Thứ Ba, 12 tháng 3, 2019

Thiên nhiên trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư từ góc nhìn phê bình sinh thái

TÓM TẮT: Theo Cheryll Glotfelty, phê bình sinh thái, nói một cách đơn giản nhất, là nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và môi trường tự nhiên. Nó phản biện lại các lí thuyết khoa học nhân văn lấy “con người làm trung tâm” trước đó, để đề xuất cách nhìn nhận, tiếp cận “trái đất làm trung tâm”. Bài viết của chúng tôi muốn từ tư tưởng cốt lõi đó để “đọc” truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư. Từ góc nhìn này, nhà văn đã đặt ra một cách trực diện những vấn đề môi trường và số phận của con người trong thời đại khủng hoảng môi sinh. Đồng thời tác giả cũng đề xuất một cách lắng nghe tiếng nói từ tự nhiên để tìm cho ra câu trả lời cho những khủng hoảng của con người thời hiện đại và đề xuất một thái độ sống gần gũi tự nhiên để được chia sẻ và thanh thản.
Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư

Thế kỉ XXI là thế kỉ mà nhiều nhà nghiên cứu cho rằng con người phải đối mặt với nhiều nguy cơ sinh thái nhất nhưng đồng thời đây cũng là thế kỉ sẽ nảy nở và phát triển các trào lưu sinh thái. Bởi lẽ, càng ngày con người càng nhận ra cần phải duy trì sự hài hòa, ổn định, cân bằng hệ sinh thái thì sẽ khiến cho nhân loại phát triển bền vững, ổn định. Do vậy, phê bình sinh thái sẽ là một lí thuyết đem lại cho thực tế nghiên cứu văn học những cách tân đáng kể, làm thay đổi toàn bộ hệ tư tưởng đã tồn tại một cách cố hữu trong tư tưởng nhân loại – con người là trung tâm để thay thế cách tiếp cận mới – sinh thái là trung tâm. Phê bình sinh thái xuất hiện ở các nước Âu Mĩ nhưng các học giả đang tìm đến phương Đông, nơi có truyền thống gắn bó hài hòa với tự nhiên nhưng hiện tại lại là khu vực có nhiều nguy cơ sinh thái. Gợi ý từ phê bình sinh thái, chúng tôi nhận thấy ở truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư – một tâm hồn mê đắm tự nhiên, đặt lòng mình vào từng dòng sông, ngọn gió, cánh chim để hiểu linh hồn của tạo vật từ đó rung lên hồi chuông cảnh tỉnh về khủng hoảng sinh thái.

1.       Một cái nhìn sơ lược về phê bình sinh thái

Phê bình sinh thái (ecocritisim) còn được gọi bởi những cái tên khác như “phê bình (văn hóa) xanh” (green (cultural) studies), “thi pháp sinh thái” (ecopoetics) hay “phê bình văn học môi trường” (environmental literary criticism). Tên gọi phê bình sinh thái do Wiliam Rueckert sử dụng vào năm 1978 trong khảo luận “Văn học và sinh thái học: một thử nghiệm mới trong phê bình sinh thái” (Literature and Ecology: An Experiment in Ecocritism). Mục đích của ông là ứng dụng sinh thái học và các thuật ngữ sinh thái học vào nghiên cứu văn học.

Các nhà phê bình sinh thái công bố các tác phẩm vào cuối những năm 1960 và 1970 nhưng phê bình sinh thái chưa trở thành một phong trào thống nhất. Mặc dù vậy, trong thời gian này, công trình của Joseph Mecker là “Bi kịch của sự sống sót” (The Comedy of Survial, 1974) đã đưa ra một vấn đề sau này trở thành cốt yếu của phê bình sinh thái và triết học môi trường: cuộc khủng hoảng môi sinh chủ yếu bắt nguồn từ truyền thống văn hóa phương Tây vốn chia tách văn hóa ra khỏi tự nhiên và dành cho văn hóa thế ưu trội. Thuyết loài người là trung tâm (anthropocentrism) đã tồn tại một cách thâm căn cố đế trong văn hóa phương Tây mà bỏ qua lợi ích của môi trường.

