Thứ Hai, 22 tháng 7, 2019

Khí quyển thơ-sinh thái của Mai Văn Phấn: Thơ, bầu trời và những linh hồn

Nhà thơ Mai Văn Phấn

Bên câu thơ cư trú những linh hồn
 (Mai Văn Phấn)

Tóm tắt:

Từ góc nhìn phê bình sinh thái (ecocriticism), bài viết này mong muốn đóng góp một cách nhận diện khí quyển thơ – sinh thái đặc trưng trong thơ Mai Văn Phấn. Việc tập trung vào mối quan hệ đa chiều và không dễ nắm bắt giữa thơ ca (hành vi sáng tạo) – bầu trời (không gian sinh thái) và những linh hồn (sự sống ẩn tàng trong vạn vật) chỉ là vài ý tưởng, như hé một khung cửa nhỏ mở vào bầu trời.

Không khó nhận ra mối quan hệ mật thiết giữa thơ và sinh thái trong thơ Mai Văn Phấn, nhưng điều tôi muốn nhấn mạnh là, ở mỗi nhà thơ, mỗi thế hệ thơ, mỗi truyền thống thơ ca, mỗi thời đại, mối quan hệ giữa con người và môi trường sinh thái lại có những nét khác biệt. Dù thơ Việt Nam, cũng như nhiều quốc gia phương Đông, thường được cho là có quan hệ mật thiết với thiên nhiên, song cũng chính là những nơi đang có các vấn đề nghiêm trọng nhất về môi trường. Chính bởi thế, việc tiếp cận từ góc độ phê bình sinh thái ở trường hợp thơ Mai Văn Phấn, không phải chỉ là một mối quan tâm về không gian như một yếu tố trội của thơ anh, mà còn là một cách tra vấn mối quan hệ giữa thơ ca và tự nhiên tưởng như yên ổn. Từ đó, việc sáng tác và phê bình cũng đồng thời là sự đề xuất những cách nghĩ khác, cũng chính là điều sẽ quyết định cách con người ứng xử và chung sống với Tự Nhiên, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa và khủng hoảng sinh thái buộc chúng ta phải tìm con đường trở về với trái đất nguyên thủy.

Một vấn đề khác không kém quan trọng mà tôi muốn nhấn mạnh song song với chủ đề trên là ý thức thơ tồn tại như một hệ sinh thái của Mai Văn Phấn, một con đường sáng tạo riêng mà thi sĩ lựa chọn từ những bài thơ đầu tiên, có thể là một hành trình từ vô thức đến ý thức ngày một rõ hơn. Trong hành trình đó, Mai Văn Phấn đã nỗ lực khám phá ngôn ngữ như một phương cách thiết yếu để thấu nhập vào thế giới tự nhiên và từ đó, tạo dựng khí quyển thơ riêng của mình, một bầu khí quyển kết nối cá thể người và thế giới, linh hồn người và linh hồn tạo vật trong sự bình đẳng và quấn bện của tình yêu thuần giản. Do đó, đọc thơ Mai Văn Phấn từ góc nhìn này cũng khơi mở hi vọng về một con đường sáng tạo thơ ca, trong đó, việc trở về với cội rễ đồng thời là một cách nạp năng lượng cho thi ca. Ở góc độ này, Mai Văn Phấn, ngay khi được xếp vào thế hệ những nhà thơ đổi mới với nỗ lực cách tân thi ca đã khẳng định một cách nghĩ riêng về giá trị và sáng tạo.

***

Về mặt từ nguyên, Tự nhiên (nature) không phải chỉ để quy chiếu tới thế giới phi-nhân (nonhuman [1]) mà gốc Latin của nó là natura, nghĩa là “đặc điểm thuộc về tự nhiên, vũ trụ” hay natus (sự sinh ra, được sinh ra)… để phân biệt với thế giới được chế tạo, như các đồ vật được làm bởi con người. Dẫu vậy, “tự nhiên” đã trở thành một diễn ngôn mơ hồ, lưỡng lự và luôn biến đổi, nó là cái tồn tại mặc nhiên từ buổi hoang sơ, nhưng cũng là cái đã bị con người sở hữu và chiếm hữu theo nhiều cách. “Tự nhiên” do đó đã không còn là nó một cách nguyên thủy, mà các yếu tố cấu thành nó ít nhiều đều bị quy định bởi con người. Theo sự biến thiên này, cặp từ tự nhiên (nature) - văn hóa (culture) không còn là sự đối lập đơn giản mà chúng “nợ nần” lẫn nhau. Từ ngữ mà con người tạo ra để phân lập với chính mình nay nở ra vô tận các dạng tồn tại, và dần dần, trở thành một cấu trúc ngôn ngữ và văn hóa - xã hội. Thêm nữa, chính con người cũng đã tạo ra những dạng công nghệ xanh, mà ở khía cạnh nào đó, góp phần làm nhòa mờ sự phân lập giữa không gian xã hội và tự nhiên.

Mối quan hệ giữa văn chương nghệ thuật và môi trường sinh thái là điều tưởng như hiển nhiên từ thời tiền sử, nhưng suốt một thời gian dài, môi trường chỉ được coi là một dạng “phông nền” ít quan trọng trong tác phẩm. Sự ra đời chính thức của phê bình sinh thái (ecocriticism) vào đầu thập kỉ 90 của thế kỉ XX không phải là một cuộc cách mạng đột ngột, nhưng sự phát triển mạnh mẽ và đa dạng của nó trong những thập niên sau đó cho đến nay khẳng định tầm quan trọng của việc để tâm đến mối quan hệ giữa thế giới con người và thế giới phi-nhân trong các diễn ngôn văn hóa. Cùng với các mối quan tâm về tự nhiên, phê bình sinh thái trở thành một giải pháp khôi phục ý nghĩa và tầm quan trọng của tự nhiên với con người cũng như khẳng định vai trò của ngôn ngữ trong việc định hình và thay đổi các quan niệm về tự nhiên. Cho đến nay, phê bình sinh thái không hề có một khuôn khổ đông cứng về đối tượng, phương pháp cũng như các vấn đề chính, mà nó càng ngày càng mở rộng và phức tạp. Xu hướng tìm kiếm và khai thác các sáng tác mang chủ đề thiên nhiên hoặc có sự tập trung mạnh mẽ vào thiên nhiên như mục ca lãng mạn (romantic pastoral) dần chuyển sang phê bình sinh thái - xã hội (eco-social), chẳng hạn như ecofeminism (nữ quyền sinh thái), phê bình sinh thái và các vấn đề giới, bản sắc, không gian hậu thuộc địa, v.v... Đối tượng khảo sát cũng mở rộng tới cả các diễn ngôn khoa học, phim hoạt hình, chương trình truyền hình. Lĩnh vực này còn mới mẻ ở Việt Nam và cần đến những giới thiệu và dịch thuật công phu của giới nghiên cứu, nhưng có thể hiểu một cách đơn giản, phê bình sinh thái đang được thừa nhận theo nghĩa rộng nhất là mọi nghiên cứu về các tác phẩm liên quan đến tự nhiên, mối quan hệ của con người và thế giới phi-nhân, ngay cả khi mối quan hệ đó không hiển hiện rõ ràng như một chủ đề trực tiếp. Phê bình sinh thái với văn chương, sinh ra và phát triển từ các nước Âu - Mỹ, với các chất liệu Âu - Mỹ như thơ lãng mạn của Wordsworth, John Clare, Henry David Thoreau, v.v… đang có xu hướng mở rộng tới những vùng văn chương Á, Phi, Viễn Đông. Chính các học giả Âu - Mỹ lại tìm đến các nước phương Đông – vốn được coi như là kiểu mẫu của tình yêu, sự gắn bó với thiên nhiên, sự sủng ái thiên nhiên nhưng cũng là những vùng nảy sinh nhiều vấn đề về môi trường nghiêm trọng hơn hết – để nghiên cứu, như một cách mở rộng phạm vi chất liệu của phê bình sinh thái, và từ đó khai mở những tiềm năng lý thuyết mới của phê bình sinh thái.[2] Trong văn chương, mối quan hệ của con người và thế giới phi-nhân tất nhiên được nhìn nhận trước hết từ văn bản tác phẩm.

Được gợi ý từ phê bình sinh thái, cùng với trải nghiệm đọc cá nhân, tôi hướng tới nhận diện khí quyển thơ-sinh thái đặc trưng của Mai Văn Phấn. Việc tập trung vào mối quan hệ đa chiều và không dễ nắm bắt giữa thơ ca (hành vi sáng tạo) – bầu trời (không gian sinh thái) và những linh hồn (sự sống ẩn tàng trong vạn vật) như những biểu trưng quan trọng chỉ là vài ý tưởng, như hé một khung cửa nhỏ mở vào bầu trời. Không khó nhận ra mối quan hệ mật thiết giữa thơ và sinh thái trong thơ Mai Văn Phấn, không khó cảm nhận Mai Văn Phấn là nhà thơ – tình nhân đích thực của thiên nhiên nhưng điều tôi muốn nhấn mạnh là, ở mỗi nhà thơ, mỗi thế hệ thơ, mỗi truyền thống thơ ca, mỗi thời đại, mối quan hệ giữa con người và môi trường sinh thái lại có những nét khác biệt cần khám phá. Chính bởi thế, việc tiếp cận từ góc độ phê bình sinh thái ở trường hợp thơ Mai Văn Phấn, không phải chỉ là một mối quan tâm về không gian như một yếu tố trội của thơ anh, mà còn là một cách tra vấn mối quan hệ giữa thơ ca và tự nhiên tưởng như yên ổn trong truyền thống thơ Việt Nam và thơ phương Đông. Từ đó, việc sáng tác và phê bình sẽ đồng thời là sự đề xuất những cách nghĩ khác, cũng chính là điều quyết định cách con người ứng xử và chung sống với Tự Nhiên, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa và khủng hoảng sinh thái buộc chúng ta phải tìm con đường trở về với trái đất nguyên thủy. Một vấn đề khác không kém quan trọng mà tôi muốn nhấn mạnh song song với chủ đề trên là ý thức thơ tồn tại như một hệ sinh thái của Mai Văn Phấn, một con đường sáng tạo riêng mà thi sĩ lựa chọn từ những bài thơ đầu tiên, có thể là một hành trình từ vô thức đến ý thức ngày một rõ hơn. Trong hành trình đó, Mai Văn Phấn đã nỗ lực khám phá ngôn ngữ như một phương cách thiết yếu để thấu nhập vào thế giới tự nhiên và từ đó, tạo dựng khí quyển thơ riêng của mình, một bầu khí quyển kết nối cá thể người và thế giới, linh hồn người và linh hồn tạo vật trong sự bình đẳng và quấn bện của tình yêu thuần giản. Do đó, đọc thơ Mai Văn Phấn từ góc nhìn này cũng khơi mở hi vọng về một con đường sáng tạo thơ ca, trong đó, việc trở về với cội rễ đồng thời là một cách nạp năng lượng cho thi ca. Ở góc độ này, Mai Văn Phấn, ngay khi được xếp vào thế hệ những nhà thơ đổi mới với nỗ lực cách tân thi ca đã khẳng định một cách nghĩ riêng về giá trị và sáng tạo.

