coi là “Tuyên ngôn Thơ” của riêng Trần Vũ Mai, được anh viết ngay sau ngày kết thúc chiến tranh, bài thơ Thành phố nghiêng mình viết về Nha Trang, có gắn với Tuy Hòa, nơi Trần Vũ Mai từng nằm hầm bí mật những năm tháng chiến tranh, lại cho tôi một ấn tượng choáng ngợp khi lần đầu tôi được đọc bài thơ này in trên tờ Văn nghệ giải phóng Trung Trung Bộ (cái tên tôi nhớ không rõ lắm) vào tháng 6 năm 1975 ở Đà Nẵng. Đây là bài thơ đầy yêu thương của nhà thơ Trần Vũ Mai và đầy chất thép của người lính Việt Cộng Trần Vũ Mai. Đúng như Xuân Diệu viết “Yêu và căm hai đợt sóng ào ào”, bài thơ của Trần Vũ Mai khởi đi một mạch, như tác giả đã viết nó trong cơn xuất thần, chất chứa bao điều muốn nói. Tôi nghĩ, thành phố Nha Trang, dù bây giờ có đổi khác thế nào, thì vẫn là thành phố dưới chính thể này, và nên coi bài thơ Thành phố nghiêng mình của Trần Vũ Mai như một bảo vật văn hóa của thành phố mình. Không phải thành phố nào ở Việt Nam cũng có được một bài thơ như thế đâu.

THÀNH PHỐ NGHIÊNG MÌNH

Đến năm ấy chúng xây thành dựng lên cửa sắt
Khai trương một thời xích xiềng roi vọt
Ôi, Nha Trang, người bỗng hóa ngục tù

Lúc bấy giờ
Nha Trang
Những mẹ già dắt tôi qua đường tối
Có những trái mìn quân thù giấu lại
Bay khát thèm máu của ta chăng!

Lúc bấy giờ gió cũng lặng yên
Thời gian khó, giấc mơ tôi kỳ diệu
Làm sao cho một sáng đứng lên
Để ánh ngày soi tỏ mặt tỏ tên
Những mẹ già dắt tôi qua đường tối
Hết đêm này đêm nọ chẳng hề ngơi
Lúc bấy giờ
Tôi vẫn sống, em vừa ngã xuống
Máu em thấm nơi cửa hầm đỏ đất
Tôi nhìn trời có nghĩa gì đâu
Đôi cuộn mây hồng hay ánh trăng sao
Em thường nói, rồi chúng mình trẻ mãi
Tôi cầm khẩu súng em, lắng nghe lần cuối
Đêm vượt đường chim dậy hót cho em

Rồi tôi đi qua mấy cánh rừng
Vượt mấy dòng sông trải nhiều trận đánh
Lòng nông nổi nhớ em như biển
Như thiếu muối và thương nhớ biển
Trong trái tim mình lấp lánh cả đời em

Tôi qua mấy chục cánh rừng
Có đêm chợp ngủ bên dòng Đak Suk
Súng để gối đầu chân thì gối dép
Nghe ngọn gió nào cũng như gió Nha Trang
Từ Buôn Mê Thuột gợi lòng
Cứ nhìn về phía biển
Biết nói gì, biết nói làm sao!
Ở Tuy Hòa khi tiếng hát ngân cao
Hát ca ngợi tháng ngày vĩ đại
Quân đoàn đi như sóng cuộn trên đường
Vượt núi non, qua những cánh đồng
Qua những sân nhà, những ngọn cờ Tổ quốc
Ôi, ngày hôm nay chúng ta có được
Cả đoàn quân rực rỡ ánh ban mai
Như bờ biển sóng vun như những luống cày
Tôi ngoảnh lại
Tuy Hòa rung mềm mại
Tuy Hòa vui trong gió thổi
Lúc bấy giờ
Lúc ấy
Hỡi Nha Trang!

Lúc bấy giờ
Nha Trang
Nha Trang ngục tù hóa thành chợ búa
Chợ cháy ra tro, chúng ngả nghiêng cười
Thằng đại tá một đêm tháo thạy
Trong nhà tắm mảnh cờ vàng chết đói
Súng và hoa cả xác chết ngoài sông
Những con tàu đổ người xuống biển
Ngày giam trong khóa xích
Đàn chó hoang rên rỉ cuối đường

Lúc bấy giờ
Nha Trang
Những người phá thành phá vây đã tới
Nha Trang nghiêng mình
Manh áo Mỹ bạc màu rơi xuống biển
Những em gái cầm chổi ra đường
Hốt rác đầu mũ lính
Thành phố hiện ra cùng ánh cờ sao
Tưởng như thế cuộc đời vô tận mãi
Bao hạnh phúc nở ra nhiều hoa trái
Vâng, cho dù như thế các anh ơi
Nếu kẻ thù đã chết
Thì tội ác bay vẫn còn ở Nha Trang
Ghi trên nét mặt, khắc giữa lòng đường
Đây lời nhắn đã thấm vào ngọn lửa
Của người hy sinh những trận phá thành

Hạnh phúc sẽ kéo dài vô tận
Là cây lá dần xanh trở lại
Là những tường nhà Nha Trang không còn dấu đạn xuyên
Là đất đai, biển cả, khoảng không
(trừ đi những phần kia còn chất độc)
Là vẻ đẹp người hôm nay ca hát
Là đồng hoang trở lại những mùa vui
Chiều buông xuống chan hòa trời biển
Là đứa con tôi mai mốt ra đời

Từ lâu lắm
Nếu kẻ thù đã chết
Thì tội ác bay vẫn còn ở Nha Trang

Tôi tìm mẹ tôi trên mỗi đoạn đường
Mìn xếp đống góc sân nhà mẹ
Ồ, ánh ngày sao mà sáng thế
Mẹ già ơi, con muốn khóc, lòng con
Lòng con chẳng biết nói sao nữa, mẹ
Khi mẹ kể cùng con và thành phố nghiêng mình

(Nha Trang tháng 4/1975)

Và bài thơ thứ ba, bài Tự khúc viết ở Hà Nội năm 1978, khi Trần Vũ Mai đã buồn nhiều hơn vui. Khi anh đã, như người Mỹ sau chiến tranh thường nói, mắc vào “hội chứng thời hậu chiến”. Tôi không biết những người lính Mỹ mắc phải hội chứng này ra sao, nhưng với thi sĩ Việt Nam và người lính Việt Cộng Trần Vũ Mai, thì đây là một hội chứng khốc liệt. Chúng ta đọc bài thơ Tự khúc và tự cảm nhận điều đó. Bài thơ này Trần Vũ Mai viết cho riêng mình, nhưng đã nói được rất nhiều cho những người lính cũ, người kháng chiến cũ chúng tôi. Không nguôi yêu thương, nhưng không thể dứt đau buồn. Và đúng như một câu trong bài thơ, nhiều lúc như rơi vào “vô vọng”.