Giữa thập kỉ tám mươi của thế kỉ XX, các học giả cộng tác với nhau xây dựng phê bình sinh thái trở thành một phong trào mạnh mẽ. Người có công phát triển phong trào phê bình sinh thái là Cheryll Glotfelty, đã đồng biên tập với Harold Fromm một tuyển tập cốt yếu các bài viết có tính định hướng quan trọng là “Tuyển tập Phê bình sinh thái: Các mốc quan trọng trong Sinh thái học Văn học” (The Ecocriticism Reader: Landmarks in Literary Ecology, University of Georgia Press, 1996). Năm 1992 bà cũng là nhà sáng lập ra ASLE (the Association for the Study of Literature and Environment) – Hiệp hội Nghiên cứu Văn học và Môi trường. ASLE có một tờ báo riêng là ISLE (Interdisciplinary Studies in Literature and Environment) – Nghiên cứu Liên ngành Văn học và Môi trường, ra đời năm 1993. Nhờ đó phê bình sinh thái đã chính thức trở thành một phong trào nghiên cứu hàn lâm vào đầu thập niên 1980. Cheryll Glotfelty cũng đã đưa ra một định nghĩa giản dị và rõ ràng về phê bình sinh thái “Nói một cách đơn giản, phê bình sinh thái là việc nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và môi trường tự nhiên” [8,18]. Thông qua nghiên cứu văn học để nhìn nhận lại toàn bộ văn hóa của con người. Chính thái độ ngạo mạn của con người đối với tự nhiên đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sinh thái. Phê bình sinh thái đã thay đổi một cách cơ bản cách nhìn nhận, tiếp cận đối tượng, tất cả các phong trào nghiên cứu văn học từ trước đến nay đều lấy con người làm trung tâm, còn phê bình sinh thái lấy sinh thái làm trung tâm.

Để giải quyết vấn đề sinh thái, đòi hỏi con người phải nhìn nhận lại phương thức sống của mình, xem xét lại văn minh, văn hóa của mình để đề xuất và điều chỉnh, đánh giá lại thái độ của mình đối với tự nhiên. Đây là cuộc cách mạng về thế giới quan của con người. Bởi vậy, khi nghiên cứu con người trong mối quan hệ sinh thái, chúng ta thấy rằng con người – bản thân nó là phép tắc của tự nhiên. Sự sống phát triển khi con người được sống hài hòa, thân mật, hợp với tự nhiên.

2. Sự hủy hoại của môi trường sinh thái

Trước tình trạng môi trường toàn cầu ngày một tồi tệ đi, một trong những vấn đề cấp thiết mà phê bình sinh thái đặt ra là cảnh báo về sự hủy hoại tự nhiên, sự biến đổi của môi trường sinh thái. Ứng xử ngỗ ngược của của con người với bà mẹ Trái đất đã gây ra nhiều tai họa. Con người đang phải trả giá rất đắt cho việc chúng ta trở nên tự phụ đến mức quên cả cảm thông với thiên nhiên. Vấn đề thời sự này đã được nhiều tác giả đề cập như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Quang Thiều, Sương Nguyệt Minh… nhưng với Nguyễn Ngọc Tư, điều này được đặt ra một cách bức thiết, trực diện và tha thiết. Tác giả đã phát hiện ra một chân lí thật giản dị mà nghiêm trọng: “Con người trừng trị thiên nhiên bằng cách hạ nhục, hủy hoại nó, còn thiên nhiên trả thù bằng cách: Nó biến mất” [7, 153].