Hệ sinh thái trong thơ Mai Văn Phấn: những linh hồn trong bầu trời

Theo một góc nhìn hẹp, có thể xem các thi phẩm của Mai Văn Phấn, dù hoàn toàn không có những liên đới trực tiếp với thơ điền viên trung đại hay thơ đồng quê lãng mạn, nhưng cũng có thể coi là các bài thơ sinh thái (ecopoems) hay thể hiện yếu tố thơ sinh thái (ecopoetics) [3]. Thiên nhiên trong thơ trung đại Việt Nam, đậm đặc ở mảng thơ Thiền Lí Trần, thơ điền viên, thường được coi như điểm gợi hứng, biểu tượng hay một khung cảnh. Đến Thơ Mới lãng mạn, tiếp thu ảnh hưởng của văn học Pháp, thiên nhiên trở thành đối tượng mô tả khách quan, trở thành chính nó, đặc biệt ở những nhà thơ “thuần túy thiên nhiên” như Đoàn Văn Cừ, Bàng Bá Lân, Anh Thơ, riêng Nguyễn Bính có những biến thể, trong đó sức mạnh của đô thị được biểu hiện như một không gian hủy diệt bản tính, không chỉ con người “chân quê” mà cả bản tính thiên nhiên (“hương đồng gió nội bay đi ít nhiều”). Cảm hứng mạnh mẽ với thiên nhiên, đồng quê trong thơ thời Đổi mới có thể kể đến nhiều tác giả với những cá tính riêng biệt: ít nhiều Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn còn giữ niềm vui hồn nhiên với không gian quê kiểng; Nguyễn Quang Thiều hoài tiếc đến đau đớn như thể hoài nhớ một thiên đường đã mất, Cái Đẹp và Sự Cao cả đã mất, một kẻ muốn “rời bỏ thành phố” để tìm lại những giá trị vững bền của con người và tự nhiên, nhưng cũng không ít va đập đau đớn; Trần Tiến Dũng nhớ bầu trời quê, tự nguyện làm “người chơi một mình tự do trên đồng đất” trong tưởng tượng đến chỗ “đô thị hóa”, thậm chí trở nên “đặc sệt” đô thị với góc nhìn hài hước (qua các tập thơ từ Khối động (1997), Hiện (2000) tới Bầu trời lông gà lông vịt (2003). (Chắc chắn còn những tác giả khác mà tôi chưa có cơ may đọc, chẳng hạn tôi rất tò mò về tập thơ với cái tên rất dài của Thi Hoàng Theo đuổi tự nhiên và những bài liên quan hay là cộng sinh với những khoảng trống). Trong số các cá tính thơ đó, Mai Văn Phấn dường như giữ một cái nhìn điềm tĩnh hơn. Đọc thơ anh, tôi cảm nhận một quan hệ tương thích hài hòa của kẻ thấy mình trong thiên nhiên và thấy thiên nhiên trong mình hơn là những nỗi bi ai, hoài nhớ, đau xót một thiên đường đã mất. Có những khi, thế giới phi-nhân muốn nổi loạn, “đòi đặt tên”, nhưng nhiều hơn vẫn là một sự quấn bện kì lạ, như thể anh sống ở một không gian khác, nơi các linh hồn kết tụ với nhau đầy bí ẩn cùng với viễn tượng về một không gian (thơ) sinh thái của thì tương lai. Cách ứng xử, chung sống với tự nhiên của Mai Văn Phấn trong quan niệm và trong thơ ca dường như cũng là căn cốt thi sĩ của anh, đồng thời là cái “khí” thơ đẹp khỏe khoắn, vững bền, tinh lọc, không hướng về những vùng tối mà hướng về ban mai và ánh sáng, không bị kéo trĩu bởi cảm thức hoài nhớ (nostalgia) hay nỗi “thương nhớ đồng quê”- để gợi nhắc một tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp - thường thấy trong văn chương lãng mạn và hiện đại, khi những giá trị của văn minh xung đột với những vẻ đẹp văn hóa bản nguyên.

Bầu trời

Không gian thơ Mai Văn Phấn dường như được nuôi dưỡng bởi kí ức vùng nông thôn miền Bắc Việt Nam, kí ức giàu có đó vẫn đầy sức sống ngay cả trong không gian đô thị hóa của thì hiện tại. Cũng có thể bởi Hải Phòng, như đôi điều tôi cảm nhận, là một đô thị biển, không đậm đặc chất đô thị như Sài Gòn, không có nỗi hoài vọng về “thủ đô thanh lịch”, lại vẫn giữ được vẻ phóng khoáng của gió, nước, một không gian hỗn trộn giữa làng và phố, nhiều phấp phỏng về thế giới vật chất nhưng vẫn dễ dàng bắt được một bóng cây, một bóng mây đẫm lửa…  Cảm giác dằn vặt vì mất mát không đậm nét trong thơ Mai Văn Phấn, và thậm chí, ở khía cạnh nào đó, anh còn được nuôi dưỡng bởi một thứ suối nguồn lãng mạn để xây dựng những tưởng tượng đẹp về thời chưa tới với một không gian đô thị sinh thái, một không gian trút bỏ mọi ràng buộc, trở thành Tự Nhiên, mở rộng đến vô cùng, mà lại có thể thu vào trong lòng tay, để cái mênh mông đó cũng là một không gian Mái Nhà. Nơi đây, trẻ con sinh ra và sự sống khai mở, hồi sinh, những nguồn cảm hứng mãnh liệt của Mai Văn Phấn từ những sáng tác giai đoạn đầu:

Màu xanh
Trái đất - Căn nhà hộ sinh
Tiếng trẻ con chào đời truyền trong không gian xanh những dòng
mật mã...
Đêm đầu mùa
Anh cuống quýt hôn em qua kẽ lá
Khi sương tan cành biêng biếc xanh.
Cô đơn tràn bãi trưa hanh
Mùa đi rung cây lá đổ
Phải dằn dữ và cũng mềm như gió
Gió từ biển xanh mang sắc của trời.
Bình minh lên chiếu sáng nửa đời
Còn nửa kia chìm vào bóng tối
Bao lối cỏ cứ xanh vội vội
Thấm lên bàn chân ai qua.
Sóng trên cây thầm thĩ mỗi hiên nhà
Con đò thời gian hối hả
Khi mỗi chúng ta là chiếc lá
Thì rừng hoang bỗng hóa nhà mình.
Trái đất -  Căn nhà hộ sinh
Tiếng trẻ con chào đời truyền trong không gian xanh những dòng
mật mã...

Ở bài thơ này, Trái Đất – không gian rộng lớn được đồng nhất với Căn Nhà Hộ Sinh, và hơn thế, Tình Yêu (hôn nhau qua kẽ lá) cùng với sự Sinh Ra (tiếng trẻ con chào đời) hợp thành một thế giới trở về đúng với cái khởi nguyên, cái kì diệu, và tất cả cũng được đồng nhất với Màu Xanh. Nếu nói bầu trời là không gian ôm trùm thơ Mai Văn Phấn, thì cách diễn đạt tốt nhất có lẽ chính là thơ của anh: viễn tượng về một “Bầu trời không mái che”, tên tập thơ mới nhất của anh năm 2010. Bầu trời này, không chỉ là giấc mơ về một không gian sống khoáng đạt, nó còn là một giấc mơ về không gian tư tưởng, cảm xúc, nơi các cá thể người và không phải người thả lỏng tuyệt đối để tận hưởng và khai mở sự sống bản thể.

ao chuôm tìm hướng lên trời
dòng sông vừa chảy
vừa sinh nở
             (Đất mở)

Thực ra, nếu so sánh với các hình tượng các yếu tố nguyên thủy khác như đất (biến thể là cánh đồng, đất đai, v.v…), nước (biến thể là sông, biển…), lửa (biến thể là ánh sáng, mặt trời) thì “bầu trời”(đúng ra là biến thể của yếu tố “khí” nguyên thủy, cùng với các biến thể khác như hơi gió, làn hơi…) xuất hiện có vẻ thưa vắng hơn. Tuy nhiên, hình tượng không gian này lại trở nên giàu có, bởi tiềm năng khêu gợi tưởng tượng về một không gian vô tận của tự nhiên và suy tưởng của nó, bởi đó là chiều cao, chiều rộng và cả chiều sâu, bởi nó hướng về một viễn tượng xa xôi. Một lí do khác ngẫu nhiên hơn, “Bầu trời không mái che” có thể dẫn đến liên tưởng thú vị với “Bầu trời có nắp đậy”, một ví von tinh nghịch thi vị của Trần Tiến Dũng – như biểu tượng cho thế giới đô thị của anh, một thế giới phân biệt với làng quê bởi cái… bồn cầu.  Cái viễn tượng trái đất xanh, đô thị xanh, mái nhà xanh của Mai Văn Phấn cũng có thể quy chiếu xa hơn với “thơ đô thị” nhiều thế hệ: Từ Tú Xương buổi giao thời đến Vũ Hoàng Chương thời Thơ Mới đến không gian thơ đô thị của Trần Tiến Dũng chẳng hạn. Dường như Mai Văn Phấn có khả năng thích nghi và hòa hợp, do đó không tra vấn day dứt về các phạm trù tự nhiên và đô thị để chấp nhận, đau xót hay dấn thân như Trần Tiến Dũng, không chìm đắm trong hoài niệm và huyền thoại như cách của Nguyễn Quang Thiều, anh thấu nhập “tôi” vào vũ trụ, tan vào đất, nước, lửa, không khí, vào những yếu tố bản nguyên. Mai Văn Phấn đã tìm đến thiên nhiên theo cách của một thi sĩ phương Đông: hòa nhập vào “thế giới”, phóng chiếu tâm tưởng vào vũ trụ để nhận ra cái tinh thần, hay những linh hồn của muôn vật.

Linh hồn

Trong bầu trời sinh thái của Mai Văn Phấn, có những thực thể tồn hữu sống động-linh hồn, cả linh hồn con người, linh hồn cây cỏ, thậm chí cả linh hồn đồ vật. Tính chất thực của không gian sinh thái do đó được ảo hóa, hình tượng thơ trở nên lưỡng lự đa nghĩa. Nếu tự nhiên trong thơ anh được “thi hóa” thì cái môi trường vật lí mà anh quan sát, cảm nhận kĩ lưỡng, chính xác cũng chính là môi trường tinh thần khó có thể phân lập.
Chẳng hạn, một bài tứ tuyệt đáng nhớ trong tập Gọi xanh.

Bất chợt vệt cánh chim bay qua 
Hay quanh quất bóng mình sót lại 
Cánh chim tựa que diêm quệt vào ngây dại 
Ngọn lửa thiên thần nào có thể bén vào tôi
(Cánh chim bay qua)

Bầu trời có cánh chim bay, nhưng ngôn ngữ thơ không muốn làm chức năng của một chiếc máy ảnh chớp nhanh và làm bất động một khoảnh khắc, ngôn ngữ muốn lưu giữ, không phải cái còn hiện diện, mà là cái vừa vắng mặt nhưng vẫn như là đang hiện diện,đang còn lại dấu vết trong bầu trời kia. Dấu vết của “cánh chim bay qua”, để lại vệt chớp sáng, nhưng cũng là vệt bóng mình, nhưng cũng không phải là cái bóng của thân xác đang hiện hữu, mà hóa ra là cái bóng của tiềm thức về thời thơ ngây dại vừa chợt hiện lên… Mấy câu thơ nén chặt những lớp hình ảnh không gian mờ chồng, như trong một bầu trời mở ra vô tận bầu trời, những lớp thời gian mờ chồng, cả quá khứ, hiện tại đồng hiện… Rõ ràng, chính xác mà hư ảo. Thành ra, không gian sinh thái trong thơ Mai Văn Phấn là không gian của tưởng tượng, của ý nghĩ nhiều hơn. Cảm giác về vùng đồng bằng Bắc bộ có thật (như thôn Vân của Nguyễn Bính) hay những ấn tượng về biển không đậm đặc trong thơ anh. Nó chìm vào hồi ức, cảm giác, nó được chắt lọc lại, trở thành một thứ nước chưng cất, không vướng bụi.

Nỗ lực đi sâu vào thế giới cảm giác, vào cái vô thức, tiềm thức, đánh thức những mối liên hệ ẩn tàng trong lòng tạo vật tồn tại bình đẳng và thống nhất cũng là nỗ lực tra vấn các kinh nghiệm mới mẻ của ngôn ngữ trong việc “thăm dò tiềm thức” và tái hiện những kinh nghiệm đột khởi tươi ròng. Độc giả dường như có thể nảy ra bất cứ câu thơ nào của thi sĩ mà họ yêu mến để ngắm nhìn và mộng tưởng cùng những linh hồn bay nhẹ như hơi thở, như hơi đất râm ran vị cỏ mùa xuân.