TỰ KHÚC

Lúc bình minh mà vắng cả sắc màu
anh nằm xuống nhìn lên kia vô vọng
anh đã hét trong phòng im cửa đóng
lúc thương người lại giận chính mình thôi
đêm lúc lặng thinh nghe vắng vẻ cuối trời
ai chẳng đến với anh như thế cả
chắc vì em nên gió chiều rực rỡ
nửa khuya rồi mưa lạnh thấm hai ta

đường vẫn cũ xưa trời thẳm vẫn cao xa
có chăng mới là giọng em hát đó
có chăng mới tiếng cười em nho nhỏ
vỡ tan dần trong thầm lắng lòng anh
ôi chim xa của đôi cánh ân tình
của tiếng hót làm vui làm đau đớn
của tĩnh mịch ngẩng trông lên cao thẳm
của tình yêu trời đất đã ban cho
sóng biển vừa gieo hai ta lên bờ
không tất cả có lẽ phải thế
không thể khác chắc sẽ là phải thế
mang nỗi sầu tha thiết nhớ em yêu

(9/1978)

THANH THẢO
(VĂN NGHỆ, 31/2019)

Tin bài khác:





Chủ Nhật, 25 tháng 8, 2019

Nhà văn Trần Thị Trường: Người đàn bà đa đoan và "lắm chuyện"

Nhà văn Trần Thị Trường đam mê hội họa từ khi còn nhỏ. Thuở trước, cô thiếu nữ Hà thành xinh đẹp đã theo học lớp vẽ của họa sĩ Phạm Viết Song ở 89 phố Nguyễn Thái Học, Hà Nội. Lớp vẽ nhỏ với hơn chục học trò của thầy Song thế vậy mà đã có danh họa Trần Văn Cẩn đến thăm và dạy một số giờ. Những bài giảng của các thầy đã gieo vào lòng cô học trò niềm hứng thú cùng ước vọng.
Nhà văn Trần Thị Trường qua nét vẽ của họa sĩ Hải Kiên.

Đón tôi ở trước cổng làng Phùng Khoang (phường Trung Văn, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội) nhà văn Trần Thị Trường thông báo: "Vừa mất điện". Tôi nghĩ thầm "Nắng nóng thế này?". Nhìn vẻ mặt đần thẫn của tôi, chị động viên: "Nhưng không sao".

Câu nói "Nhưng không sao" của nhà văn Trần Thị Trường có cái lý của nó. Sau khi bước qua cánh cổng nhỏ, tôi chợt á á trong cổ. Nhà của chị nằm trong một khuôn viên rộng chừng hai trăm mét vuông lọt giữa những căn nhà cao tầng.

Đáng chú ý là khuôn viên đó được che mát bởi hai cây lộc vừng "cổ thụ". Tán lá xanh rì của cây ngọc lan và cây đại hoa vàng đủ làm dịu đi không khí oi nồng. Chỉ tay vào đôi chiếc ghế gỗ nhỏ đặt lọt thỏm trong "vòng vây" của những chậu hoa, chậu cây cảnh, tôi bảo: "Ngồi đây để đàm đạo văn chương còn thú gì hơn".

Nhà văn Trần Thị Trường cười: "Trong lúc chờ có điện, mời em vào thăm phòng vẽ của chị". Tôi lại á á trong cổ khi chợt nghĩ, chắc chị cũng như mấy nhà văn nhà thơ khác là sau những giờ phút trăn trở với chữ nghĩa thì lấy vẽ vời thư giãn?

Tôi bị "bé cái nhầm", nhà văn Trần Thị Trường đam mê hội họa từ khi còn nhỏ. Thuở trước, cô thiếu nữ Hà thành xinh đẹp đã theo học lớp vẽ của họa sĩ Phạm Viết Song ở 89 phố Nguyễn Thái Học, Hà Nội. Lớp vẽ nhỏ với hơn chục học trò của thầy Song thế vậy mà đã có danh họa Trần Văn Cẩn đến thăm và dạy một số giờ. Những bài giảng của các thầy đã gieo vào lòng cô học trò niềm hứng thú cùng ước vọng.

Rồi Trần Thị Trường đỗ vào Trường Đại học Mỹ thuật công nghiệp, khóa 1973 - 1978. "Sao lại chọn học Khoa Gốm sứ?". Nhà văn Trần Thị Trường trả lời câu thắc mắc của tôi: "Mình mơ ước vừa là họa sĩ giá vẽ vừa là người làm gốm để…. kiếm tiền".

Đơn giản vậy nhưng thực tình từ nhỏ, cô gái tên Trường đã rất mê gốm. Thời những năm bảy mươi của thế kỷ hai mươi, sản phẩm của làng gốm Bát Tràng nổi tiếng đất Kinh kỳ mới chỉ "hạn hẹp" trong đồ ấm chén da lươn đơn điệu. Chắc cô sinh viên trẻ mơ làm nên những sản phẩm gốm có chất lượng và có tính nghệ thuật cao hơn?

Ước mơ Gốm của Trường lại có "nguyên cớ" từ một thương hiệu gốm trên phố Nguyễn Du rất nổi tiếng, Gốm Chi. Cô từng hàng giờ ngồi ngắm những chiếc bình gốm có kiểu dáng khá độc đáo được làm đơn chiếc cùng nước men cũng vô cùng độc đáo của Gốm Chi.

Hình ảnh đó thực sự gây cảm xúc mạnh, nhưng rồi vào học thì cô sinh viên trẻ mới thấy nản. Làm Gốm với cô quá xa vời, bởi để có được những sản phẩm gốm như cô từng nghĩ lại khó khả thi. Đầu tiên là phải có lò nung gốm, rồi chất liệu men và cuối cùng là kinh tế gia đình nhỏ của cô đang rất khó khăn (Trần Thị Trường lấy chồng sớm).

Giấc mơ thiếu nữ bị khép lại đầy dang dở khi đứa con đầu còn bé nhỏ và quan trọng là "nhà chỉ cần một người làm hội họa là đủ". Chồng của Trần Thị Trường là họa sĩ kiêm điêu khắc gia Nguyễn Hưng Việt. Chị đã nghĩ: "Hai vợ chồng cùng là họa sĩ trong điều kiện đời sống xã hội chỉ dừng ở mức tiêu dùng, không mấy ai có tiền để "mua" nghệ thuật, thì lấy gì để sống".

Thế là Trần Thị Trường "chia tay" hội họa và gốm ngay từ khi chị chưa học xong. Năm 1981, Trần Thị Trường đi xuất khẩu lao động. Dạo những năm tám mươi, nhà nào có người đi xuất khẩu lao động sang Liên Xô và các nước Đông Âu thì coi như nhà đó "đổi đời".

Với vốn tiếng Nga học trong trường phổ thông và mấy năm đại học chỉ vào loại giao tiếp, ấy vậy mà Trần Thị Trường lại "liều" xin làm phiên dịch cho cánh thợ hàn. Lại liều hơn khi chị đâu chỉ làm phiên dịch tiếng Nga mà chị làm phiên dịch tiếng Bulgari kia. Tôi hỏi: "Chị làm thế nào khi ấy?". Nhà văn Trần Thị Trường cười: "Tiếng Bulgari cùng hệ Slavo với tiếng Nga nên "chuyển đổi" cũng không khó là bao".

Làm phiên dịch thấy vẫn chưa "đủ ăn", Trần Thị Trường xoay sang làm thêm nghề may. Những chiếc quần bò nhái hãng Levis Strau với nhãn mác y như thật đã "rầm rộ" rời xưởng để ra chợ. Hàng bán chạy và dĩ nhiên là có tiền, nhưng Trần Thị Trường lại nghĩ (người đàn bà này cầm tinh con hổ có khác nên việc gì cũng chưa bằng lòng chăng?) "Có tiền đủ sống rồi thì tiếp theo sẽ thế nào?". Cô phiên dịch viên kiêm thợ may "quần bò giả hàng hiệu" bèn "xoay" sang viết văn mới "hung hăng" chứ.

Cứ nhìn cuộc sống xung quanh, cứ nhìn những đời sống bên cạnh mà làm tư liệu, Trần Thị Trường hăm hở viết văn như lần đầu được yêu. Và chị về nước cùng những trang viết. Tiểu thuyết đầu tay "Lời cuối cho em" do Nhà xuất bản Thanh niên ấn hành khi vừa ra mắt năm 1990 đã gây xôn xao. "Một cây bút văn xuôi nữ tài năng đã xuất hiện" - Dạo đó đã có người thốt lên như vậy.