Rất khác với Đoàn Giỏi (Đất rừng phương Nam) chọn một cậu bé thành phố lưu lạc về miền sông nước làm nhân vật chính, lấy con mắt chiêm ngưỡng, lạ lùng, tò mò của người thành phố để nhìn vẻ đẹp sông nước mênh mông, giàu có, hầu hết các nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư sống, lớn lên và vật lộn trên mảnh đất của mình nên đó là cái nhìn của người trong cuộc, đứng trước đổi thay, phai nhạt của quê hương thấy xót xa, đắng đót. Người nông dân hàng ngày đối diện với bờ kênh, con rạch, mảnh ruộng… nên cảm nhận về những tai họa của tự nhiên: đất lở, núi lở, hạn hán, xâm ngập mặn, mùa nước nổi kéo dài… thật cụ thể, chân thực. Nhiều ý kiến cho rằng Nguyễn Ngọc Tư là nhà văn của “miệt vườn” Nam Bộ nhưng kì thực, đọc truyện, thi thoảng lắm mới thấy hình ảnh cây trái xum xuê còn hầu như là sự phai màu của đất, sự biến mất của tự nhiên tươi đẹp, những thảm họa thiên nhiên trút xuống… Cánh đồng bất tận mở ra bằng một bức tranh khô hạn: “mùa hạn hung hãn dường như cũng gom hết nắng đổ xuống nơi này” [5, 155], “trong một mùa hạn nóng bỏng, bất thường” [5, 162], “nắng rất dài” [5, 162], “mùa mưa vẫn còn xa lắm” [5, 162], “nắng võ vàng trên những cánh đồng hoang lạnh” [5, 175], “nắng giữa trưa nóng rát” [5, 178], “nắng như tát lửa” [5, 206]. Hạn hán là thảm họa đối với người nông dân. “13 tháng nắng hạn liên tiếp” [6, 50] tức là “hơn bốn trăm ngày nắng như thiêu như rang” [6, 53] đã xua những đứa trẻ lên thành phố, “hạn hán quá lâu” [6, 44] khiến cho đàn dê của Củi (Sầu trên đỉnh Puvan) chết hết, chỉ còn 1 con. “Nắng quay quắt như vắt như vo con người thành những hòn đá khô khốc có thể lăn cọc cạch” [7, 13], làm cho thậm chí cả nước mắt cũng ráo hoảnh “dường như nước mắt cũng bị cái nắng dai dẳng rút cạn, bay hơi đi” [6, 50].

Là nhà văn của miền sông nước, Nguyễn Ngọc Tư phát hiện ra rằng nước được coi là yếu tố quan trọng nhất cấu thành sự cân bằng sinh thái tự nhiên, thiếu nước là hạn hán nhưng tác giả cũng phát hiện ra nghịch cảnh “dừng chân bên bờ sông lớn mênh mang, mỉa mai, người ở đây lại không có nước để dùng” [5, 162]. Tình cảnh thiếu nước sạch trong Cánh đồng bất tận thật tội nghiệp: “Họ đi mua nước ngọt bằng xuồng chèo, nín thở để nước khỏi sánh ra ngoài… tụt xuống ao tắm táp thứ nước chua lét vì phèn, rồi xối lại đúng hai gàu. Nước vo cơm dùng để rửa rau, nước rửa rau xong dành rửa cá” [5, 162]. Trong bối cảnh chúng ta đang đặt vấn đề về “an ninh nước”, phát hiện này của Nguyễn Ngọc Tư quả đã chạm vào những điều thiết cốt của sinh thái môi trường.