Tôi thích cách Mai Văn Phấn viết về “hôn nhau”. Nụ hôn và hành vi hôn, và “thực thể hôn” là đôi môi luôn được bọc trong sự tươi mát của tự nhiên, con người sinh ra cùng thiên nhiên và tình yêu cũng sinh ra cùng thiên nhiên: “hôn nhau qua kẽ lá” “khép vào kẽ lá”… là hình ảnh thường thấy trong thơ anh, những cá thể người tự thu nhỏ để trở thành những sinh thể trú ngụ trong ngôi nhà xanh của lá. Có thể kể nhiều câu thơ khác:
Những đôi môi giấu mãi vào nhau
Như vỏ cây muốn lẫn vào ruột gỗ
Sự hòa hợp thành lặng im bắt đầu.
             (Sợi dây im lặng)

Hôn em trời đổ mưa
đất đai hồi sinh tươi tốt
Hạt giống nảy mầm rồi bỏ đi xa
             (Những bông hoa mùa thu)

Hành vi của con người dường như luôn được quan sát bằng “con mắt thiên nhiên”. Không gian không phải là bối cảnh tĩnh mà là một thực thể, là một sự tham dự.

Qua kẽ lá, nắng lay tôi từng giọt
(Ngủ quên trong rừng)

Sau tiếng chân chim nhẹ nhàng đậu lên sống lưng đỉnh sọ
Ta thấy qua ngực mình mây xám dần trong.
             (………)
Bóng em đi bằng bước chân của gió
Trên mình anh những tiếng chân nai
(Vầng trăng và con đường)

Cũng từ góc nhìn này, Mai Văn Phấn nhìn ra sức sống và sức mạnh của thiên nhiên so với những giá trị nhân tạo, và thế giới các đồ vật – vốn là “thiên nhiên” được con người khai thác, tạo ra để “ủng hộ” sức mạnh của con người – đã phải nhận lấy các bài học từ thiên nhiên, theo lời vọng của tổ tông, tổ tông của con người và tổ tông của chính các đồ vật. Có lẽ không cần phân tích dài dòng, bài thơ “Quay theo mái nhà” trong một tập thơ như muốn nổi loạn (Tập Hôm sau) là một ví dụ tiêu biểu:
Đêm tỉnh dậy. Đồ gỗ trong phòng mọc tua tủa nấm nhĩ. Bức tượng chảy xệ xuống thành nắm đất nhão. Chiếc quạt mở ra lần cuối rồi khép lại làm ống tre. Trong bóng tối, tiếng những nghệ nhân đã khuất cùng đồng vọng:

- Hãy quay theo mái nhà đánh thức các đồ vật!

Tôi quay cùng chai lọ, con giống, bóng đèn… qua môi người thợ thổi thủy tinh, qua con chữ rùng mình nhìn bột giấy chìm trong thuốc tẩy. Những giọt mực tụ lại rồi loang xa như một vết dầu. Bộ quần áo trang nghiêm rũ xuống. Đấy là giờ mặc niệm tơ tằm và những cây bông. Bóng tối nuốt sạch thực phẩm ôi thiu, không khái niệm về văn hóa ẩm thực. Hương trà thơm về rừng. Nước gào thét trong chiếc ấm bục đáy....

Những đồ vật quay không thể dừng lại. Thùng rác quay mắc phải khung ảnh, quạt trần, dây điện thoại. Chiếc quần lót mắc kẹt giữa tủ bát đĩa và máy tập thể hình. Chổi cùn, bình diệt muỗi, đĩa CD chui vào tủ lạnh. Con cá tắt thở trên đường gần đến cửa sổ. Lũ chuột nhắt chết đuối bơi qua chảo mỡ. Bột giặt vừa quay vừa rắc lên hoa quả, dao thớt, bàn thờ. Bát nước chấm quay cùng bìa đậu phụ. Lọ tương ớt lao đi trong tư thế lộn ngược. Và kim giây quay chậm hơn hẳn kim giờ...

Mọi người vừa quay vừa tỉnh dậy. Vẫn đủ thời gian uống nước và rửa mặt. Chọn cho mình một đồ vật bất kỳ. Và nhanh chóng đặt chân vào vạch Xuất phát.


Những gì chúng ta tiết lộ trong thơ không phải là cái tồn tại có thực, không phải là kinh nghiệm mà chỉ là các dấu vết của kinh nghiệm – thứ kinh nghiệm luôn bị điều kiện hóa bởi cấu trúc văn hóa, trong đó có thiên nhiên, môi trường. Vậy thì cần phải lật lại một nhận thức ảo tưởng: phải chăng con người là loài cao cấp nhất và có quyền sở hữu hay thống trị thế giới phi-nhân, bằng chính sức mạnh của họ và bằng những công cụ mà họ đã tạo ra? Mai Văn Phấn dường như đã linh cảm chính xác rằng tự nhiên luôn không im lặng, nhưng con người có thể đánh mất tiếng nói bởi lòng kiêu ngạo. Bởi thế, con người nghe tiếng nói của tự nhiên là nghe chính mình, hay phải nghe tiếng nói của tự nhiên để hiểu chính mình. Con người từ chối tự nhiên là từ chối sự hiểu biết về chính nó. Vậy là, mối quan hệ của cái tôi với Cái Khác (Others) không phải chỉ là mối quan hệ của Tôi như Người Này với Người Khác, theo xu hướng nhân trung luận (humancentric) mà còn là mối quan hệ của Tôi và Tự Nhiên, trong đó Tự Nhiên cũng là một Cái Khác tồn tại bình đẳng trong không gian vũ trụ. Nhưng nó không biệt lập với con người, bởi có thể, tự nhiên ở chính tâm hồn con người vậy, và có thể con người đang nằm ngủ đâu đó trong kẽ lá kia thôi.

Thơ như một cấu trúc sinh thái

Thơ Mai Văn Phấn có thể coi như một cấu trúc sinh thái: từ nhan đề các tập thơ, từ cách trình bày, sự trở đi trở lại của một số chủ đề cơ bản, một số không gian thơ, mối liên hệ giữa tác giả và vùng đất máu thịt của anh… Đi sâu hơn vào các văn bản thơ, một nhà thống kê học tỉ mỉ sẽ gom góp được một hệ từ vựng đáng kể về hệ sinh thái: đất đai, bầu trời, con nước, biển cả, gió lộng, vách núi…. Điều đáng chú ý là hệ sinh thái này luôn như mang giọng con người. Như thể làm nhớ tới một cụm từ nổi tiếng của nhà thơ Mỹ Seamus Heaney, trong một thi phẩm về thiên nhiên “Kinship”, cụm từ “nguyên âm của trái đất”, cây cỏ trong khí quyển của Mai Văn Phấn cũng Tập phát âm:

Không còn ác cảm hôm nào
Bóng tối mềm duỗi dài trên đất
Thanh bĩnh tĩnh lặng
Cỏ hân hoan vừa nhận ra mình.
Màu đen thấm dần từ ngọn xuống chân
Chảy từ vú u ơ khổng lồ nhẫn nại
Dòng sự thật âm bản hiện lên
Ngỡ ai phát nhanh những thước phim đã mốc.
Miệng bóng tối ghé vào thanh bạch
Hơi độc từng phun ngược lại âm hình
Nơi đoán phạt trắng đen, thiện ác
Lá cỏ trồi ra chiếc lưỡi phân minh.

Đâu là cách kết nối giữa các yếu tố tự nhiên và ngôn từ thi ca? Phải chăng ở chính khoảng không của tự nhiên và khoảng lặng của những chữ, sự viết bắt đầu? Ở đó, cây cỏ “nhận ra mình” để nói lên sự thật bằng “chiếc lưỡi phân minh”.

Người đọc cũng dễ dàng nhận ra hàng loạt những hình tượng thiên nhiên có tính chất biểu tượng, ẩn dụ trong thơ Mai Văn Phấn. Tôi muốn nói thêm rằng: đó không phải là những biểu tượng bất biến, cố định, chết cứng, mà nó sinh thành cùng kinh nghiệm cảm giác của chính tác giả trong mỗi lẫn phát kiến một bài thơ, một câu thơ, thậm chí một từ ngữ. Cái kinh nghiệm đó không ai thay thế được. Do đó, khi nhà thơ nói đến nước, bầu trời, cỏ cây, vách đá… thì đó không phải là những biểu tượng sẵn có mà là cách nhà thơ cảm nhận về thế giới. Và ngược lại, những từ ngữ đó cũng không “tự nhiên sinh ra” mà bị định dạng bởi chính tự nhiên. Một quan hệ phụ thuộc hai chiều. Ý nghĩa của thơ ca, ở khía cạnh nào đó, mang khả năng khơi gợi lại, không phải để gọi tên sự vật mà còn là tiết lộ thân phận của chúng, khám phá thân phận của thiên nhiên trong thế giới ngôn ngữ, trong quan hệ với con người. Cũng chính bởi từ ý thức đó, Mai Văn Phấn khơi sâu mạch nguồn ngôn ngữ của cảm giác để phá bỏ những hàng rào ngôn ngữ và đi sâu vào thế giới của những linh hồn, dù tất nhiên, anh ý thức ngôn ngữ có giới hạn của nó.

Và để những linh hồn bay lượn tự do trong bầu trời, để là một linh hồn tự do trong bầu trời, Mai Văn Phấn chọn thơ ca.

Thơ là để bám rễ vào mặt đất

Nỗ lực tìm đến nguồn cội của thi ca cũng như bản lai diện mục của con người đưa nhà thơ trở về với đất đai, đồng quê như nguồn cội của sự sinh. Đồng quê gắn với công việc làm ruộng và thiên nhiên đã trở thành quan hệ mĩ học của nhà thơ với một vùng đất. Có lẽ phải hiểu bầu khí quyển thơ khi Mai Văn Phấn xuất hiện với tư cách một nhà thơ, cuối những năm 90 của thế kỉ XX, khi cuộc va chạm với văn minh làm cho không gian đồng quê thương tổn, đổ vỡ, nỗi lo âu, đau đớn biểu hiện mạnh mẽ trong văn xuôi Nguyễn Huy Thiệp, thơ Nguyễn Quang Thiều… để hiểu hơn thái độ điềm tĩnh và hơn thế, đầy khao khát kiếm tìm dấu vết quá khứ của Mai Văn Phấn. Không nặng về “tự thú trước cánh đồng”, anh muốn ”nhân danh đất đai” để lần tìm kí ức từng thớ đất, từng vết người đi trên cỏ.

Tôi chưa từng đọc nhà thơ nào khao khát lần tìm dấu vết của kí ức tha thiết, thành thực và tinh tế như cách ứng xử của Mai Văn Phấn. Mười bài tập mùa xuân có thể là một khúc biến tấu trên chủ đề kí ức. Kí ức của nhụy hoa đầy dấu chân ong. Kí ức vết bùn gợi dáng ông bà, con đường cổ lỗ. Kí ức cánh cò trong bức tranh thủy mặc. Mặt người đã khuất và hồn người chết. Dường như sức mạnh của đô thị hóa và toàn cầu hóa làm con người và cả thơ ca, hốt hoảng trước khả năng có thể bị đánh bật ra khỏi gốc rễ bất cứ lúc nào. Mai Văn Phấn muốn mình là cái cây có rễ thật sâu, thật khỏe, cái rễ trụ vững trước mọi bão gió, làm thành bản sắc thơ và căn cước tâm hồn anh, cái gốc rễ nằm sẵn trong con người và trong thơ, nhưng phải tìm và tìm ra nó. Anh lưu giữ cẩn trọng tro than của mùa đốt đồng trên ngực mình, đồng thời cũng theo “chiếc cày chìa vôi sục tìm trong đất” để “Lật lên bao kiếp người theo vết chân trâu”.

Mai Văn Phấn ca ngợi vẻ đẹp cội rễ, ngay cả khi phóng túng bật tung cội rễ:

Bay qua. Bay qua
Tóc cuốn cành khô
Thân em nhẹ làm bật tung cội rễ
              (Hát từ đất)

Cội rễ giữ đất
Con đường bầu vú vương thơm
nối khuôn mặt với bao nhiêu hộp sọ
trên tay chuyền một chuyền hai
             (Làng)

Cội rễ anh vươn mắt em nhìn tươi tốt
Từng đọt mầm phun hơi ấm lòng đất ướt
từ hơi thở làm bầu trời đổi khác
từ khoảng không được quyền kiến tạo đám mây
             (Bài hát mùa màng)

Nhưng thực ra, ở hầu khắp các bài thơ trong các tập thơ của anh đều có thể tìm thấy chiều sâu quan niệm về mối liên hệ của con người, thiên nhiên và cái gọi là “cội rễ”. Tôi rất muốn đọc thưởng thức những bài thơ này, chỉ cần đọc lên, để nghe vang vọng tiếng của tổ tiên, của cội nguồn, của những tiền kiếp tạo thành hiện tại.