Và "cú hích" văn chương thuở ban đầu đã khích lệ Trần Thị Trường viết văn chuyên nghiệp. Chị trở thành phóng viên, đôi khi còn "ngứa nghề hội họa" kiêm luôn chân họa sĩ trình bày cho vài tờ báo. Năm 1994 Trần Thị Trường được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam. Cho tới nay, gia tài văn chương của chị là 2 cuốn tiểu thuyết dầy dặn cả về nghĩa đen lẫn nghĩa bóng cùng 4 tập truyện ngắn khá ấn tượng.

"Vậy mà lại thấy chị hình như có dạo nghỉ văn chương để đi làm việc khác?", Tôi thật thà hỏi. Nhà văn Trần Thị Trường thú nhận: "Đúng là mình đa đoan và cũng "lắm chuyện" thật". Trước khi về hưu năm 2005, nhà văn Trần Thị Trường "xoay" sang làm tổ chức biểu diễn (kiểu như bầu sô bây giờ). Những buổi biểu diễn có bàn tay chị "dính" vào cũng thực sự gây tiếng vang trên các sân khấu ca nhạc dạo những năm chín mươi.
Những bức tranh tĩnh vật gốm của nhà văn Trần Thị Trường.

Những thành công của các chương trình ca nhạc như "Biển của một thời" hay "Tiếng hát Ngọc Tân" đã "rủ rê" chị "bén duyên" với giới âm nhạc. Người ta khi thì gặp chị đang cùng nhạc sĩ Trần Tiến hay Nguyễn Cường say sưa trao đổi, khi lại thấy chị cùng nhạc sĩ Phó Đức Phương đang bàn bạc một chuyện gì đó. Lại có bữa thấy ảnh của chị chụp với nhạc sĩ Trịnh Công Sơn nữa.

Tôi đùa "Phụ nữ đẹp thật lợi thế". Nhà văn Trần Thị Trường cười cười tế nhị. Tôi đùa tiếp: "Người ta đồn đại chị có tình yêu tình báo với ông nhạc sĩ này, ca sĩ kia đấy". Nhà văn Trần Thị Trường lại cười, chị nói: "Đàn bà đi với đàn ông rất dễ sinh hiểu lầm, chuyện chả có gì lạ. Nhưng chúng tôi với nhau, ai cũng coi tình bạn còn quý hơn nhiều, tình bạn có thể "phối hợp làm ăn", có thể học hỏi ở nhau nhiều thứ, chứ đâu cứ thế là thế này thế kia mới là… yêu".

Nhưng chuyện chị "gắn bó" với nhạc sĩ Phó Đức Phương thì là có thật. Đó là dạo nhà văn Trần Thị Trường về làm việc tại Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc do nhạc sĩ Phó Đức Phương làm Giám đốc.

Một công việc không chỉ mới mẻ mà cũng rất khó, cần một kiến thức Luật nhưng chị chả "ngán" chuyện khó. Người con gái quê gốc ở làng Thọ An, huyện Hoài Đức, Hà  Nội, nơi có con sông Hát Môn thơ mộng và chính ở dòng sông này Hai Bà Trưng đã trẫm mình tuẫn tiết để giữ trọn thanh danh trước trò "đánh trận bẩn" của quân Nam Hán.

Đâu như giặc Nam Hán toàn thua quân của Hai Bà nên tướng giặc là Mã Viện nghĩ ra trò cho lính nam giới tồng ngồng xung trận. Hai Bà Trưng và quân của hai bà đều là nữ nên xấu hổ mà đành lui quân. Chắc khí tiết lẫm liệt của Hai Bà Trưng có phần nào "truyền" cho, nên người đàn bà viết văn này cũng không thấy ngại bất cứ công việc gì?

Rồi chị cũng "kết thúc" công việc đó để "lui" về nhà lo chuyện gia đình. Xưởng may thời trang xuất khẩu đi Pháp, Đức, Nhật và Úc của gia đình chị khá nhiều đơn hàng. Tôi nghĩ "chắc là sự nối tiếp thời may quần bò giả ở Bulgari?".

Giờ lại thấy chị cầm cọ. Nhờ sự khích lệ của họa sĩ Hải Kiên, giảng viên Trường Đại học Sư phạm nghệ thuật Trung ương, nhà văn Trần Thị Trường "vẽ" trở lại. Chị chọn "dòng tranh" tĩnh vật để biểu cảm tư duy và khả năng nghệ thuật hội họa của mình và cũng như một ý thức quay trở về sự đam mê gốm thời nào, các tranh tĩnh vật của chị thấy có nhiều mẫu gốm. Tôi trêu "Vẽ tĩnh vật chắc dễ?". Chị lắc đầu: "Làm sao để cái mình vẽ chinh phục được con mắt tinh tế của người thưởng thức".

Trước khi chia tay tôi hỏi thật lòng: "Thế còn văn chương?". Nhà văn Trần Thị Trường ngưng tay cọ: "Tôi tôn trọng cảm xúc và tư tưởng chứa đựng bên trong tâm hồn mình. Khi nào cảm xúc thôi thúc và đòi hỏi hình thức biểu hiện thì tôi sẽ theo sự mách bảo đó". Rồi chị nói thầm: "Tiểu thuyết thứ ba đang ở nhà in".

NGUYỄN TRỌNG VĂN
(VNCA)

Tin bài khác:



Thứ Sáu, 23 tháng 8, 2019

Thân thương lá chuối

Chiều nay ghé siêu thị, lúc dạo sang quầy rau củ quả, bạn cười tít mắt khi thấy quầy hàng có một sự thay đổi khác lạ. Không phải vì có thêm vài loại trái cây nhập khẩu tận châu Âu mà là các bọc rau được quấn bằng lá chuối, thay thế cho túi nylon, màng bọc thực phẩm.

Thật ra chuyện này bạn đã được nghe, xem trên mạng Internet mấy hôm trước rồi, nhưng là với các siêu thị ở thành phố lớn. Bạn hơi bất ngờ khi siêu thị gần nơi bạn sống là một siêu thị bé vùng ven ngoại ô lại nhanh chóng áp dụng cách làm tuyệt vời này.

Bạn học về chuyên ngành môi trường, hơn ai hết bạn hiểu được sự tác hại của rác thải nhựa nói chung, túi nylon nói riêng đến chừng nào. Trước đây, khi đi chợ mua đồ, bạn lúc nào cũng hạn chế tối đa việc dùng đồ nhựa, túi nylon. Nhìn những bọc lá chuối trên các quầy rau, bạn không ngờ rằng có một ngày chiếc lá quê lại có thể lên phố và làm được việc góp phần bảo vệ môi trường như thế này. Bạn cũng thầm cảm ơn người đã sáng tạo ra khi dùng lá chuối thay cho các túi nylon. Lá chuối quê trong mắt bạn càng thêm thân thuộc, gần gũi và thân thương.

Quê bạn nông thôn, cây cối bao quanh xóm ngút ngàn, xanh mướt, mát rười rượi. Cây chuối là một trong những loại cây ăn quả thân thuộc, hiện hữu trong vườn nhà bạn như những người bạn thân thời thơ ấu. Lá chuối dùng để gói bánh ít, bánh ú, bánh tét mỗi dịp tết đến xuân về. Ngày xưa bạn thắc mắc tại sao người ta gói bánh lại chọn lá chuối mà không phải là loại lá khác. Sau này lớn lên bạn mới hiểu ra rằng, lá chuối không đơn thuần chỉ làm nhiệm vụ bọc bánh mà còn giúp bánh có thêm hương vị đậm đà hơn. Mùi lá chuối khô quyện với hương nếp, đậu xanh tạo thành một mùi đặc trưng, không thể lẫn vào đâu được.
Lá chuối cũng nhiều lần lên phố trong các món ăn thị thành như: bún đậu mắm tôm, xôi xéo, giò chả… Trên bề mặt lá chuối có một lớp sáp rất mỏng. Lớp sáp này có mùi thơm dìu dịu, khi tiếp xúc với độ nóng vừa phải của thức ăn, vô tình phủ lên một lớp màng bóng bẩy, giúp đồ ăn có vẻ ngon hơn. Và hơn hết lá chuối không có phản ứng hóa học như các đồ hộp, đựng bằng nhựa hay nylon.