Kiểu tự sự của Nguyễn Ngọc Tư vừa có sức hút của truyền thống với cốt truyện chính bao giờ cũng có vẻ giật gân lại vừa rất hiện đại, cốt truyện luôn bị chìm đi bởi những yếu tố ngoài cốt truyện. Bằng cách đó tác giả làm cho truyện chồng lên nhiều tầng ý nghĩa mà soi chiếu ở góc độ nào cũng bóc tách ra được các vấn đề. Và đôi khi do sự chìm lấp của cốt truyện, những vấn đề đặt ra ngoài cốt truyện ấy hiện lên thật sắc nét. Nước như nước mắt là câu chuyện về người chồng bị người yêu cũ giết chết, người vợ tìm cách trả thù kẻ đã gây ra cái chết của chồng. Nhưng cốt truyện khá gay cấn đó chỉ như là một cái cớ còn hầu hết nó được dệt nên bởi cảm nhận của nhân vật về mùa nước nổi, về sự xâm thực của biển vào đất liền, đẩy người nông dân ngày một lùi xa vào đất “Ngó nước bắt đầu linh đinh bờ bãi, người ở xóm Rẫy thở dài ứ hự, chắc năm sau ăn tết trên ghe” [7, 11]. Cái cảm giác ngoài cốt truyện đó đã giải thích nguyên nhân về cái chết nghe thật bâng quơ và khó tin “Chồng Sáo chết vì mấy lá ngò gai” [7, 8]. Bởi sự thực, sống trong tình cảnh “cứ mỗi năm nước đuổi lại sớm hơn, mùa mỗi năm lại dài hơn (…) nước theo sông ngày càng vào sâu hơn, trên bờ bãi, ngấm vào chân ruộng… đắp tới đâu, nước theo tới đó, cơi nhà tới đâu, nước ngập tới đó” [7, 12], môi trường sống xung quanh ngày một xuống cấp nghiêm trọng: “cây trái tàn rụi, chỉ có cỏ đuôi mèo là sống được” [7, 13], “những con cá nước đục còn sót lại, ốm ròm, trên mình đầy ghẻ lở” [7, 13], cả đôi cá bạc đầu huyền thoại cũng “chạm râu vào nhau khẽ khàng, như âu yếm, như đờ đẫn, như dịu dàng lại như kiệt sức” [7, 9], sức chống chọi với mùa của con người cũng “mệt mỏi và đuối sức như con cá nước đục khắc khoải sống với cái vị mặn mòi xa xót của biển” [7, 14], vì “nước đuổi đã 2 tháng rồi, đến con người cũng phờ phạc đi” [7, 10]. “Khi bị bứng lìa ra khỏi mặt đất” [7, 14], sống trên ghe mọi sinh hoạt bị đảo lộn: chỉ được “tắm khô”, giữa bữa cơm bất chợt thèm ớt, nắng mà không có bóng cây mắc võng nằm, chết cũng phải chờ nước rút thì mới đem âm thổ… thì có lẽ  nguyên nhân cái chết vì thèm rau tưởng như vô lí của chồng Sáo cũng trở nên bình thường “nó diễn ra mỗi ngày, người ta chết đuối, chết vì khát, vì thèm tắm, vì nhớ vị của trái ổi chát, vì giành nhau cành củi trôi sông…” [7, 14] và vì một điều nghiêm trọng hơn nhiều như ông bán xôi dạo thốt lên “thời thế loạn rồi, đất không còn thì thứ gì còn” [7, 15]. Đó cũng là cách tự sự quen thuộc của Sầu trên đỉnh PuvanKhói trời lộng lẫy… Nương theo số phận của nhân vật, Nguyễn Ngọc Tư đặt ra nhiều vấn đề của môi trường và số phận của cá nhân trong chỉnh thể sinh thái. Thế giới tự nhiên có một sự cân bằng tinh tế của các mối quan hệ phức tạp liên hệ lẫn nhau trong đó sự tồn tại của sinh vật này phụ thuộc và sự tồn tại của sinh vật khác. Con người là một phần của hệ sinh thái, cuộc sống của con người phải tùy thuộc vào thế giới tự nhiên ấy. Vậy nên, khi chỉnh thể sinh thái của tạo hóa bị hủy hoại thì sự sống của bản thân con người tất sẽ bị đe dọa cả thể chất lẫn tinh thần: “Thế giới sinh vật là một “dây chuyền sống” cực kì tế nhị và người ta không thể phá hủy một mắt xích trong dây chuyền này mà không bị trừng phạt” [4, 113].