Bức ảnh, trái cây và giấc mơ

Những bức ảnh thiếu sáng, những trái cây chín ép và giấc mơ rụng cánh trước cơn mưa, chầm chậm trôi ngược dòng ký ức.
Theo ngọn gió mở cánh đồng buổi sớm, ùa vào những căn phòng lẫn bụi và ánh sáng, lau mồ hôi vừa tắm gội giấc mơ.
Và như thế, cội nguồn trong gang tấc, lúc quay về là đi hết đời mình, hay chờ luân hồi trở lại kiếp sau.
Những linh hồn kia chưa kịp đầu thai, đang ngưng lại nơi không gian thờ phụng, bay lửng lơ rồi nấp vào bái vật giáo bất động.
Có ai chạy từ giấc mơ, trái cây đến bức ảnh, để nhặt được những gì mình đánh mất, nghe tù đọng từng giọt nước mắt và nhận ra sự chai lì của mỗi bóng râm.
Nơi đầu nguồn đã thay một không gian và thế hệ cỏ non đang ran ran trên đất.
Những linh hồn đứng vào góc mở ánh sáng khác, trong tiếng rên của giọt sương mới, dè dặt vụng về gõ cửa từng nguyên âm.
Nhưng khắp nơi đang bắt đầu những dòng đổ vào ký ức, cả từ bức ảnh, trái cây, giấc mơ thành giọng nói đêm qua.

Hồi sinh

Cùng rền rĩ trong mê man cơn sốt
Cho tầng lá già lênh đênh chưa kịp mục
Cho bén rễ vào thịt da những mùa ngũ cốc
Nước mắt ban mai trổ những đòng đòng.
Trên ngực bùn nâu đã linh thiêng ban lộc
Máu hồi sinh rần rật chạy qua
Thấy nghĩa địa lặn đi thành vết sẹo
Thấp thoáng người xưa tỉnh lại cấy cày .
Và nhảy múa với các hình nhân bện bằng rơm rạ
Sống động không gian chất ngất ngày mùa
Tôi gượng dậy giữa cánh đồng rộng lớn
Có con nước cường chảy dọc sống lưng

Dấu vết bình minh

Sóng sắc lẻm, đường chân trời đã vỡ
Ban mai trào lên nơi ranh giới xoá nhoà
Muôn ngàn mắt em xoay không gian lập thể
Trong hạt sương trôi căng mọng phập phồng .
Đừng trôi lại gần đám mây đẫm xăng
Dù cố giấu đi mười ngón tay có lửa
Những lưỡi gió thơm tho luồn vào lỗ tai
Ấp lên hoang sơ giấc mơ của cỏ .
Da thịt anh rộn ràng mang dấu chân em
Làm những móng tay trên đất càng vang vọng
Mỗi đốt xương muốn rời ra ngân lên bộ hơi
Ngỡ có đôi môi trên đỉnh đầu đang thổi.

Bến cuối

Cánh cửa bật mở. Người người gắn chặt vào tổ tiên trong những tảng băng trong suốt. Mọi chuyển động dừng lại tại thời điểm khởi hành. Quá khứ bắt đầu gầm rít quanh đời sống đã chết. Tất cả bị ướp đông trong hơi lạnh nhân tạo. Ướp đông tiếng nói vụng trộm. Ướp đông căn bệnh mãn tính. Ướp đông giọt mực gắn chặt ngòi bút vào trang giấy, chén rượu đưa lên vĩnh viễn cách môi. Nắm đất ném lên trời không bao giờ trở lại. Mặc người nói lắp đã không qua nổi chữ “”...
Bóc dần từng mảng thời gian. Quá khứ nhập vào đến đâu, những thân xác nóng lên đến đó. Và kiêu hãnh từ từ.

Dấu vết

Bức tường và cánh cửa vẫn đóng. Làn hương lao về phía tôi tìm cửa thoát hiểm cuối cùng. Đập vỡ khuôn mặt thủy tinh hương thơm đào thoát vào trong, qua những khoảng tối nhốt đầy kỷ niệm... Từng quả trứng nở bung dị ảnh, thoáng bóng cô hồn vào ăn cỗ cưới, ai thắp đèn đuổi ma trong cây, tiếng khóc dạ đề huơ trên đống lửa... Tôi trong quầng sáng khó phân định, dính chặt vào loa phóng thanh đầu xóm mùa lũ. Bàn tay nước giờ đã khô còn mắc kẹt trong khe cửa. Không xa là hàng rào thưa. Không xa là đàn rêu đến kỳ sinh nở. Những làn hương thanh tao bầm dập cùng đổ về trong cơn lốc phân định lẽ phải cuối cùng. Nhưng tiêu chí chúng đặt ra quá đỗi mơ hồ nên chẳng bao giờ tìm được chân lý, tốt hơn hết chỉ còn cách đào thoát. Dù đào thoát về hướng nào, bằng cách nào cũng không giấu nổi dấu vết. Trong sổ tay những đoàn khảo sát chúng sẽ được gọi đích danh bằng thuật ngữ La-tinh.

Khi Mai Văn Phấn tuyên ngôn trong thơ: “Muôn năm con người! Muôn năm thiên nhiên!” hay giãi bày trong đời: (…) các nhà thơ lần theo thơ ca nhằm khai mở tiếng nói mới, hoặc tìm lại âm sắc thuở hoàn nguyên đã mất.“; “(…) thơ ca còn tìm cách đặt tên lại sự vật, định hình lại thế giới”; “Việc sáng tạo thi ca gần giống trạng thái bàng hoàng của một đứa trẻ lần đầu được nhìn thấy những hiện tượng kì lạ của thiên nhiên và khám phá những bí ẩn, phức tạp của con người”; “Mục đích của thi ca là tạo lập một từ trường, để trong không gian đặc biệt ấy, tất cả từ đồ vật đến linh hồn đều được cất tiếng nói, được công bằng như nhau trong một trật tự mới. Những hình ảnh hiện lên trong không gian ấy là cánh cửa mở ra tương lai hoặc tìm về với quá khứ, hoặc tất cả cùng đồng hiện và đồng hành trong những thời khắc đặc biệt” (Trả lời tạp chí Thi Bình) thì vẫn là một con người-thơ Mai Văn Phấn: anh “đi tìm”, chứ không phải “tìm về”, truyền thống như một con đường riêng biệt để sáng tạo thơ ca. Không thể hiểu cái gọi là “truyền thống” ấy một cách đơn giản, và hành trình của anh càng không đơn giản. Cao vọng về một không gian sinh thái – mái nhà cũng là cao vọng về một không gian thơ rộng lớn mà thân thuộc, mở ra từ truyền thống, nhưng không phải truyền thống lưu cữu trong các quan niệm mòn sáo, mà là truyền thống được làm mới từng ngày. Nhưng gọi tên truyền thống Việt đâu dễ dàng! Thành ra cuộc đi tìm của Mai Văn Phấn cứ như một nỗ lực không có đích, lại không nhiều đồng vọng nhất là trong không gian phân mảnh của thơ đương đại.

***

Tôi không bao giờ thích nói hay nghĩ về sứ mệnh của một thi sĩ, nhưng câu hỏi này vẫn được đặt ra: Nhà thơ thuộc về đâu? Phải chăng cả khi anh/chị ta không thuộc về đâu cả, anh/chị ta vẫn thuộc về một nơi nào đó, một bầu khí quyền, một không gian sinh thái? Đặt ra câu hỏi này, tôi đã tự tìm cách hóa giải những cảm giác ban đầu của tôi về thơ Mai Văn Phấn mà tôi xin chia sẻ như một cách tạm khép lại bài viết còn nhiều dang dở này.

Trong 9 tập thơ của Mai Văn Phấn đã xuất bản, tôi tiếp xúc trọn vẹn 5 tập: Gọi xanh, Vách nước, Hôm sau, và đột nhiên gió thổi, Bầu trời không mái che và cuốn Tuyển Thơ Mai Văn Phấn dạng bản thảo mà tác giả gửi đến. Cái cảm giác của tôi, như một người đọc, gần như bị thử thách: không phải thử thách vì đứng trước một dòng thác quá lớn, quá mãnh liệt làm mình choáng váng, mà bị thử thách vì cái đẹp của một cánh đồng mênh mông, nơi tôi quen thuộc tuổi thơ, nhưng lại không nhiều quyến rũ với một tâm hồn trẻ tuổi. Tôi vốn ưa những thứ kì bí lạ lùng, hay cực độ dữ dội. Thơ Mai Văn Phấn hay, nhưng không phải cái hay đập ngay vào cân não tôi, làm tôi hoảng hay tim đập mạnh. Nó là cái hay nhuần nhị của trí tuệ và xúc cảm, buộc phải đọc lặng lẽ, kiên nhẫn, phải cảm và phải mở rộng cảm xúc của mình để cảm, để trải nghiệm. Nó không dễ, dù không khó, ngay cả ở những bài, những câu, những hình ảnh, thi tứ tưởng như “dễ chịu”, hiền lành. Chính bởi thế suốt nhiều ngày, tôi như kẻ bế tắc trong việc tìm ra một cách đọc tương thích, nhất là khi tôi không thể chỉ lấy cái cảm nhận chủ quan, tôi không biết phải bắt đầu thế nào để vào được khí quyển thơ Mai Văn Phấn, một không gian luôn rộng mở đón đợi người đọc đồng sáng tạo nhưng lại không dễ dàng để gọi tên cái “khí” của một người thơ miệt mài, nhẫn nại, trong lành và nhiệt huyết như Mai Văn Phấn?

Ở một góc nhìn nào đó, về tính chất thời đại trong thơ hay quan hệ của nhà thơ với thời đại, Mai Văn Phấn dường như tách ra khỏi mối quan tâm về những chủ đề đang “nóng” của thơ ca, như giới, chủng tộc, màu da, phản kháng chính trị… Anh như thể giữ gìn quá cẩn trọng màu xanh thanh khiết trong tâm hồn và thơ của mình. Vậy thơ Mai Văn Phấn có xa lạ với thời đại không? Hóa ra, khi đọc và đọc lại nhiều lần, dù không phải tất cả thơ anh, và nỗ lực lần theo cách anh tìm ra con đường sáng tạo của riêng mình, tôi bỡ ngỡ phát hiện ra một Mai Văn Phấn khác, một Mai Văn Phấn thậm chí “cực thời đại”. Phản tỉnh về cách ứng xử kiêu ngạo trước thiên nhiên, coi mình là trung tâm muôn loài của con người, những cách ứng xử sẽ dẫn đến hủy diệt, Mai Văn Phấn không bi ai, không hoài nhớ chìm đắm, cũng không tuyên ngôn cực đoan về sinh thái như là trung tâm (ecocentric) mà nỗ lực tìm kiếm các dấu vết của kí ức để mở ra một viễn tượng về tương lai. Không quan tâm các vấn đề thời thượng, nhưng Mai Văn Phấn đã tìm ra được mối liên hệ với thời đại, với vấn đề toàn cầu theo hướng đi của riêng mình. Định vị lại, tìm kiếm sâu hơn các tiềm năng ngôn ngữ con người trong một thế giới không chỉ có con người, mà rộng lớn hơn, đó đâu phải một vấn đề nhỏ bé?

Hóa ra, ở Mai Văn Phấn, nỗ lực hiện đại hóa thơ ca, nỗ lực tìm kiếm các kinh nghiệm ngôn ngữ mới luôn đi kèm với nhu cầu nói lên tiếng nói phản tư về xã hội và con người, để tham dự như một nhân tố tích cực. Ở anh, cái gọi là Tiền Phong cũng không bao giờ là một phạm trù mĩ học tự trị, thuần túy mà không tách rời mối ưu tư thường hằng về đời sống và vũ trụ, trong đó có sự quan tâm tới những cái bình thường nhỏ bé nhất. Mối quan hệ tương tác giữa con người và tự nhiên trong thơ Mai Văn Phấn, ở chỗ này là hòa nhập trong im lặng, lúc khác là sự nổi loạn bức bối của đồ vật… nhưng bao giờ cũng ngầm sâu một đề xuất về một cách nghĩ mới về mối quan hệ của con người và thế giới phi nhân. Con người không thống trị và sở hữu thiên nhiên, mà hiểu biết về sự nhỏ bé, sự mong manh hư huyễn của chính mình để lắng nghe tiếng nói của thiên nhiên. Đó là một vẻ đẹp có tính chất đạo đức trong thơ Mai Văn Phấn.