Một ngày bạn về quê, bước ra khoảnh vườn nhà, hàng chuối xào xạc vẫy tay trong gió, bạn khẽ khàng đưa tay sờ lên từng tàu lá chuối, nghĩ chuyện ở phố mà lòng rắc đầy nắng ấm. Với bạn, lá chuối quê là ân tình, là kỷ niệm, là năm tháng ngọt ngào sâu lắng khó có thể nào quên.

MAI HOÀNG
(BÁO BẠC LIÊU)


Thứ Ba, 20 tháng 8, 2019

Đặng Tường Vy - Người đàn bà độc bước

Đặng Tường Vy có hai bài “dính” đến hai từ “độc bước”. Ấy là câu Ta độc bước… tìm tatrong “Ta – tìm – ta” và Độc bước tình rêu phong tình trong “Rêu phong cuộc tình”. Đó là hai gợi ý để tôi đặt tên bài viết ngắn này...
Nhà thơ Đặng Tường Vy

Thời chống Pháp, tứ thơ “Đồng chí” của Chính Hữu sẽ không bay lên được nếu không có câu kết: Đầu súng trăng treo. Thời chống Mỹ, tứ thơ “Tiếng bom ở Seng Phan” của Phạm Tiến Duật sẽ không đứng được nếu không có hai câu kết: Thế đấy ở chiến trường/ Nghe tiếng bom rất nhỏ. Tất nhiên, để có mấy câu để kết, cả “Đồng chí” lẫn “Tiếng bom ở Seng Phan” đều phải có một đoạn dẫn dắt. Trong “Đồng chí” là 19 câu. Trong “Tiếng bom ở Seng Phan” là 12 câu. Đoạn dẫn dắt này giống như một sợi dây cháy chậm, sợi dây dẫn đến điểm nổ.
   
Nửa đầu thế kỷ 20, nhà thơ lớn người Đức B. Brecht có tứ thơ “Nếu hòn sỏi nói” (do Mai Lược chuyển ngữ) nổi tiếng:

Khi bạn tung hòn sỏi lên trời
Hòn sỏi nói: Tôi sẽ rơi về đất
Bạn tin hòn sỏi kia nói thật.

Nếu có ai ném bạn xuống nước
Chắc chắn bạn sẽ bị ướt.

Nếu có cô gái viết thư và hẹn giờ đến gặp
Thì bạn chớ vội tin
Vì đó không phải là tất yếu của tự nhiên.
   
Ít nhất, bài thơ cũng phải có 7 câu ở cả ba khổ đặt ra 3 giả định để rồi đi đến kết luận: Tất yếu của xã hội khác với tất yếu của tự nhiên bằng câu kết: Vì đó không phải là tất yếu của tự nhiên.
  
Tuy vậy, bên cạnh đó, vẫn có những tứ thơ tràn ra khỏi mọi khuôn phép và có khi chỉ cần có một câu thơ thôi, đã mang giá trị như một bài thơ hoàn chỉnh.
  
Chúa cũng tự tìm mình trong sáng tạo trong “Không đề” của Tagore là ví dụ thứ nhất.
  
Làm người ác vất vả vô cùng trong “Mặt nạ kẻ ác” của B. Brecht là ví dụ thứ hai.
  
Có những buổi chiều không biết cất vào đâu trong trường ca “Gọi nhau qua vách núi” của Thi Hoàng là ví dụ thứ ba.
  
Và còn nhiều ví dụ nữa.
  
Những suy nghĩ này bất chợt đến với tôi khi đọc xong tập thơ “Sóng ngầm” (Nhà xuất bản Hội Nhà văn, quý 3 năm 2017) của nhà thơ trẻ Đặng Tường Vy.  

Cũng không mất công nhiều lắm, độc giả có thể tìm ngay được những đơn vị câu ấn tượng đủ sức đứng độc lập của Đặng Tường Vy. Có thể tạm thống kê những cặp trên sáu dưới tám thật đáng nhớ: Nhẹ nhàng thương, nhẹ nhàng đau/ Nhẹ nhàng quay gót chào nhau nhẹ nhàng; Tình mẹ tựa đóa Ưu đàm/ Đưa con ra khỏi vũng chàm thế gian; Không rào chắn, không tường thành/ Trăm năm không kẻ thế chân một lần; Bao lần mật rót môi mềm/ Nghe lòng kiêu hãnh êm đềm rụng rơi; Tử, sanh cơn gió thổi vù/ Nước đục ao tù gắng nở hồng sen; Trời mưa ngập bến sông Tương/ Có bốn chân giường sao gãy được đây?; Đông nay là mấy đông rồi/ Bao lần di trú sao trời vẫn mây?; Đàn bà một chút rồi xem/ Cây cao bóng cả đổ rèm em qua; Xin anh một chút thật thà/ Để cho em được đàn bà với anh; Gập ghềnh chân bước nhiêu khê/ Mong manh phận bạc bốn bề hoang vu; Trách ai sao quá non gan/ Để em cất bước sang ngang theo chồng
Tập thơ “Sóng ngầm” của Đặng Tường Vy, NXB Hội Nhà văn, 2017

Qua đây, có thể thấy Đặng Tường Vy là người có sở trường viết thơ lục bát. Và cũng vì thế mà chị trở thành chủ sở hữu đích thực của những câu lục bát trên. Ở một chừng mực đáng kể, Đặng Tường Vy đã bộc lộ chất nữ tính đa chiều và đa dạng của chị. Có lúc thì đụng chạm đến sự nhẹ nhàng như đụng chạm vào nỗi đau. Có lúc thì đụng chạm đến sự sinh tử như đụng chạm vào sự bứt phá. Có lúc thì đụng chạm đến sự mạnh mẽ như đụng chạm vào sự thách đố. Có lúc thì đụng chạm vào lòng kiêu hãnh như đụng chạm vào sự vị tha, nuông chiều, không chấp nhặt. Có lúc thì như đụng chạm vào sự thắc mắc như đụng chạm vào một thế giới bất khả tri. Có lúc thì đụng chạm vào nỗi khổ đau như đụng chạm vào thế giới bất khả tín. Có lúc thì đụng chạm vào sự xác tín như chỉ để tự mình khẳng định. Cũng có lúc thì đụng chạm đến những gì không dễ nói, đầy ẩn ý, có sắc màu ngờ vực, nghi hoặc đáng yêu:

Trời mưa ngập bến sông Tương
Có bốn chân giường sao gãy được đây?
   
Và dù có như thế nào thì những cặp lúc bát trên đều sinh thành một cách diễn đạt, cách triển khai rất đàn bà và có lẽ chỉ có đàn bà mới viết được.

Riêng khi đọc hai câu: Không rào chắn, không tường thành/ Trăm năm không kẻ thế chân một lần, tự dưng tôi liên hệ đến một câu nói của triết gia người Đức Nietzsche: “Trong tình yêu, nếu nàng hỏi chàng, chàng trả lời “chàng muốn”; còn nếu chàng hỏi nàng, nàng vẫn trả lời “chàng muốn”. Một tình yêu mà tận hiến đến thế, chắc chỉ có ở người đàn bà.
   