Nếu như ở các tập truyện ngắn viết thời kì đầu (Ngọn đèn không tắt, Giao thừa) chủ yếu xoay xung quanh đề tài tình cảm: những mối tình đầu, tình cha con, tình mẫu tử… thì về sau, lồng trong câu chuyện là vấn đề thời sự: vấn đề môi trường. Tư tưởng này có lẽ thể hiện ngay ở cách đặt tên các tập truyện bằng những hình ảnh gắn liền tự nhiên: Cánh đồng bất tận – thiên nhiên bao giờ cũng mênh mông, trải dài, bất tận, vĩnh cửu; Gió lẻ – lấy cái đơn độc của thiên nhiên để biểu hiện sự cô đơn của con người, Khói trời lộng lẫy – những gì thuộc về tự nhiên đều khoáng đạt, đẹp đẽ, lộng lẫy. Sự suy giảm của môi trường sống đã được Nguyễn Ngọc Tư đặt ra ở Cánh đồng bất tận qua đôi dòng cảm nhận của Nương: “Những cánh đồng trở thành đô thị; những cánh đồng ngoa ngoắt thay đổi vị của nước, từ ngọt sang mặn chát (…), đã hất hủi cây lúa (và gián tiếp từ chối đàn vịt). Đất dưới chân chúng tôi thu hẹp dần” [5, 208], qua cái lắc đầu ngao ngán của Sương trước dòng nước quánh lại vì phèn thì đến tập Khói trời lộng lẫy những nỗi đau môi trường trở thành tư tưởng chủ đạo. Trong truyện ngắn Khói trời lộng lẫy, người đọc nhận ra một tiếng nói khẩn thiết, mãnh liệt về một tấm lòng tha thiết với thiên nhiên, mê đắm với vẻ đẹp của cành hoa ngọn cỏ, đau đớn trước sự mất dần của thiên nhiên tươi đẹp, chua chát trước sự tàn hại của con người. Lắng nghe tiếng kêu cứu từ tự nhiên, những kẻ mê đắm thiên nhiên trong Viện Di sản thiên nhiên và con người đều có “cảm giác mất mát thật rõ ràng” [7, 140] vì “Những vẻ đẹp được nhốt trong phòng lưu giữ của Viện là những tiếng kêu thét tuyệt vọng, bất lực trước mất mát, sự run rẩy của nỗi buồn, bởi quá nhiều thứ ta không bao giờ thấy lại ngoài đời” [7, 135], bởi ở đó là tiếng gọi khẩn thiết về sự biến mất dần của vẻ đẹp tự nhiên, là “sự níu kéo vô vọng của con người” [7, 155]. Di nhận thấy những vẻ đẹp bị nhốt trong Viện là những vẻ đẹp chết, không có sinh sắc của sự sống. Con người đã biến thiên nhiên thành đại công trường, khu công nghiệp, nhà ở, thành phố… “xua đuổi thiên nhiên đi xa” [7, 132], “hạ nhục tự nhiên” [7, 153]can thiệp thô bạo vào vẻ đẹp nguyên sơ của nó. Tư tưởng này còn thể hiện một cách đậm đặc và sắc nhọn trong tạp văn, nơi mà nhà báo Nguyễn Ngọc Tư có thể trình bày trực tiếp nỗi nhức nhối. Cả trong tiểu thuyết Sông, viết về một nhân vật đồng tính chán chường, hoang hoải với cuộc sống đô thị thực hiện dự án về kí sự sông Di và coi đó là cuộc ra đi mãi mãi của mình như những con sông lở – đất đai, địa danh, nhà cửa, con người… bị đứt rời, cắt khúc, mất tích vào khoảng không mênh mông của dòng nước. Khắp các trang viết là nỗi ai hoài trước vẻ đẹp tự nhiên ngày một nhạt phai, phập phồng một nỗi âu lo về những hiểm họa thiên nhiên đe dọa cuộc sống vốn mong manh của người dân cực Nam tổ quốc.

Cách viết này thật khác Sơn Nam trong tập Hương rừng Cà Mau với cảm hứng sử thi về khát vọng chinh phục tự nhiên, sự kiêu hùng của con người trước thiên nhiên; khác với Đoàn Giỏi trong Đất rừng phương Nam là tình yêu thiên nhiên hòa lẫn vào tình yêu đất nước, Nguyễn Ngọc Tư mang tâm thế của con người thời hiện đại bị văn minh dồn đuổi, hoàn toàn mất niềm tin vào con người “không con nào tàn phá gây hại như con người, đi tới đâu thiên nhiên lụn bại tới đó” [7,143]. Tư tưởng này gợi nhớ đến lời của J.J.Rousseau “Tất cả đều tốt đẹp trong bàn tay của tạo hoá bước ra, tất cả đều thoái hoá đi trong bàn tay của con người” [Dẫn theo 1, 135]. Đó cũng là điểm cơ bản mà phê bình sinh thái muốn phản tỉnh. Trước sự khai thác quá mức bởi nhịp độ phát triển ngày một tăng, môi trường đứng trước nguy cơ thảm họa. Để giải quyết khủng hoảng sinh thái con người phải nhìn lại phương thức sống, xem xét lại văn minh văn hóa để đề xuất, đánh giá lại thái độ của mình với Trái Đất. Điều này dẫn đến cuộc cách mạng thế giới quan của con người mà văn học phải tham dự vào như một cách đề nghị, như một lời cảnh báo.