Vậy, nếu nhìn nỗ lực để thiên nhiên cất lên tiếng nói và đặt lại tên của Mai Văn Phấn là một cuộc “cách mạng xanh” trong thơ, thì bản thân thơ Mai Văn Phấn cũng có thể coi là một cuộc cách mạng xanh. Trong nỗ lực của kẻ tìm về truyền thống – vốn dễ bị dán lên những từ như bảo thủ, rác rưởi, cũ mòn, Mai Văn Phấn đã tìm ra một cách đẹp để giải phóng chính mình khỏi áp lực của truyền thống, khẳng định sự tự do thực sự của thơ ca. Mai Văn Phấn đi theo con đường của người làm thơ lần tìm cội rễ, trở lại nằm áp tai xuống đồng đất để nghe vị cỏ râm ran da thịt.

Bắt đầu từ thế kỉ XIX, phê bình văn chương trở thành một lĩnh vực chuyên nghiệp, tách rời khoa học tự nhiên và khoa học nhân văn. Hơn một thế kỉ sau, vào đầu thế kỉ XXI, xu hướng liên ngành dường như là thích hợp hơn với sự đa phương hóa các quan niệm. Từ đây, sự kì vọng vào cái gọi là nghệ thuật thuần túy có thể lại tồn tại như một dạng thức hoài niệm. Chính vì thế, mối quan hệ giữa văn chương và môi trường có những thay đổi quan trọng, từ chỗ môi trường vốn bị đứng sau văn chương như một thứ phông nền nay thậm chí muốn nổi lên ở bình diện thứ nhất, thành đối tượng trung tâm, đã đành, nó còn thành một thực thể sống động mà ở đó, môi trường buộc con người phải quay lại nhìn lại chính mình và nhìn lại thế giới xung quanh. Sự vị kỉ nhân trung luận nhường chỗ cho sự thương thỏa với không gian và thế giới phi-nhân. Tất nhiên, nỗ lực của các xu hướng, các học thuyết, những niềm hứng khởi mãnh liệt bao giờ cũng đi từ chỗ cực đoan, đơn giản và phiến diện tới sự đa dạng hóa, khả năng khắc phục những quan niệm sơ sài để trở nên phong phú và giàu có hơn. Cách nghĩ với tự nhiên phải thay đổi, để đảm bảo cho sự chung sống hài hòa. Đó là một viễn tượng tương lai của xã hội mà nghệ thuật, tưởng chừng chỉ nỗ lực vươn tới cái đẹp, cái hài hòa tự nó, đã trở thành một tác nhân tham dự theo nghĩa nào đó. Và từ đây, trong sáng tạo và nghiên cứu văn chương, có những không gian khác mở ra, cho những thảo luận xa hơn về nghiên cứu thơ và sinh thái ở Việt Nam.

Nhưng dù mọi cách đọc, cái còn lại với một người đọc thơ là được tận hưởng những câu thơ hay. 

11/5/2011
NHÃ THUYÊN

(Thơ Mai Văn Phấn và Đồng Đức Bốn, khác biệt và thành công,
Kỷ yếu hội thảo thơ tại Hải Phòng, 15/ 5/ 2011, NXB Hội Nhà văn, 2011).
______________________________
 1. Greg Garrad – Ecocriticism – Routledge, 2004
2. Karen Thornber – Ecocriticism – Tài liệu của Viện Văn học, 2011
3. Karen Thornber - Ecocriticism and Japanese Literature of the Avant-Gardehttp://interlitq.org/issue8/karen_thornber/job.php
4. Kate Rigby – Ecocriticism – trong Introducing criticism at the 21st century, Julian Wolfreys (ed), Edinburgh University Press, 2002
Trong bài viết Ecocriticism and Japanese Literature of the Avant-Garde (Phê bình sinh thái và Văn chương tiền phong Nhật Bản), giáo sư Karen Thronber, một chuyên gia về phê bình sinh thái, Đại học Harvard đã dùng từ “nonhuman” để chỉ cả các thành tố sinh học hữu cơ và vô cơ như đất, nước, không khí, từ “human” để chỉ tồn tại con người và cả các cấu trúc nhân tạo vật thể và phi vật thể, bao gồm công nghệ như là các công cụ của con người. Ở đây, tôi dùng từ “thế giới phi-nhân” và “thế giới con người” theo cách cắt nghĩa này. Xin xem bài viết tại: http://interlitq.org/issue8/karen_thornber/job.php
Xin xem bài viết của Karen Thornber dẫn ở trên, trong đó, bà dùng phê bình sinh thái như một góc nhìn để tiếp cận văn chương tiền phong Nhật Bản (với tiểu thuyết Người đàn bà trong cồn cát của Kobo Abe và một tuyển tập các bài thơ về bom nguyên tử của Nhật Bản). Bà cũng đã sang Việt Nam trong khuôn khổ Hội thảo quốc tế 2011 "Tiếp cận văn học châu Á từ lý thuyết phương Tây hiện đại: vận dụng, tương thích, thách thức và cơ hội". Tại Viện Văn học, bà cũng đã có buổi giảng giới thiệu về Ecocriticism. Hiện tại, bài viết này chưa có ấn bản online.
Cách hiểu về ecopoetry/ecopoems/ecopoetics có những khuôn khổ ít nhiều khác biệt giữa các học giả, liên quan tới cách khu biệt các sáng tác được gọi chung là environmental writing/ nature writing; Tuy nhiên, trung tâm của ecopoetry (thơ sinh thái) vẫn là mối quan hệ của thơ và tự nhiên, được khơi gợi cảm hứng mãnh liệt hay đưa ra các thông điệp về sinh thái. L. Buell (1995) trong cuốn Enviromental imagination: Thoreau, Nature Writing and the formation of American Culture, London: Princeton University Press, đã đưa ra bốn tiêu chí cho nature writing của Mĩ, xin tạm dịch: 1. Môi trường phi-nhân hiện diện không phải chỉ như một phương tiện khung cảnh mà như một hiện diện để bắt đầu đề xuất rằng lịch sử con người không tách biệt với lịch sử tự nhiên; 2. Mối quan tâm về con người không được hiểu là mối quan tâm hợp thức duy nhất; 3. Trách nhiệm của con người với thiên nhiên là một phần của khuynh hướng đạo đức của văn bản; 4. Ý nghĩa của môi trường được hiểu như một tiến trình chứ không phải một ý nghĩa cố định hay chỉ ngầm ẩn trong văn bản.

TIN LIÊN QUAN:





Tục thờ rái cá ở Nam Bộ

Tục thờ rái cá có nguồn gốc từ Hoa Lư (Ninh Bình), rồi được mang vào miền Trung và Nam Bộ. Có rất ít miếu hoặc đình có bàn thờ hoặc tượng thờ rái cá, nhưng nó có mặt trong các bản văn tế ở hầu khắp Nam Bộ, nhất là ở những khu vực dân cư có nguồn gốc từ miền Trung. Trong các truyền thuyết, rái cá được gắn với cuộc đời hoạt động của Nguyễn Ánh ở vùng đất phương Nam này.
Bàn thờ Lang Lại (Vũng Tàu).

Rái cá còn có một số tên gọi khác như sói sông (river wolf) và chó nước (water dog). Rái cá thuộc họ Chồn (Mustelidae), bộ Thú ăn thịt (Carnivora), có thân hình dài, mềm, mõm ngắn, đầu hơi dẹp bề ngang, chân có màng. Bộ lông màu xám đến nâu hung đốm hoa râm, lông đệm dày không thấm nước.

Ở các vùng thủy triều rái cá hoạt động theo con nước, lúc nước lên, có thể hoạt động cả ban ngày nếu không bị uy hiếp. Rái cá sống theo gia đình, mỗi đàn 3-5 con, nhưng khi kiếm ăn có thể tập trung thành đàn trên dưới 10-12 con. Do có cấu tạo cơ thể đặc biệt nên rái cá bơi lặn rất giỏi. Lặn như rái là thành ngữ để chỉ ưu thế của loài này. Ở Nam Bộ ngày nay vẫn còn bắt gặp rái cá ở một số vùng như Cần Giờ (TPHCM), Cần Giuộc (Long An), Cù Lao Dung (Sóc Trăng)… Ở khu vực rạch Găng (ấp Phước Thới, xã Phước Lại, huyện Cần Giuộc) vẫn còn nhiều rái cá, do nơi đây vẫn còn hoang vu, nhiều bụi lùm, dừa nước mọc hoang nhiều. Chúng vẫn lén vào ao bắt cá của người dân. Trong một năm có một ngày rái cá bắt cua lên để ở các gò đất, rồi tiểu lên đó, chứ không ăn. Người dân địa phương gọi đó là ngày giỗ của họ Rái. Người xưa giải thích, đó là lễ Lại tế ngư, rái cá dùng cá để tế tổ tiên. Theo bản năng, hàng năm vào một ngày nhất định, rái cá tụ họp lại, đặt cá lên chỗ cao ráo “đùa giỡn” cho cá chết chứ không ăn.

Tín ngưỡng thờ rái cá có nguồn gốc từ Ninh Bình, quê hương của nhà Đinh, sau được đem vào Trung Bộ và Nam Bộ. Sự tích ở cửa Cờn (xã Quỳnh Phương, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An) kể lại, khi xác của Tống thái hậu và các hoàng phi tấp trôi vào đây thì có 2 con rái cá canh giữ xác, nên sau này được tùng tự (thờ cặp theo) với Đại Càn Tứ vị Thánh Nương, được xem là hai vị tướng quân sát hải vùng Đông Nam. Ở Huế, thần Rái Cá “Đại Càn Quốc Gia Nam Hải Lang Thát Nhị Đại Tướng Quân” có mặt trong hệ thống thủy thần của làng xã bên cạnh: Long Cung Quảng Vận Đại Vương, Đại Càn Quốc Gia Nam Hải Tứ Vị Thánh Nương, Nam Hải Cự Tộc Ngọc Lân tôn thần, Nam Hải Long Vương, Hà Bá thủy quan, Ngọc tuyền, Kim tỉnh chi thần, Thủy Tinh Long Nữ chân tiên, Tô Đại liêu tôn thần (Trần Đại Vinh, Tín ngưỡng dân gian Huế). Xã Phú Hòa xưa (xã Hòa Nhơn, huyện Hòa Vang, Đà Nẵng nay) có sắc phong cho Đông Nam Sát Hải Lang Thát nhị Đại Tướng Quân, cấp ngày 17 tháng 9 năm Minh Mạng thứ 7 (1826).

Ngày xưa trên sông Đồng Nai và khúc sông đi ngang qua Cù lao Phố (TP. Biên Hòa, Đồng Nai) có nhiều rái cá. Con sông Rạch Cát dài hơn 6km nổi tiếng có nhiều cá. Ở miễu Vạn (xã Bình Lợi, huyện Vĩnh Cửu, Đồng Nai) có thờ rái cá. Các bô lão cù lao Rùa hay nhắc đến chuyện rái cá thường di chuyển từ dưới lên vùng trên nhiều đoạn. Thôn Hòa Quới ở Cù lao Phố vẫn còn giữ tục lệ cúng rái cá (Lang Lại) trong văn tế với mỹ hiệu “Đông Nam sát hải Lang Lại Đại Tướng quân chi thần” (Huỳnh Ngọc Trảng, Cù lao Phố - lịch sử và văn hóa). Trước đây ở khu vực Bến Cá (xã Tân Bình, huyện Vĩnh Cửu, Đồng Nai) có rất nhiều rái cá. Năm 1980, ở cù lao Vịt, người ta còn bắt được một con rái cá nặng 10kg, có lẽ là con cuối cùng trong vùng.