Trong “Sóng ngầm”, Đặng Tường Vy không chỉ có thơ lục bát. Ngoài những câu lục và câu bát rời rạc như Nắng mưa chơi oản tù tì hay Ta rượt chơi rượt bắt cho vừa lòng nhau, chị còn có những câu ở thể loại khác về tình yêu cũng đáng nhớ: Hai đứa mình đừng vội/ Mùa dậy thì còn xanh; Xin một đời không sửa
   
Đặng Tường Vy có hai bài “dính” đến hai từ “độc bước”. Ấy là câu Ta độc bước… tìm tatrong “Ta – tìm – ta” và Độc bước tình rêu phong tình trong “Rêu phong cuộc tình”. Đó là hai gợi ý để tôi đặt tên bài viết ngắn này.
  
Và dù lạnh giá như băng hay nóng bức như lửa, thì trong hành trình độc bước ấy, mong sao những bước đi của Đặng Tường Vy là những bước đi có nhận biết.
   
 ĐẶNG HUY GIANG
(NVTPHCM)

Tin bài khác:



Thứ Hai, 19 tháng 8, 2019

Tiến trình phát triển của văn học sinh thái Nga

Quan hệ giữa con người và tự nhiên luôn là một trong những chủ đề quan trọng nhất của văn học Nga. Văn học sinh thái Nga trải qua ba giai đoạn phát triển mạnh mẽ, bắt đầu xuất hiện trong giai đoạn manh nha của văn học Nga, cho đến nửa đầu thế kỷ 19 của chủ nghĩa lãng mạn và thời kỳ nửa sau thế kỷ 20.
Nhà thơ Nga Puskin

Trong những tác phẩm văn học cổ, ảnh hưởng rộng nhất là tác phẩm “Tráng sĩ ca”, nhân vật chính là người văn võ song toàn, người thường không thể sánh kịp. Nhân vật chính của “Tráng sĩ ca” có năng lực kết nối vạn vật, có năng lực hóa thân thành các sự vật khác nhau, điều này rất giống với quan niệm vạn vật nhất thể của văn học đương đại. Sự ra đời của dũng sĩ Volkh có liên quan mật thiết tới rắn thần, trong đêm có thể biến thành sói xám bắt dã thú, có thể biến thành ngựa nửa đêm lẻn vào doanh trại của kẻ địch đển thăm dò thực hư, có thể biến thành chim cắt bay vào cửa sổ dò nghe cuộc trò chuyện của vua và hoàng hậu, có thể hóa thành chồn sóc bí mật luồn vào kho vũ khí của kẻ địch, phá hoại vũ khí của chúng.

“Cuộc viễn chinh của binh đoàn Igor” là tác phẩm văn học cổ điển khuyết danh xuất sắc nhất của Nga, trong đó, thế giới tự nhiên tràn đầy sự sống, là bạn của những người lương thiện. Trước khi xuất chinh, “Mây đen bay lên từ mặt biển, che khuất bốn mặt trời”, đây dường như là tín hiệu cảnh báo của tự nhiên. Theo sử sách ghi lại, nhật thực phát sinh ngay sau khi xuất chinh, tác giả đã thay đổi thời gian diễn ra của sự kiện, vừa làm nổi bật khí phách anh hùng của nhân vật chính, cũng thể hiện quan hệ mật thiết của thế giới tự nhiên và người dân Nga. Sau khi xuất chinh, Igor bị bắt làm tù binh, được sự trợ giúp của một vị phu nhân để chốn thoát về nhà, nhưng tác giả đã chen vào hình ảnh vợ Igor, Yaroslavna vào sáng sớm đứng trên tường thành, cầu nguyện cho chồng, và đã được thế giới tự nhiên ban ơn, cuối cùng thì Igor cũng thoát hiểm và trở về nhà.nTư tưởng sinh thái trong văn học Nga không phải chủ động manh nha, mà là sự phản ánh bị động của phái yếu, nhưng tựu chung lại cũng là sự phản ánh quan hệ cộng sinh giữa con người và tự nhiên.

Tư tưởng văn học sinh thái lãng mạn bắt nguồn từ thế kỷ thứ 19 trong tác phẩm của văn hào Pháp Rousseau, được mệnh danh là cha đẻ của chủ nghĩa lãng mạn, là một chuyên gia có tư tưởng “xanh”. Ông chủ trương đời sống vật chất được đơn giản hóa, còn đời sống tinh thần thì phong phú vô hạn, kêu gọi con người trở về với tự nhiên. Quan niệm trở về với tự nhiên của Rousseau được kế tục và phát huy, các tác giả thiên về mô tả phong cảnh tự nhiên, đem tư tưởng ký thác vào tự nhiên, dùng vẻ đẹp của tự nhiên để phản ánh những xấu xa của xã hội, coi tự nhiên là vườn hoa tinh thần của loài người. Nếu như trong văn học nguyên thủy, con người bị động trước tự nhiên, thì tới thời kỳ lãng mạn, con người trở về với tự nhiên bằng trạng thái chủ động hơn.

Người đặt nền móng cho chủ nghĩa lãng mạn hồi thế kỷ thứ 19 là Puskin. Trong thơ của mình, Puskin phục dựng lại hình ảnh chán bỏ văn minh, khát vọng trở về với tự nhiên của nhân vật chính. Trong “The Prisoner of the Caucasus” và “The Gypsies”, nhân vật chính là người văn minh chốn bỏ giới thượng lưu, phương thức bỏ chốn chính là du ngoạn, sau này bị người trong núi bắt làm tù binh. Nhân vật chính luôn coi mình ở địa vị người đứng ngoài, đeo gông cùm mà nhìn nhận về nhân sinh. Nhân vật chính không chấp nhận tình yêu của cô thôn nữ, cảnh cô thôn nữ bị đuối nước làm cho trái tim anh trào dâng cảm xúc, nhưng cũng không làm lay động điều gì. Trong The Gypsies, Aleko là một tội phạm bị truy nã, gia nhập đội ngũ của những người Gypsies, lấy người con gái Gypsies làm vợ, theo bộ lạc lang thang khắp nơi, tham gia diễn xuất. Nhìn từ bên ngoài, nhân vật triệt để là một người tự nhiên, nhưng trong thâm tâm chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi xã hội văn minh. Điều này khiến anh ta giết chết người vợ theo đuổi tự do tuyệt đối, cắt đứt mối liên hệ của mình với người tự nhiên.

Văn học Nga thế kỷ 19 xuất hiện nhiều nhà thơ ca ngợi tự nhiên, bảy tỏ tình cảm lãng mạn, trong đó Fedor Ivanovich Tyutchev là một nhà thơ kiệt xuất. Tác phẩm thơ của ông mô tả tự nhiên một cách sinh động, tao nhã, đem tình cảm ký gửi vào tự nhiên. Trong đó có những câu thơ như cảnh báo trước về sự phá hoại tự nhiên của con người, nhà thơ coi thế giới tự nhiên bình lặng ẩn chứa sự phán quyết của tự nhiên.

Thế kỷ 20, ý thức sinh thái trong văn học hiện đại Nga là tự giác và rõ ràng, là nơi hội tụ của nỗi đau tinh thần, là ánh sáng triết xạ của tinh thần và lý trí.

Trong tác phẩm của Prishvin, là sự âu lo cho vận mệnh của tự nhiên, bị phá hoại không chỉ là tự nhiên, mà chính tinh thần, đạo đức, thẩm mỹ của con người cũng bị bào mòn. Tác phẩm “Bốn mùa-Lịch thiên nhiên” tràn đầy niềm vui, ánh sáng và tình yêu đối với sự sống. Tiểu thuyết “Nhân sâm” của ông mô tả cảnh sắc tươi đẹp của chốn núi rừng phương Bắc, dùng hình tượng nhân sâm để đại diện cho sức sống mãnh liệt của tự nhiên, ca ngợi sức sáng tạo của con người, có suy nghĩ mang tính triết lý đối với quan hệ của con người và tự nhiên.