3. Lắng nghe tiếng nói từ tự nhiên

Phê bình sinh thái ảnh hưởng từ tư tưởng sinh thái học bề sâu (Deep ecology), một triết lí sinh thái và môi trường hiện đại tôn trọng sự tồn tại bình đẳng của tạo vật, mọi sinh vật trong hệ thống không có loài nào ở thế ưu trội. Tư tưởng này bác bỏ quan niệm “con người là trung tâm” bám rễ sâu trong văn hóa phương Tây. Từ tư tưởng mang tính cách tân này, chúng ta thấy Nguyễn Ngọc Tư đã đặt ra nhiều vấn đề mà con người hiện đại cần suy ngẫm.

Các nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư thường rất cô độc, mỗi nhân vật bị đẩy vào cô đơn theo những cách khác nhau của dòng đời đầy bất trắc. Không có ai chia sẻ hoặc từ chối chia sẻ với mọi người, họ tìm đến thiên nhiên như một nơi để vơi bớt nỗi trống trải mênh mông trên cõi đời này. Hạn hán đẩy các bạn lên thành phố, Củi (Sầu trên đỉnh Puvan) đặt tên lũ dê bằng tên những người bạn và chia sẻ buồn vui với chúng, thậm chí cả khi lũ dê chết cậu vẫn giữ cái đầu lâu dê bên mình. Ông già trong Cái nhìn khắc khoải chỉ có con Vịt Cộc chuyện trò, tâm sự, giãi bày để đươc an ủi. Mẹ cha ích kỉ, tàn nhẫn chỉ lo kiếm tiền và xua đuổi ông nội – người bạn duy nhất nên cậu bé (Núi lở) suốt ngày chỉ tha thẩn với con nhồng. Nương và Điền lang thang trên khắp các cánh đồng, không bạn bè người thân, chỉ có người cha đầy thù hận nên làm bạn với với gà vịt, chim muông, nương tựa vào tự nhiên mà sống “tự học cách định hướng bằng mặt trời, sao đêm, bằng gió, bằng ngọn cây” [5, 174]… Muông thú là người bạn thân thiết của con người – chúng ta đã nói câu đó đến sờn mòn, thậm chí không còn cảm giác về lời nữa. Thế nhưng, tình cảm của ông Sáu và con bìm bịp trong Biển người mênh mông vẫn khiến chúng ta cảm động.