Đình Phú Nhuận ngoài đối tượng thờ chính còn phối tự các vị thần sông nước: Đông Nam Sát hải Lang Lại nhị đại tướng quân (rái cá), Chúa Xứ nguyên nhung, và 2 vị thần bảo hộ dân chài là Nhị vị công tử (cậu Chài, cậu Quý), thần Nông, Ngũ Hành, Bạch Mã Thái Giám… Đình Thắng Tam (TP. Vũng Tàu) có bàn thờ Lang Lại. Trên cù lao Long Sơn (Vũng Tàu) cũng lưu hành truyền thuyết về rái cá do nằm gần vịnh Gành Rái.
Rái cá đình Bình Hưng.

Đình Bình Hưng trên cù lao Bạch Đằng (thị xã Tân Uyên, Bình Dương) là nơi duy nhất ở Nam Bộ có tượng thờ rái cá. Đó là pho tượng gỗ, tạc 2 con rái cá rất sinh động, với kích thước khá lớn, đặt trước bàn hữu ban và tả ban.

Trong các văn tế cúng đình ở Nam Bộ đều có nhắc đến vị thần Lang Lại Nhị Đại Tướng Quân như ở đình Bình Hàng Trung (huyện Cao Lãnh, Đồng Tháp), đình Gia Bình (huyện Trảng Bàng, Tây Ninh), đình Nam Chơn (quận 1, TPHCM)…

Ở lăng Ông Vàm Láng (huyện Gò Công Đông, Tiền Giang) trước nay đều cho rằng có sắc phong cho cá Ông, nay đã bị thất lạc, nhưng thực ra đó là sắc phong cho Lang Lại Nhị đại tướng quân chi thần (rái cá) với sắc phong ngày 29/11/1852 (Tự Đức thứ V). Ngoài bàn thờ ông Nam Hải còn có các bàn thờ Tả ban, Hữu ban, Tiên sư, Tiền hiền, Ngũ Hành, Lang Lại Đại tướng quân (rái cá), Bạch Mã tôn thần (ngựa trắng). Truyền thuyết địa phương cho rằng, khi Nguyễn Ánh bị quân Tây Sơn rượt chạy đến vùng đất này, thì xuất hiện bầy rái cá ra xóa dấu chân quân của chúa, để tránh bị truy sát, nên về sau khi lên ngôi, các vua triều Nguyễn đã sắc phong cho rái cá. Đây là lớp truyền thuyết muộn nhằm củng cố chân mạng đế vương của Nguyễn Ánh.

Trong bản văn tế bằng chữ Hán tại lăng Ông ở thị trấn Cần Thạnh (Thạch Phước lạch, huyện Cần Giờ) có nhắc đến danh hiệu của rái cá là “Đông Nam Sát Hải Lang Lại Đại Tướng Quân”.

Một số miếu ở Nam Bộ cũng thờ “Đông Nam Sát Hải Lang Lại Nhị Đại Tướng Quân” như miếu thờ “Đại Càn Nam Hải” phối tự với “Sát Hải Nhị Đại Tướng Quân” (đình Hậu Mỹ, huyện Bình Chánh). Ở vùng Bình Chánh Hạ xưa làm nghề đánh bắt cá nên tất cả các ngôi miếu thờ Ngũ Hành Nương Nương đều tùng tự “Tả Lang Lại – Hữu Lang Lại”, tức “Sát Hải Nhị Đại Tướng Quân” (Võ Thanh Bằng, Tín ngưỡng dân gian ở thành phố Hồ Chí Minh).

Truyện kể dân gian Nam Bộ còn ghi lại những câu chuyện về Nguyễn Ánh liên quan đến rái cá như: “Lúc Nguyễn Ánh chạy trốn vào đất miền Nam phải cùng đoàn tùy tùng vượt biển vào đây” (Gành Rái với bầy rái thần và chuyện vua Gia Long), “hai con rái cá lội qua rạch đón trước mũi thuyền như muốn cản đường” (Cá sấu và rái cá cứu chúa tôi Nguyễn Ánh). Đó là ảnh hưởng từ truyện kể Tục hát Châu phê ở hai thôn Dương Thiệu và Vinh Quang ở miền Trung, mô tả cuộc truy đuổi của quân Tây Sơn với Nguyễn Ánh qua cửa Thị Nại (Qui Nhơn, Bình Định). Chúa Nguyễn Ánh ngửa mặt lên khấn trời thì “có một con rái cá xuất hiện vừa bơi vừa khịt khịt trước mũi thuyền”, để giúp đoàn tùy tùng của Nguyễn Ánh đến ngôi làng ẩn náu (Lê Thị Diệu Hà, Về nhóm truyện “vật linh, điềm lạ” trong truyện dân gian về chúa Nguyễn ở vùng Nam Bộ).

Ở hòn Sơn Rái (xã Lại Sơn, huyện Kiên Hải, Kiên Giang) có câu chuyện kể về chúa Nguyễn Ánh khi lần đầu đến đây (1780), quân lính không còn gì để ăn. Trong đêm chúa nằm mộng thấy một vị thần hiện ra chỉ đường đi tìm lương thực. Sau khi tỉnh giấc, chúa được nhiều con rái cá bắt cá dâng lên và dẫn đường đi lấy nước ngọt, rau củ. Sau đó chúng lại xóa các dấu chân đi trên cát của quân chúa Nguyễn để bảo vệ. Sau khi lên ngôi (1802), vua Gia Long đặt tên hòn này là hòn Sơn Rái để tưởng nhớ công ơn của loài rái cá, phong cho là Lang Lại Nhị Đại Tướng Quân.

Bàu Rái là địa danh ở Thủ Đức (TPHCM), để chỉ vùng đất có rái cá. Sách Gia Định thành thông chí gọi núi Gành Rái (Vũng Tàu) là “Thát Ky sơn” là do ở đầu gành, rái cá thường xuất hiện. Ở đây còn có vịnh Gành Rái, cửa ngõ vào cảng Sài Gòn.
Tục thờ rái cá ở Nam Bộ cho thấy sự giao lưu văn hóa giữa các vùng miền qua dạng thức tín ngưỡng thờ thủy thần của những cư dân làm nghề sông nước và nó được biểu hiện khá sinh động trong đời sống dân gian nơi đây.

NGUYỄN THANH LỢI
(TINH HOA VIỆT)



Chủ Nhật, 21 tháng 7, 2019

Kể chuyện tình nhà thơ triết gia Phạm Công Thiện

[Đọc sách "Chuyện  một người đàn bà năm con" của Lê Khắc Thanh Hoài].

Nhà thơ triết gia Phạm Công Thiện [1941 - 2011] qua đời năm 2011 tại Houston, nhưng chuyện kể, các bài viết về anh đã nhiều lầm lạc. Người viết: anh bỏ áo tu hành lấy cô vợ người Pháp, theo Thiên Chúa Giáo, kẻ khác  viết:  anh không hề có một mảnh bằng kể cả bằng tú tài mà dạy Triết học Viện Đại học Sorbonne, mười lăm tuổi anh đọc và viết hàng chục ngôn ngữ, mười lăm tuổi anh dạy trung học, hai mươi tuổi anh là khoa trưởng khoa Khoa học Nhân văn, Đại học Vạn Hạnh Sài Gòn, anh là triết gia không cần học một ai? Dạy Triết học tại một Đại học Pháp mà không cần một văn bằng nào?
Nhà thơ Phạm Công Thiện

Đâu là sự thật, đâu là huyền thoại?

Được chị Lê Khắc Thanh Hoài tặng cho quyển tiểu thuyết đầu tiên của chị: Chuyện một người đàn bà năm con,  tôi đọc say mê, với lối văn giản dị trong sáng tôi đọc một mạch, tôi không ngờ chị viết hay và hấp dẫn như thế về cuộc đời khổ đau gian truân của chị với một thi nhân, triết gia mà thời niên thiếu tôi đã từng say mê - tác giả Ý thức mới trong văn nghệ và triết học, Phạm Công Thiện.

Sách trang bìa hình tháp Eiffel  Paris, nơi xảy ra câu chuyện và bức chân dung chị Lê Khắc Thanh Hoài  ký tên Phạm Công Thiện vẽ, ngày anh tỏ tình cùng chị, chị không dấu tên người bạn đời. Người đàn bà có năm con cùng triết gia, nhà thơ Phạm Công Thiện (1941-2011) kể lại cuộc đời mình dẫn nhập bằng cuộc đối thoại với cháu ngoại, mừng sinh nhật bà, trao phong bì: một bài thơ bằng tiếng Pháp và  lì xì:  10 Euro cho bà, vì thấy bà ngoại nghèo quá thật là dễ thương, ngộ nghĩnh và cảm động. Từ đó chị kể lại cuộc đời mình qua 13 năm sống chung. Thời gian mà anh sang Pháp năm 1970, từ bỏ áo nhà tu Thích Nguyên Tánh và  sau năm 1985 anh sang Mỹ cư ngụ tại Los Angeles và qua đời tại Houston.

Tuổi học sinh Trung học, tôi say mê khi đọc Phạm Công Thiện, tôi biết về thơ Appolinaire, Rimbaud, Pierre Emmanuel… về các triết gia mới Tây Phương qua anh.

Bây giờ thì tôi viết về anh qua truyện kể của chị Thanh Hoài, nhìn anh qua những vidéo các buổi nói chuyện của anh. Tôi muốn tìm hiểu cuộc đời Hiện tượng Phạm Công Thiện, một thời làm mưa làm gió tại miền Nam những năm 1966-1970. Và dư âm những mưa gió ấy tại Hải ngoại từ 1970 đến năm 2011. Tôi muốn hiểu Phạm Công Thiện là ai? Anh là một thiên tài thần đồng, hay một Trạng Quỳnh của một thời?. Những kiến thức anh lấy từ đâu? Nguyên do gì anh đã mê hoặc cả một thế hệ tuổi trẻ miền Nam trong thời điểm đó. Đâu là sự thật của đời anh, đâu là huyền thoại do anh và mọi người thêu dệt. Những người Phạm Công Thiện quen biết tôi đều có dịp gặp gỡ:  từ chùa Hải Đức Nha Trang, đến Paris, đến Viện Đại học Vạn Hạnh: Họa sĩ Vĩnh Ấn, nhà thơ Thi Vũ Võ Văn Ái, nhà thơ Nhị Tay Ngàn đến Hoà thượng Minh Châu Viện trưởng Viện Đại học Vạn Hạnh, Thiền sư Nhất Hạnh, chị Thanh Hoài người bạn đời từng chung sống với anh 13 năm, và có 5 con với anh.

Chị Thanh Hoài sinh năm 1950 tại Huế, con một vị bác sĩ nổi tiếng tại Huế trong Phong Trào tranh đấu Phật giáo miền Trung, năm 1963 từng bị  tù dưới chế độ Ngô Đình. Năm 1969 chị học Triết học Đông Phương tại Viện Đại học Vạn Hạnh. Năm 1970 chị lên đường sang Bruxelles du học. Gặp và kết hôn với  Phạm Công Thiện tại Paris. Chị Thanh Hoài còn là một nhạc sĩ đàn dương cầm, từng học Trường Quốc gia Âm nhạc Huế, tác giả nhiều CD, và hàng trăm nhạc phẩm.

Trước nhất  Phạm Công Thiện là một nhà thơ: tập Ngày sinh của rắn in năm 1988, có những bài thơ đẹp,  và lạ lùng:

VI: Tôi chấp chới/ đắng giọng/ giữa tháng ngày mơ mộng, nốt ruồi của hương/ hay nốt ruồi của rigvêda/ tôi mửa máu đen/ tôi mửa đêm paris/ tôi giao cấu mặt trời sinh ra mặt trăng/ tôi thủ dâm thượng đế sinh ra loài người/ cho quế hương nằm ở nhà thương điên trí nhớ/ mặt trời có thai/mặt trời có thai/ sinh cho tôi một đứa con trai mù mắt.

VIII: Mười năm qua gió thổi đồi tây/ tôi long đong theo bóng chim gầy/ một sớm em về ru giấc ngủ/bông trời bay trắng cả rừng cây/ gió thổi đồi tây hay đồi đông/ hiu hắt quê hương bến cỏ hồng/trong mơ em vẫn còn bên cửa/ tôi đứng bên đồi mây trổ bông/gió thổi đồi thu qua đồi thông/mùa hạ ly hương nước ngược dòng/tôi đau trong tiếng gà xơ xác/một sớm bông hồng nở cửa đông.