“Vĩnh biệt Matyora” có khuynh hướng chống lại văn minh công nghiệp, nhưng Rasputin lo âu sự xung đột giữa xu hướng tiến bộ và truyền thống, giữa cái mới và cái cũ, đồng thời tạo dựng nên hình ảnh của “Vua Cây”. Con người tìm mọi cách để phá hủy Vua Cây, nhưng không làm nó đổ xuống được. Trong cuộc đối đầu với tự nhiên, thắng lợi cuối cùng luôn luôn thuộc về tự nhiên. Matyora trong tiếng Nga có nghĩa là mẹ. Trong quan niệm về sinh thái của Rasputin, con người giống như bào thai nằm trong tử cung của mẹ, mọi hành động làm tổn thương đến mẹ chỉ có thể là tự diệt vong. Cuốn sách có thể coi như “Vĩnh biệt tự nhiên”. Rasputin lấy hình ảnh cuồn cuộn chảy của sông Angara tượng trưng cho bước chân tiến bộ của lịch sử loài người, con người không ngừng lấy văn minh mới để thay vào văn minh cũ, mỗi lần thay đổi như vậy làm cho con người càng trở nên siêu nhiên.

Con người và tự nhiên là chủ đề chưa từng bị phai nhạt, quan hệ giữa con người và tự nhiên liên tục có những thay đổi nhỏ, thái độ của con người đối với tự nhiên từng trải qua nhiều cung bậc, đó là sự bị động, sự tôn trọng và phụ thuộc, cũng có lúc chủ động ca ngợi, trở về với thiên nhiên. Hiện nay, các nhà văn hy vọng từ bỏ chủ nghĩa duy con người, thiết lập quan niệm mới, cho rằng cả sinh quyển có chung một lợi ích. Trong con mắt các nhà văn Nga, “Con người và tự nhiên” được diễn tả chính xác hơn là “Tự nhiên và con người”.

Tiểu luận của VŨ MINH THANH, PHẠM HUY QUỲNH (dịch)
(BÁO QĐND)

Tin bài khác:



Thứ Ba, 13 tháng 8, 2019

Cõi nhân sinh trong truyện ngắn Lê Văn Thảo thời kỳ đổi mới

Truyện ngắn Lê Văn Thảo viết từ sau thời kỳ đổi mới đã thấm đẫm tinh thần nhân văn sâu sắc ấy. Vì thế, nó neo lại trong lòng người đọc và thức nhận cho họ về sự chia sẻ và cảm thông với thân phận con người chứ không chỉ đơn thuần ở những giải thưởng mà anh đạt được…
Nhà văn Lê Văn Thảo

1. Không phải ngẫu nhiên trong tuyển tập truyện ngắn được in cùng với tiểu thuyết Con đường xuyên rừng khi Lê Văn Thảo được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh, anh lại chọn tác phẩm Lên núi thả mây để mở đầu cho tuyển tập truyện ngắn của mình. Bởi theo tôi, truyện ngắn này như một tuyên ngôn sống và cũng là một tuyên ngôn nghệ thuật của anh trước những vấn đề của thế sự nhân sinh. Nó là một điểm tựa, từ đó mở ra cái nhìn của anh về cuộc đời, về lẽ sống trong cõi nhân gian mà nếu không có sự nghiêm sinh và một tư tưởng nhân bản ắt hẳn không thể viết được một truyện ngắn sâu sắc và giàu chất triết mỹ đến thế, như lời một nhân vật trong truyện đã  đã chia sẻ : “Cuộc sống lặng lẽ có từ lâu, trôi đi hoặc không hề trôi đi, từ bao đời cha mẹ, ông bà chưa một lần lên đỉnh núi, cũng không có ý định lên, đỉnh núi sát bên nhưng xa vời như một ảo ảnh” (Lên núi thả mây tr.138)
  
Nhưng ảo ảnh sao được!? khi những con người trong truyện đã quyết tâm vượt qua bao khó khăn gian khổ và những nguy nan có thể ảnh hưởng tới mạng sống của mình chỉ để thực hiện một điều tưởng chừng như “ngớ ngẫn”  là “lên núi thả mây” và xem việc ấy như một lẽ sống, trong khi ở chốn nhân gian đầy bụi bặm này biết bao kẻ bon chen, giẫm đạp nhau, kiếm tiền, kiếm chức, kiếm lợi quyền để được vinh thân phì da. Bởi, trong suy nghĩ của Năm Tính - nhân vật trong truyện “Đâu phải làm việc gì cũng để kiếm tiền?” (tr.146) Vì thấm nhuần cái lẽ sống giản dị nhưng không giản đơn này nên Năm Tính đã khuyên những đứa con của mình như một lời chia sẻ với thế hệ sau: “Thôi chuyện lâu rồi, hết thời của ba rồi. Giờ tới hai con. Hai con còn nhỏ cứ bắt đom đóm chơi, giỡn với con chó. Nhưng lớn lên rồi phải làm một chuyện gì. Như một lần phải lên đỉnh núi... Nhớ không?” (Lên núi thả mây tr.146). Có thể nói, lời nhắn gởi này là một thông điệp đầy tính hàm ngôn mà nhà văn muốn chuyển tải đến người tiếp nhận. Truyện ngắn Lê Văn Thảo, vì thế, bao giờ cũng thấm đậm vị nhân sinh và đây cũng là cánh cửa mở ra cho người đọc soi chiếu vào cái cõi nhân sinh trong vũ trụ văn chương của anh: Đó là cái cõi nhân sinh với bao số phận con người mà anh đã gặp, đã sống, đã sẽ chia không chỉ trong những ngày tháng chiến tranh mà cả thời hậu chiến.
                                                                     
2. Cũng như các tác phẩm văn học thời kỳ đổi mới, truyện ngắn Lê Văn Thảo đã có sự thay đổi hệ hình trong tư duy sáng tạo mà rõ nhất là cái nhìn về hiện thực cuộc sống. Từ những tác phẩm văn học đậm chất sử thi cách mạng thời chiến tranh, ngòi bút của anh đã đi vào những vấn đề của cuộc sống đời thường mà ở đó con người luôn đứng trước những “cơn bão” của  áo cơm và sự tha hóa nhân cách nếu không biết vượt lên những dục vọng thấp hèn đang ẩn nấu trong chính bản thể mình. Cõi nhân sinh trong truyện ngắn của Lê Văn Thảo thời kỳ đổi mới vì thế, cũng là “cõi người ta” mà ở đó luôn  bày ra trước nhân gian những buồn vui và đau khổ, những cay đắng và vinh quang, những được mất, thăng trầm... trong cuộc đời với những con người “không muốn mình “thua” trong bất cứ chuyện gì, đứng sau một chút cũng không được” (Chuyến bay Kinh hoàng tr.147) nên họ sẵn sàng dẫm đạp lên nhau để sống, để hiển vinh và lúc đó mọi nghĩa tình trong cuộc đời chỉ là những thứ phấn son xa xỉ. Chính vì vậy, trong tâm thức hiện sinh của Lê Văn Thảo anh đã ước mơ làm sao sống được như “thời hồng hoang, con người muông thú sống giao hòa” (Kể chuyện nghe chơi, tr.158). Nhưng mơ ước cũng chỉ là mơ ước vì nền văn minh công nghiệp đã đẩy con người đi quá xa với cái thuở hồng hoang của mình. Bao nhiêu tham vọng lợi quyền đang làm tha hóa nhân cách và tâm hồn con người, đang có nguy cơ đẩy còn người vào một cái thưở hồng hoang khác mà ở đó lòng yêu thương cứ cạn dần còn thù hận thì chất chồng lên mãi, bởi đâu đó những cuộc khủng bố vẫn cứ xảy ra, những cơn bão lũ, động đất đang đẩy bao số phận con người vào cảnh bần hàn chỉ vì con người đang từng ngày tàn phá môi trường sinh thái không chỉ trong tự nhiên mà còn trong chính tâm hồn của mình. Truyện ngắn Anh Cà - kheo qua làng vì thế, là một diễn ngôn về khát vọng một cuộc sống “hoang dã” tự do mà ở đó là những làng không có hàng rào, không có sự ngăn cách, không có sự cấm cản nào cả. Bởi khi đi thăm làng “ngó nhìn hai bên đường” Anh “than phiền làng nghèo quá, nhà cửa thưa thớt lè tè, nhưng hàng rào lại cao nghệu. Đình chùa nghĩa địa cũng có hàng rào, kiên cố vững chãi như bước tường thành. Coi vẻ anh không ưa hàng rào. Cả đời sống trên sông, chiếc ghe tam bản giữa đường neo đậu, anh cần hàng rào làm gì?” (Anh Cà - kheo qua làng, tr.175)
   