Dễ nhận thấy, làm bạn với loài vật, lắng nghe tiếng nói của loài vật trong truyện Nguyễn Ngọc Tư hầu hết là những nhân vật người già hoặc trẻ em – những con người gần tự nhiên hơn cả. Chỉ có tâm hồn bao dung “như nước lớn, như đồng khơi” [5, 51] của người già và tâm hồn nguyên sơ thánh thiện của trẻ nhỏ mới cảm nghe được linh hồn của tạo vật. Khi một lần Nương nghe tiếng mấy con vịt cãi nhau cô cảm động mãi trước lời con vịt mù vì ngoài Điền, đó là con vật duy nhất nghe được trái tim của cô: “một con vịt đui khịt mũi, cười, “Nó chớ ai, giọng có khác, nhưng rõ ràng là tiếng trái tim nó. Quen lắm. Chập chờn, thút thít, đòng đưa như sắp rụng…” [5, 196], đến nỗi khi lũ vịt của gia đình Nương bị thiêu hủy, Nương cảm thấy thật mất mát như mất đi một người thân vậy “Tôi tiếc thôi là tiếc sinh linh nhỏ bé đã thấu được tim mình” [5, 198]. Ở đây, chúng ta bắt gặp triết lí sinh thái của Nguyễn Ngọc Tư trong cái nhìn bình đẳng với tạo vật: Động vật cũng có cảm thụ mĩ cảm của nó, biết lắng nghe và đánh thức tâm hồn con người. Hầu hết nhân vật loài vật của Nguyễn Ngọc Tư đều có tâm hồn và tính cách. Đó là chú vịt Cộc cá tính, con bìm bịp nghĩa tình, con vịt mù tinh tế… Thế giới loài vật không phải chỉ là nền cảnh, là cái cớ để con người bộc lộ tâm trạng mà “chúng có sinh mệnh thật sự” như nhà văn Mạc Ngôn từng phát biểu “Khi đó tôi bỗng cảm thấy cỏ cây quanh ḿnh, và cả ḅ dê nữa, đều có thể trò chuyện với con người, chúng chẳng những có sinh mệnh, mà còn có cả tình cảm nữa” [3]. Ông lão chăn vịt gắn bó với con vịt Cộc đến nỗi bạn bè của ông than phiền “Cha nội này sống thấy rầu quá trời đất, mai mốt con vịt xiêm đó chết rồi, để coi ông sống với ai?” [5, 51]. Và con vịt xiêm đó không chỉ quan trọng với ông lão, nó còn quan trọng với cả truyện ngắn Cái nhìn khắc khoải. Nếu thiếu nó truyện sẽ trở nên rất nhạt. Kì thực, đó là một cốt truyện không hấp dẫn nhưng lối viết duyên dáng nhờ thêm vào chú vịt Cộc khiến cho câu chuyện trở nên có hồn. Đây có lẽ cũng là ngụ ý của tác giả khi xây dựng song song hai hình tượng người – vịt. Ngay khi giới thiệu ông lão chăn vịt đồng khơi hình ảnh con Cộc cũng được hình dung cụ thể với thói quen (buổi sáng ùa ra cùng với bầy vịt rồi nghe ông lão gọi thì cọ đầu vào bắp đùi của ông; buổi tối ngủ vùi dưới mé kinh, ông lão kêu lại lạch bạch đi lên), cảm giác (mùi rạ thơm quá, ngọt quá, ngụp mỏ vào thấy sướng người[5, 50]), tính cách (Nó là con vịt chúa gây chuyện… Nó khá cộc cằn, tư lự [5, 51]). Đó là chú vịt có cá tính, thông minh và khá ý nhị. Từ cái cách chú chào đón cô Út “Con vịt ngoắc ngoắc cái đầu lại, ý nói, vịt xiêm chớ vịt gì, thiệt tình” [5, 52], nhận ra sự bối rối của hai người “bữa nay hai ông bà có chuyện gì mà bắt mình ăn thấy bà cố nội” [5, 59] đến cách chú bình luận về tình cảnh khó khăn “Con Cộc điềm đạm lại cái mẻ lúa, nó ăn chậm rãi. Ý nói sao mà tôi tội nghiệp hai người quá đi, làm người mà khổ vậy, làm vịt sướng hơn” [5, 60], cái cách chia sẻ với ông lão “gác đầu lên đùi ông, cọ cọ an ủi” [5, 60] và cái nhìn thấu hiểu, cảm thông “Con Cộc mổ vô ống quyển của ông, rồi nhóng cần cổ dòm ông lom lom, có phải ông chờ bà đó quay lại không?” [5, 61] thật tinh tế, toát lên một thần thái rất duyên dáng. Quả là, loài vật cũng có cảm nhận đời sống riêng theo cách của nó, có một cảm quan đặc biệt, biết lắng nghe và đánh thức phần tâm linh sâu thẳm của con người. Những hành trình cô độc của một con người cô đơn với con vật yêu thương của mình là motip quen thuộc trong văn học bởi vì trong những khoảnh khắc đặc biệt ấy sự nhạy cảm bản năng của loài vật đã đánh thức phần vô thức chìm sâu của con người. Vĩnh biệt Gunxarư của Aitmatốp là một cuộc đi nhuốm đầy màu sắc huyền thoại của một người già nua trên chiếc xe ngựa già nua. Hành trình ấy khơi dậy trong ký ức đã tàn lụi bóng dáng của những ngày xưa cũ kì diệu, mãnh liệt. Phiên chợ Giát (Nguyễn Minh Châu) là dòng nội tâm miên man của lão Khúng chập chờn đan xen hai chiều quá khứ, hiện tại lồng cài trên quãng đường dắt con bò ra chợ Giát. Con bò Khoang đã gợi dậy một thế giới hoang vu, âm u, mờ mịt của cuộc đời nhoè nhoà trong muôn vàn đối lập tương tranh giữa tủi cực, vất vả, cực nhọc nhiều mất mát nhưng cũng đầy yêu thương, gắn bó, xen lẫn giữa tối tăm, mịt mùng và ánh sáng của lão Khúng.