Anh nổi tiếng thần đồng, 15 tuổi đã công tác viết bài cho tạp chí Bách Khoa, một tạp chí nổi tiếng giới trí thức miền Nam thời bấy giờ, anh thông thạo 5, 6 ngoại ngữ, một quyển sách anh được Nguyễn Hiến Lê giới thiệu. Nguyễn Hiến Lê là một học giả tự học viết khoảng 60 quyển sách từ sách: Tự học làm người, Rèn luyện nhân cách, đến Triết Học Trung Hoa. Một kiến thức đáng kính phục. Có lẽ Phạm Công Thiện đã học phương pháp tự học và làm việc của  học giả Nguyễn Hiến Lê. Muốn học một ngôn ngữ, học bằng cách dịch quyển sách mình ưa thích, mỗi ngày đều đặn, chỉnh tề, ngồi vào bàn viết… lúc đầu khó khăn, sau thành thói quen viết dễ dàng nhanh chóng. Tôi hiểu anh không nói ngoa, anh đã viết 20 quyển sách thời niên thiếu và đốt đi. Đó là cách tập luyện viết sách, đọc một quyển sách mình mô phỏng theo, viết một quyển tương tự, ban đầu mình chịu ảnh hưởng nhiều từ từ mình tạo ra một phong cách riêng, tiến đến một sáng tạo hoàn toàn.

Anh giỏi tiếng Pháp. Anh có tài dịch thơ lưu loát và quyến rũ. Anh đọc các triết gia Tây Phương và các Thiền sư Phật giáo và diễn tả lại gọn gàng dễ hiểu. Anh đáp ứng được nhu cầu giới trẻ đương thời đang muốn mở ra tiếp xúc với Tây Phương, nhưng không đủ vốn liếng ngôn ngữ để đọc trực tiếp bằng tiếng Pháp, tiếng Anh. Kiến thức văn chương Tây Phương từ sau cuộc tiếp xúc với Văn chương lãng mạn thời Thơ Mới với Baudelaire, Edgar Poe... các Triết gia Hiện Sinh, hiện đại như thế nào? Anh đáp ứng được một nhu cầu muốn tìm hiểu của đương thời. Thuở còn học sinh Trung học tại Phan Thiết, tôi và anh Nguyễn Bắc Sơn, nhà thơ, thường gặp nhau bàn về những điều Phạm Công Thiện viết. Trong không khí ngột ngạt của chiến tranh Việt Nam, thân phận thanh niên rồi sẽ đi lính, rồi sẽ chết trên chiến trường như bao bạn bè. Trong không khí thành thị miền Nam thời đó, thanh niên cần một lối thoát ra khỏi không gian tù túng, mơ ước một chân trời khác, đọc được Phạm Công Thiện hay Bùi Giáng tên tuổi các triết gia Hy Lạp, triết gia bên Tây tên tuổi nghe mù mờ, có người tóm lược giảng giải nên lấy làm thích thú. Lâu lâu lại khen chữ nghĩa, tâng bốc văn hóa Việt Nam, làm hừng chí tự ti dân tộc. Phạm Công Thiện  nổi danh trên mảnh đất trống tư tưởng đó.

Phạm Công Thiện là một người quyến rũ, có sức thôi miên người đối thoại. Chị Thanh Hoài viết tr.167:

Gặp Chàng là gặp người bằng xương bằng thịt, không phải là người trong văn chương tiểu thuyết. Chàng rất chân thật, không giả dối kệch cởm. Chàng phản ảnh đúng những gì Chàng viết. Thẳng thắn. Táo bạo. Nẩy lửa. Sức hút dữ dội. Quyến rũ lạ lùng. Người đối diện chỉ còn biết buông xuôi và… trôi theo bấp bênh cùng Chàng!

Phải rồi! Bấp bênh và… vô định! Tự dưng nàng linh cảm mãnh liệt điều đó. Đến với chàng là chấp nhận bấp bênh và vô định. Không chờ đợi, không đòi hỏi. Vô điều kiện. Là quăng bỏ quá khứ và tương lai. Là phiêu lưu không cần địa bàn định hướng. Chỉ có một chiếc kim chỉ nam là tấm lòng, là con tim, là sự thành thật. Đó mới là kho tàng vô giá”.

Thời tôi và chị Thanh Hoài đi du học, số nam sinh viên luôn luôn đông hơn nữ, tỷ lệ có thể đến 1/20. Được một cô sinh viên du học xinh đẹp mới qua là có ít nhất hàng tá chàng trai Việt chạy theo. Các gia đình thượng lưu trong xã hội Việt Nam thời bấy giờ, gửi con gái đi du học với niềm hy vọng: nếu nó học không xong cũng hy vọng có được tấm chồng trí thức, bác sĩ, kỹ sư, tương lai bảo đảm. Con gái nếu không thành công, thì có con rể vinh hiển cũng được nơi nương tựa yên ổn. Chị Thanh Hoài đã từ chối bao kỹ sư, bác sĩ đến với chị để nghe tiếng gọi của trái tim yêu một thi sĩ, một triết gia, âu cũng là một sự lựa chọn cho cuộc đời gian truân của chị.

Phạm Công Thiện là ai? anh được đào tạo từ đâu? hay anh là một thiên tài, đã học từ bao nhiêu kiếp trước, nay sinh ra đã trở thành một triết gia không cần học ai?

Theo tiểu sử anh sinh ra từ một gia đình theo đạo Công Giáo, anh theo học một trường tư thục Công giáo dạy bằng tiếng Pháp, anh được cha mẹ mướn người dạy kèm học tại tư gia, nhưng năm 1963, anh ra Nha Trang quen biết với nhà thơ Quách Tấn. Quách Tấn đưa anh đi thăm viếng chùa Hải Đức, nơi đây anh tập thiền và quy y thọ giới Sa Di pháp danh Nguyên Tánh với Thầy Trí Thủ, một vị cao tăng Phật giáo.

Phạm Công Thiện không viết hồi ký nên không rõ anh có bằng Tú Tài  II hay không, nhưng giỏi sinh ngữ như anh việc thi thí sinh tự do, lấy bằng Tú Tài toàn phần không phải là chuyện khó, rất nhiều học sinh học trường Pháp, thi  thí sinh tự do lấy bằng Tú Tài  II Ban Sinh Ngữ Văn Chương trường Việt thật dễ dàng. Học sinh trường Pháp thi  môn Anh Văn, Pháp Văn kỳ thi  Tú Tài Việt được 18, 20 dễ dàng, các môn Triết Học, Sử Địa chỉ cần học một lượt cũng được trung bình là  kỳ thi qua trót lọt.Triết Học lại là môn anh Thiện ưa thích lại quen viết bằng tiếng Việt.  Để có học bổng tại Viện Đại học Yale, để đi du học  Hoa Kỳ khoảng đầu năm 1964, Phạm Công Thiện phải có bằng Tú Tài Toàn Phần hạng Ưu hay Bình.  Phạm Công Thiện xong B.A (Cử nhân) tại Yale, và chuyển sang Columbia, nơi thầy Nhất Hạnh từng học, thì anh bỏ học ra đời.

Trong quyển Hố thẳm tư tưởng, Lá Bối, Sài Gòn xuất bản 1968, trong bức thư cho Nhị Tay Ngàn, chương đầu Phạm Công Thiện viết: Thời gian tao ở Hoa Kỳ, tao đã bỏ học, vì tao thấy những trường đại học tao học, như trường đại học Yale và Columbia, chỉ toàn là những nơi sản xuất những thằng ngu xuẩn, ngay đến những giáo sư của tao chỉ là những thằng ngu xuẩn nhất đời, tao có thể dạy họ nhiều hơn là họ dạy tao. Qua Pháp tao đã sống nghèo đói thế nào, thì mày đã biết rõ rồi, những lúc tao nằm ngủ tại những vỉa hè Paris, vào những đêm đông đói lạnh, những lúc đói khổ như vậy, tao vẫn còn cảm thấy sung sướng hơn là ngồi nghe mấy thằng giáo sư trường đại học Yale hay Columbia giảng cho tao nghe về Aristote hay Hégel, và Heidegger hay Héraclite.

Bây giờ nếu có Phật Thích Ca hay Chúa Giê Su hiện ra đứng giảng trước mặt tao cũng không thèm nghe nữa. Tao là học trò của tao, và chỉ có tao là thầy của tao. Tao không muốn làm thầy ai hết và cũng không muốn ai làm thầy  của tao. Còn các văn sĩ ở Sài Gòn, đọc các bài thơ của các anh, tôi thấy ngay sự nghèo nàn của tâm hồn anh, sự quờ quạng lúng túng, sự lập đi lập lại vô ý thức hay có ý thức, trí thức 15 xu, ái quốc nhân đạo 35 xu, triết lý tôn giáo 45 xu.

Không cần phải đọc Platon, Aristote, Kant, Hégel hay Karl Marx. Không cần phải đọc Khổng Tử, Lão Tử. Không cần phải đọc Upanisads và Bhagavad Gita. Chúng ta chỉ cần đọc lại ngôn ngữ Việt Nam và nội tại tiếng Việt Nam là bổng nhiên nhìn thấy tất cả đạo lý, triết lý cao siêu nhất của nhân loại đã nằm sâu trong ba tiếng Việt đơn sơ như: Con, Cái, Chay, Cháy, Chày, Chảy, Chạy và còn bao nhiêu điều đáng suy nghĩ khác mà chúng ta bỏ quên một cách ngu xuẩn.”

Phạm Công Thiện, sang Pháp, anh ghi danh ở Rennes, Bretagne, ở với người anh đã sang Pháp trước nhưng rồi không thuận với anh, ông lên Paris khoảng năm 1966. Lúc này tại Paris, Thầy Nhất Hạnh lập Hội Phật Tử Việt Kiều Hải Ngoại, chi bộ Pháp do anh Võ Văn Ái làm Tổng Thư Ký, trụ sở tại Maison Alfort, ngoại ô Paris. Phạm Công Thiện thân thiết với anh Ái và cùng ở nơi này.

Năm 1966, Hòa Thượng Minh Châu đến Paris tìm người trợ giúp Viện Đại học Vạn Hạnh. Gặp Phạm Công Thiện, thầy thuyết phục anh làm lễ xuất gia, thọ giới Tỳ Kheo cho  anh, Đại Đức Thích Nguyên Tánh  và đưa anh về Viện Đại học Vạn Hạnh.

Phạm Công Thiện phụ trách Khoa Khoa học Nhân văn; sáng lập tạp chí Tư Tưởng, và soạn chương trình cho Viện Đại học Vạn Hạnh.

Niên khoá  1968-1969; Thanh Hoài học môn Triết Đông với Thầy Nguyên Tánh.

Năm 1970 Thanh Hoài lên đường đi du học tại Bruxelles. Cũng năm này Phạm Công Thiện đi dự một Hội Nghị Phật Giáo cùng Hoà Thượng Minh Châu, anh xin ở lại ghi tên làm luận án Tiến Sĩ. Tại Paris, Thanh Hoài gặp lại Phạm Công Thiện tại nhà họa sĩ Vĩnh Ấn. Thanh Hoài quyết định bỏ Bruxelles sang Pháp chung sống cùng Phạm Công Thiện. Cuộc sống phiêu lưu đầy gian nan, sống với học bổng của anh trong 4 năm.  Sau đó anh xin được một việc làm văn phòng Đại học Toulousse. Nhân có một chân phụ giảng trống anh làm đơn xin việc. Phạm Công Thiện được giáo sư hướng dẫn giới thiệu ‘Sinh viên ưu tú xuất sắc hạng nhất, bốn năm cao học đã hoàn tất‘ (tr 252). Điều này chứng tỏ Phạm Công Thiện đã xong văn bằng tốt nghiệp Ecole Pratique des Hautes Etudes (tương đương với Master) tại Sorbonne, và học xong một năm D. E. A. Diplôme Etudes Approfondies, (theo tổ chức đại học Pháp lúc đó, ngày nay đã đổi thành Master I, Master II và bỏ văn bằng Tiến sĩ  Đệ Tam cấp và Tiến sĩ Quốc Gia, chỉ còn một văn bằng Tiến sĩ  duy nhất).  Anh làm việc này giao kèo gia hạn mỗi năm, chức vụ cuối cùng là Giảng  sư (Maître de Conférence) tại Đại Học Toulousse II... Công việc tạm ổn định, chị Thanh Hoài sinh năm con, bốn cháu trai và một cô gái út, quần quật với bầy con: đưa rước đi học, ăn uống tắm rửa, bếp núp, chị còn làm việc  ráp linh kiện cho hãng máy bay Airbus, nhưng Phạm Công Thiện lại rơi vào vòng nghiện rượu, sống cuộc sống đầy bè bạn quên mất chuyện gia đình.