Có thể nói, hàng rào trong cái nhìn của Anh cà kheo như một thứ lực cản vô hình không chỉ ngăn cách con người trong cõi sống mà ngay cả cõi tâm linh. Không những thế nó còn giết chết khát vọng sống tự do của con người. Vì vậy, sự “nổi loạn” của Anh Cà Kheo khi phá vỡ mọi hàng rào của những người mà anh thuyết phục được như bà Mập bán quán nhậu hay ông chủ ruộng giàu có là một sự nổi loạn hiện sinh để thực hiện khát vọng tự do của mình. Vì trong quan niệm của anh: “giàu cũng không làm nên tích sự gì, của cải rồi cũng trôi sông trôi biển. Anh nói: “chính cái đẹp cần phải được ngắm nhìn.” (Anh Cà - kheo qua làng tr.174) và với anh sống “Cần phải có tầm nhìn”. “Công việc càng nhiều tầm nhìn càng rộng” (Anh Cà - kheo qua làng, tr.181)
    
Bức tranh nhân sinh trong truyện ngắn Lê Văn Thảo, vì thế, là bức tranh lập thể nhiều sắc màu nên luôn mang tính đa nghĩa mà nếu người đọc không tham chiếu nó từ những góc nhìn khác nhau, với những hệ triết mỹ khác nhau thì sẽ không hiểu và cảm hết tính hàm ngôn từ những thông điệp mà  diễn ngôn truyện ngắn Lê Văn Thảo mang đến.
  
Là một nhà văn hiền lành, nhẹ nhàng nhưng thâm trầm và sâu sắc, cõi  nhân sinh trong truyện ngắn Lê Văn Thảo, vì thế cũng ẩn chứa ý vị triết luận khiến người đọc luôn bị cuốn vào những ưu tư của anh, bởi chất bi hài thâm thúy như một thứ “hương thầm” mà không phải nhà văn nào cũng tạo được  nơi người đọc, nếu không có sự trải nghiệm cuộc đời và một thiên năng. Văn chương Lê Văn Thảo là văn chương khởi lên từ cuộc đời để từ đó tạo nên những cuộc đời khác với nhiều mùi vị hiện sinh nên nó đeo đẳng mãi trong tâm thức người tiếp nhận. Vì vậy, đến với văn chương Lê Văn Thảo ai cũng thấy cuộc đời mình trong đó: Chiếc xe đạp, Thằng Cung, Cảnh quay phim ngoài trời, Bốn cô gái trong đêm giao thừa, Người đàn bà khóc, Hai người cha... là những câu chuyện đầy ám ảnh cảm thức hiện sinh như thế!
   
Truyện ngắn Lê Văn Thảo phần lớn là những câu chuyện bâng quơ tưởng  như không có chuyện. Nhưng dưới ngòi bút của anh, tất cả thế giới nhân vật đã hiện lên với những số phận con người đang trôi dạt giữa chốn nhân gian mênh mông này đều trở thành những câu chuyện mang đậm ý vị nhân sinh... Và ở chỗ này truyện ngắn Lê Văn Thảo lại gần với truyện ngắn của Nam Cao và Thạch Lam. Có gì đâu, chỉ là chuyện một người bạn mượn chiếc xe đạp đến nhà một người bạn khác trong cơn say, rồi bỏ quên nơi ấy song đã để lại trong lòng người chủ xe những hoài nghi, tự vấn... “Có đi rồi mới biết, thế giới rộng lớn lắm, bạn bè cũng năm loại bảy kiểu. Có đứa thật bụng thương mình, có đứa chơi với mình chỉ cốt khoe khoang, có đứa vừa thấy mình đã bỏ chạy. Nói chung vẫn có những thằng giàu ấy tìm đến mình, chúng cần có bạn bè nghèo để so sánh, làm nổi bật sự giàu sang của chúng.” (Chiếc xe đạp, tr.240) Đọc những dòng tự vấn này, lòng ta không khỏi ngậm ngùi, ngẫm ngợi trước thế thái nhân tình. Và khi nghĩ về việc mất chiếc xe đạp, nhà văn đã để cho nhân vật hạ một câu đầy ý vị triết lý mà không phải giữa cuộc đời ngỗn ngang những được mất này ai cũng nhận ra: “Đời vậy mà, có cái gì khổ với cái đó.” Và chính sự đốn ngộ này đã khiến người mất xe nhận ra có những điều thiêng liêng và cao cả hơn mà lâu nay anh đã đánh mất, đó là nỗi đau của những số phận con người mà trong trường hợp này là Sáu Quang người bạn kháng chiến của anh. Vì vậy, khi được Tư Thanh thông báo đến nhận chiếc xe “anh không nói gì cả, anh đã quên hẳn chuyện đó rồi. Nhưng nỗi đau thì vẫn còn, cứ âm ỉ, thật chẳng ra làm sao. Sao đến nông nổi này?” (Chiếc xe đạp,tr.244) Và từ những điều trăn trở này, khi nghĩ về những năm tháng chiến tranh, điều găm lại trong tâm thức nhà văn là tình yêu và số phận con người. Ta hãy nghe Lê Văn Thảo chia sẻ trong truyện ngắn Cảnh phim quay ngoài trời: “Chúng ta chiến đấu như thế nào nếu không có tình yêu? Chiến tranh là gì nếu không có những con người?” (Cảnh phim quay ngoài trời, tr.289) Phải làm sao cho con người có cuộc sống ấm no, hạnh phúc sau những gì họ hy sinh cho đất nước, cho dân tộc chứ không phải như anh du kích Tám Luông trong truyện Cảnh phim quay ngoài trời, trước kia đã chiến đấu với biết bao thành tích lẫy lừng, giờ về nhà phải làm thuê vì không có ruộng. Và câu trả lời phỏng vấn của anh với người diễn viên điện ảnh thật sáng trong, vô ưu nhưng không khỏi làm lòng ta đắng chát: 
    
“Bây giờ anh làm gì?” Anh diễn viên khui tiếp lon nước ngọt.
“ Làm ruộng, hết giặc rồi. Nhưng nhà không có ruộng, tôi đi làm mướn.”
“Sao không có ruộng?”
“Tại không có vậy thôi.”
“Nói chuyện với anh ngộ lắm nhưng vai anh rất khó đóng.”
    