“Và nơi ngôi biệt thự xinh xắn đó, nơi mà đáng lý ra chỉ có hương hoa và sắc màu của một vị ngọt là hạnh phúc, thì trớ trêu thay, nơi  đây suốt bảy năm trời chỉ mang một vị đắng. Vị đắng của khổ đau. Vị chua chát của rượu… Chàng đã thỏa hiệp với con ma rượu.

Anh không thấy gì hứng thú vì cứ phải lải nhải triết lý để kiếm tiền nuôi vợ con”. “Anh chỉ là chiếc bóng đằng sau bầy con. Điều này cũng làm anh đau khổ. Lải nhải triết lý xong thì anh chỉ còn biết lè nhè”.

“Thì giờ của em dành cho con quá nhiều và em đã bỏ rơi anh... Hay là em... tránh né anh..?

Tránh né anh vì em ghê sợ mùi rượu. Vậy anh hãy ngừng uống rượu..

Đúng là lẫn quẩn không lối thoát!

Bảy năm trời trôi qua trong cái vòng lẩn quẩn không lối thoát đó, nơi cái biệt thự màu hồng đó. Nàng thì vẫn cứ xoay mòng với bầy con năm đứa. Chàng thì cố gắng làm tròn công việc dạy học, cho dù nỗi chán chường mỗi ngày một chồng chất, nhưng bọn sinh viên vẫn ào ào tới càng ngày càng đông hơn, giới trí thức trong tỉnh lần lần nghe tiếng và bạn bè lũ lượt kéo đến càng nhiều hơn. Những buổi trà dư tửu hậu lại tiếp nối nhau. Khói thuốc vẫn mịt mù lan toả. Mùi rượu vẫn nồng nặc xông lên..

Cho đến cái ngày mà giọt nước đã tràn đầy ly thì cái vòng lẩn quẩn đó tự động ngừng quay”.

Một ngày Thanh Hoài bị suyễn nặng, ho vì dị ứng phấn hoa, nhờ anh đi mua thuốc. Anh ra đường  gặp bạn bè rủ đi ăn nhậu, quên mất chuyện thuốc cứu cấp cho vợ, sáng hôm sau mới về mang một hộp trứng, hỏi thuốc, anh quên mất.

“Sáng hôm ấy, vì quá mệt, Nàng đưa toa của bác sĩ nhờ Chàng ghé tiệm thuốc mua giùm Nàng. Mười lăm phút, hai mươi phút, ba mươi phút trôi qua, Nàng ngong ngóng Chàng về đưa thuốc cho đỡ nghẹt thở. Rồi một giờ, hai giờ, ba giờ trôi qua.. vẫn không thấy bóng Chàng. Nửa ngày trôi qua. Một đêm trôi qua. Nàng vẫn ngong ngóng. Nhưng vẫn không thấy bóng chàng đâu. Một đêm đã trôi thật quá dài, quá dài tưởng như bất tận. Không ngủ được vì ho, vì nghẹt thở. Nàng đã trải nghiệm cảm giác thế nào là kề cận cái chết. Nàng không đủ sức để tức giận, vì nàng nghĩ nếu chết trong sự tức tối, chỉ tự mình hại mình, sẽ không được đầu thai tốt, lại còn rơi vào đọa xứ nữa không chừng!  Chi bằng cứ thản nhiên, chấp nhận số phận và thanh thản niệm Phật. Đây là điều cần làm trong lúc này, chẳng phải là sự tức giận!

Nàng nhắm mắt chờ thần chết rước đi. Nhưng không, không được ! Nàng sực tỉnh ! Mà kia mình đã quên mất bầy con, mình chết thì chúng sẽ ra sao đây ? Mình có thể bỏ chúng để ‘ tiêu diêu ‘ nơi phương trời nào đó được chăng ? Từ bỏ cái thân thể bệnh hoạn khổ sở thì mình cũng hết nợ với thế gian này, nhẹ nhàng thanh thản cho mình, nhưng không thể chỉ nghĩ đến mình mà quên bầy con. Không được rồi, không đúng rồi.. Không mình phải sống, phải ngồi dậy, đứng thẳng và không còn nghẹt thở. Mình phải tự bảo vệ mình, không thể buông xuôi ! Mình nhớ đã từng được dạy dỗ ‘ thân người khó được ‘, phải bảo vệ nó cơ mà ! Không sát sanh, không hại vật, nhưng khi nguy cơ đến thì cũng phải biết tự bảo vệ để không mất mạng chứ ! Có thể nào chết dễ dàng như vậy được ? Không, ta phải sống !

Khi trời vừa tờ mờ sáng thì Nàng nghe tiếng cửa mở. Chỉ cần thấy dáng bộ xiêu vẹo, ngả nghiêng của Chàng là nàng thừa hiểu tất cả. Trông Chàng còn thê thảm hơn cả Nàng nữa ! Thôi thì chẳng còn gì để hỏi, để nói, để trách nữa. Chắc chắn là không có thuốc cho Nàng rồi.

Dù gì thì Nàng cũng đã quyết định rằng Nàng phải sống, Nàng phải thở, Nàng phải đứng thẳng dậy và đi tiếp.

Nhưng đoạn đường đi tiếp của Nàng chắc chắn là sẽ không đi cùng Chàng. Không vì tức giận hay oán trách, mà chỉ vì không còn giải pháp nào khác hơn.

Thế là Nàng lặng lẽ sắp đặt cuộc ra đi của Nàng. Rồi đến ngày hôm đó, không báo trước, không nói năng. Nàng âm thầm dắt bầy con ra khỏi ngôi biệt thự màu hồng . »

 Thanh Hoài quyết định chia tay cùng anh, chị thu xếp cùng năm con ra đi. Phạm Công Thiện cũng mất việc đại học vì khế ước không được gia hạn và ghế giảng sư cũng không còn, anh được Hoà Thượng Mãn Giác mời sang dạy tại Viện Quốc Tế Phật Giáo, tai Los Angeles. Anh lại trở về cư ngụ tại chùa, tại nhà bạn bè.

Tại xã hội Pháp nuôi nấng năm con không phải là điều dễ dàng, thường mỗi gia đình chỉ dám có 2,3 con. Thanh Hoài vừa làm mẹ, vừa làm cha, khi dạy đàn dương cầm, khi làm quản gia và các công việc khác, nuôi năm con cho đến khi trưởng thành, thành người :  Cậu trai đầu , tốt nghiệp École Normal Supérieur rue d’Ulm, Tiến sĩ Vật lý , giảng dạy Vật Lý Viện Đại Học Paris  Orsay. Cậu thứ hai Tốt nghiệp Cao Đẳng Thương Mại tại Bordeaux, Giám Đốc  Thương Mại, cậu thứ ba Tốt nghiệp trường Mỹ Thuật tại San José Hoa Kỳ, Họa sĩ, cậu thứ tư  giống bố ở chỗ thích Triết Học  và cô gái út Bác sĩ Nhi Khoa. Chị có đầy đàn cháu nội, cháu ngoại.

Phạm Công Thiện qua đời năm 2011 tại Houston, các con đều sang dự đám tang cha.

« Nhờ âm nhạc, qua âm nhạc, bà luôn luôn đi sát cạnh cuộc đời, ở trong cuộc đời, thăng hoa cuộc đời, biến những nỗi buồn thành niềm vui, những chán chường thành lạc quan yêu đời, cô đơn thành cảm thông chia sẽ. »

Đứa cháu ngoại đã hỏi chị :

-«  Bà ơi ! Bà có giận ông ngoại không ?

-  Bà chẳng hề giận !

- Thực ra, con cũng thấy thương ông ngoại làm sao ấy..

Cháu bà giỏi lắm, các cậu và mẹ con cũng thế, luôn yêu thương ông ngoại, không hề ghét bỏ hay trách móc.

- Mỗi lần gặp lại ông, con chỉ muốn ôm ông hôn và không cần phải nói nhiều.. Con biết ông không hề có ý làm khổ bà, vì chính ông là người khổ trước tiên nếu phải làm khổ ai…. Ông ngoại vẫn luôn bảo tụi con phải yêu thương bà hết mực, vì nhờ bà mà mẹ con, các cậu con nên người. Có  điều.. ông vẫn nghĩ là bà còn giận ông !

- Con có nghĩ như vậy khi bà kể chuyện cho con ?

-  Không, Con nghĩ bà vẫn còn yêu ông ngoại !

 - Thực ư.. Chính bà cũng không biết ! » 

Khép lại trang sách tôi ngẫm nghĩ. Tiếc là sách bằng tiếng Việt, nếu viết bằng tiếng Pháp, các cháu nội, cháu ngoại chị Thanh Hoài đọc được sẽ nghĩ rằng : ông bà mình thiếu thông tin cho nhau. Nếu ông đi đâu, điện thoại cho bà một tiếng, hay nếu có điện thoại di động, bà gọi ông nhắn ông đem thuốc về gấp thì sẽ không có chuyện gì xảy ra. Tiếc thay oan Quan Âm Thị Kính nằm ở chổ, thời ấy chưa có dao cạo râu: Thị Kính phải vác con dao phay to tướng cắt râu cho chồng.  Bà giận ông : vì thời ấy chưa có điện thoại di động. Nếu không bà sẽ điều khiển từ xa, ông chồng triết gia lãng trí hay quên của mình.

Các cháu Việt Nam sinh ra tại Pháp xem xong vở tuồng Quan Âm Thị Kính thường tức tối và hỏi : Où est sa bouche ?. Cái miệng bà Thị Kính ở đâu ? Sao bà không nói ? Sao ông không nói ? Tiếc thay khi ông bà giận nhau các cháu chưa ra đời !

Khép lại đọc trang cuối bìa tập sách là lời Phạm Công Thiện viết khi gặp nhau lần cuối : « Ở nơi chốn hỗn loạn, ở nơi tận cùng của khổ đau và tuyệt vọng mà tiếng nhạc của em vẫn có thể vang lên những âm thanh của dịu dàng đầm thắm, bay bổng cao vút tận chân trời, từ cái điều Không Thể mà vẫn Có Thể. Hãy gọi đó là Giai Điệu Của Cái Điều Không Thể”. 

Khép lại trang sách chuyện kể một cuộc tình, hai cuộc đời không trọn vẹn cùng nhau đến cuối đời. Nhưng lời kể chuyện trong trẻo, thanh thoát khiến cho chúng ta vẫn còn nghe vang lên một dư âm  tiếng đàn dương cầm chị Thanh Hoài.

Xin giới thiệu tiểu thuyết “Chuyện một người đàn bà.. năm con » của Lê Khắc Thanh Hoài do nhà xuất bản Thời Đại xuất bản tại Hà Nội và Sài Gòn cùng đọc giả trong và ngoài nước. Qua câu chuyện một kinh nghiệm sống cuộc đời, chị đã vẽ ra một khung cảnh người Việt trên đất Pháp, nó cần thiết cho các bạn trẻ, cho phụ huynh khi con em lên đường du học. Truyện còn giúp ta hiểu hơn về Phạm Công Thiện một nhà thơ, một triết gia một thời danh tiếng  tại miền Nam Việt Nam.

Paris 23-7-2016
PHẠM TRONG CHÁNH
(VĂN HOÁ NGHỆ AN)


Nhà văn Thùy Dương: Trăn trở với mỗi thân phận Người

Nếu không biết Thùy Dương sinh ra và lớn lên ở Hải Dương, sẽ đoán   chắc nàng là người Hà Nội gốc. Gọi là nàng v ì nàng không chỉ xinh đẹp, ...