Chính vì vậy, mà câu chuyện làm phim nghiêm túc về thành tích một người du kích dũng cảm bỗng chốc đã trở thành chuyện viễn vông, thậm chí khôi hài khi Bà mẹ Tám Luông chia sẻ: “Ôi trời đất ơi, phim với ảnh! Có ai sống được với hình bóng không?” Câu nói tưởng chừng giản đơn của một bà mẹ nhà quê mà trong đó chứa bao điều để chúng ta suy ngẫm về cuộc sống nhân sinh. Chiến tranh là vậy đó, đằng sau những vinh quang của một thời là những kiếp đời không lành lặn, vênh lệch giữa chốn nhân sinh mà số phận “Bốn cô gái trong đêm giao thừa” là như thế!? Ta hãy nghe lời kể của một người lính về sự hy sinh của đồng đội mình và sự lỡ làng của đời một người con gái: “Cưới cái gì? Cô ta bắt tao giả làm bồ đó. Nó là người yêu của thằng T, cùng đại đội mình, tụi bay quên rồi sao? Thằng T chết rồi, trong trận tao bị thương ở đầu đó. Trước đó, hai đứa ăn ở với nhau, con nhỏ có thai thằng T đi nghĩa vụ cái thai phải bị phá. Hôm tao về báo tin thằng T chết, con nhỏ khóc nấc lên đánh tao liên hồi: “Anh T chết rồi, con em cũng chết rồi, em sống với ai”. Dạo đó nó như con điên. Bà con họ hàng không có, tao cũng không biết làm gì... Thôi mấy con nhỏ ngủ rồi, mình cũng ngủ đi. Những chuyện như vậy làm sao kể cho hết...” (Bốn cô gái trong đêm giao thừa, tr.305)
     
Vâng! những chuyện như vậy về số phận con người nhất là người phụ nữ  trong cuộc đời này này làm sao kể hết. Và có lẽ, thân phận người phụ nữ với những nỗi khốn khổ và đau thương riêng có của mỗi người luôn là điều ám ảnh trong sáng tác của Lê Văn Thảo mà những câu chuyện như Người viết thư thuêBà nội tôi; Cô áo hồng, cô áo tím; Người đàn bà khóc; Bốn bức thư; Đứa cháu gái; Chuyến xe giữa trưa mát dịu... đều là những câu chuyện thể hiện niềm trắc ẩn của nhà văn về số phận của người phụ nữ. Đó là những con người mà ở họ những khát vọng sống cao đẹp luôn bị dập vùi trong khổ đau và cô độc như người con gái truyện Chuyến xe giữa trưa mát dịu, Hay tự đánh lừa chính mình trước những vinh hoa phù phiếm của Thu Nga trong truyện Cô áo hồng, cô áo tím, hoặc nỗi đau vì phải làm một người tình hờ nếu không muốn nói là bị phụ tình của Tuyết trong truyện Người đàn bà khóc khi chị khái quát một điều thật đắng cay: “Đành vậy thôi, mấy anh mặc sức bay nhảy, đàn bà con gái chúng tôi chỉ biết chờ đợi (...) Vẫn biết anh ấy đi đánh giặc chịu nhiều gian khổ, nhung tôi vẫn có cảm giác bị bỏ rơi, thành gái già, mặc dù chưa đến hai mươi...” (Người đàn bà khóc, tr.308)
  
Và trong những câu chuyện Lê Văn Thảo viết về thân phận con người, điều làm tôi ám ảnh đó là chuyện của cô Bé gái làm ô sin cho một người chủ giàu có, nhờ người viết thư thuê viết một lá thư và đem sợi chuyền vàng vô tình đánh rơi trong túi xách của của mình trả cho nhà chủ chỉ vì một điều thiêng liêng, muốn chứng minh mình là người lương thiện, không phải là kẻ cắp. Nhưng bi kịch ở chỗ, khi được người đưa thư minh oan thì cũng là lúc em bị ở tù do tham gia một băng cướp nhí vì một “cách kiếm tiền khác”, điều mà cô bé đã nói với người viết thư thuê trước đó. “Cách kiếm tiền khác!”, ông  nhớ lại lời nó. “Cách khác là nhu thế này đây? Ông nhìn tấm hình lần nữa, con nhỏ nhìn lại ông ngạo mạng thách thức.” (Người viết thư thuê, tr. 173)
     
Và với sự thách thức này “Người viết thư thuê” như thấy mình bất lực trước cuộc đời với biết bao số phận mà ông đã thay họ bày tỏ qua từng con chữ trong những bức thư... Và những bức thư này cũng là cõi nhân sinh mà ông cảm nhận được qua lời kể của biết bao người nhờ viết thư thuê, để rồi ông lại cật vấn chính mình một cách đau đớn: “Ông xếp tờ báo lại, không đọc bài báo. Ngày hôm đó và mấy ngày sau ông không đến bưu điện làm việc, nằm trong nhà nghĩ ngợi vẩn vơ, hình ảnh con nhỏ lởn vởn trong đầu. Nó không ăn cắp, nó biết bản thân nó. Giờ đây nó đang ở trong tù, cuộc đời trước mắt u ám mù mịt, ông làm gì được cho nó? Rồi nhớ lúc đến nhà ông bà chủ. “Còn thiếu chữ nghĩa nào của ông làm cho nhà này tan nát nữa không?”. Ông nhớ tất cả, cả cuộc đời viết thư thuê của ông. Ông chỉ là người viết thư thuê, không dính líu gì, sao cứ vận vào hết chuyện người này tới chuyện người khác?
   
Những bức thư của ông làm được gì? (Người viết thư thuê, tr.173)
  
Vâng! “Những bức thư của ông làm được gì?”. Sự trăn trở của ông già viết thư thuê trong truyện ngắn này, phải chăng đã đặt ra cho nhà văn (những người viết) về trách  nhiệm của mình trước số phận con người trong cõi nhân sinh đầy bất an này. Và có lẽ, ở đâu đó trong chốn nhân gian này số phận của những người nghèo khổ đang từng ngày, từng giờ cần sự “dấn thân” (J.P Sartre) sự “xuống thuyền” (Abert Camus) của nhà văn với một tinh thần nhập cuộc thật sự để góp phần làm thay đổi số phận của họ nếu có thể... Có như thế, nhà văn mới làm tròn được thiên chức của mình...
  
3. Truyện ngắn Lê Văn Thảo viết từ sau thời kỳ đổi mới đã thấm đẫm tinh thần nhân văn sâu sắc ấy. Vì thế, nó neo lại trong lòng người đọc và thức nhận cho họ về sự chia sẻ và cảm thông với thân phận con người chứ không chỉ đơn thuần ở những giải thưởng mà anh đạt được. Và đây cũng là điều tôi muốn chia sẻ bước đầu qua những truyện ngắn của anh.
     
Tôi không muốn anh như người viết thư thuê “nằm nhà nghĩ ngợi vẩn vơ” hay như những người bạn “lên núi thả mây”, hoặc như nhân vật Bình dẫn chú bé “trở lại rừng” vì thấy mình cô độc, vô dụng sau ngày chiến thắng, mà muốn thấy anh tiếp tục cảm hứng sáng tạo này để tạo nên một cõi nhân sinh đầy tính nhân bản riêng có của anh với những cảm thông, chia sẻ sâu sắc về thân phận con người trong tinh thần dấn thân của một nhà văn luôn song hành với nhân dân, với số phận của những con người nghèo khổ.
   
Tôi tin và tôi kỳ vọng như thế vào hành trình sáng tạo của anh...
                  
Xóm Đình An Nhơn, 16.4.2016
TRẦN HOÀI ANH
Nguồn: NVTPHCM

_____________
*Những trích dẫn trong bài đều lấy trong Tuyển tập truyện ngắn của Lê Văn Thảo, Nxb. Văn học, Hà Nội, 2014.


Tin bài khác:



Nhà văn Thùy Dương: Trăn trở với mỗi thân phận Người

Nếu không biết Thùy Dương sinh ra và lớn lên ở Hải Dương, sẽ đoán   chắc nàng là người Hà Nội gốc. Gọi là nàng v ì nàng không chỉ xinh đẹp, ...