Không chỉ có tâm hồn và tính cách, thế giới loài vật của Nguyễn Ngọc Tư tràn đầy yêu thương, trái ngược lại với thế giới đầy bất trắc, xảo trá, lọc lừa của loài người. Đối với Điền và Nương, “Thế giới của loài vịt mở ra – không ghen tuông, hờn giận, chắc tại cái đầu vịt nhỏ quá nên chỉ đủ cho yêu thương” [5, 195]. “Em” (Gió lẻ) phát hiện ra rằng “không biết trên thế gian này có con chim nào tìm tới cái chết vì tiếng nói của con chim khác? Có con chó nào bỗng dưng đâm đầu vào đá vì tiếng sủa của con chó khác? Có con bò nào nhảy xuống sông tự tử vì tiếng kêu của con bò khác?” [6, 147]. So sánh muông thú với con người, thậm chí thấy con người thật tồi tệ. Hành động trả thù của cha khiến Nương và Điền “xấu hổ vì mình là con người xộc lên mũi sặc sụa” [5, 200] khi đối sánh với hành động đạp mái của bầy vịt “tôi phát hiện ra chúng chẳng bao giờ cưỡng đoạt và gạ gẫm nhau. Khoảng thời gian trước khi con trống trèo lên con mái rất thật, mềm mại, êm đềm… Tuyệt không có gì thô tục (…), trong sự hoan lạc (của những con vịt) đầy ắp thứ gọi là tình – yêu” [5, 200]. Đối với bản thân loài vật, hoạt động tính dục được thực hiện đúng với bản năng thiên bẩm, tự nhiên, hài hòa “có mối liên hệ giữa mĩ cảm với hoạt động tính dục ngay ở loài vật (…) chuyện tính dục được bộc lộ đầy thi vị, mang sắc thái thẩm mĩ” [2, 10]. Còn con người, hoạt động ấy mang trong đó sự ích kỉ, thù hằn, giả dối – đều tuyệt nhiên không có ở loài vật. Đối sánh ấy khiến chúng ta giật mình nhận ra, tình dục của con người không còn mang vẻ đẹp của bản chất tự nhiên nữa mà bị khúc xạ qua thói vị kỉ, xấu xa của con người. Điền đã từ chối sự lớn lên bằng cách tự kìm hãm bản thân vì nghĩ là tình dục là xấu nhưng những chú vịt đã dạy cho Điền biết về vẻ đẹp đích thực. Đó không phải là những gì Điền chứng kến ở con người (hành động nông nổi của má, rắp tâm trả thù của ba, sự nhẹ dạ của những người phụ nữ bị lừa dối…) mà thực sự nên thơ, êm đềm; là hành động chia sẻ tình yêu thương. Loài vật đã dạy cho Điền bài học sơ giản về sự hài hòa của tình dục và tình yêu.

Nguyễn Ngọc Tư đã nhiều lần nhắc chúng ta rằng gắn bó với muông thú, cây lá con người ta sẽ thấy bình tâm, tĩnh lặng bởi bản năng của muông thú là yêu thương. Đó là lí do vì sao các nhân vật khi chán chường, cô đơn, mất niềm tin vào thế giới người đều tìm đến tự nhiên thanh sạch, an lành, bao dung. Chính “cái bản năng chân thật hồn nhiên của muông thú” (Kiệt Tuấn) khiến những nhân vật cô đơn, bầm dập, đau khổ cảm thấy được yêu thương san sẻ “Chị em tôi học cách yêu thương đàn vịt (hi vọng là sẽ không bị đau như yêu thương một con người nào đó)… chơi với người thấy buồn nên chuyển qua chơi cùng vịt” [5, 195]. Đặt con người trong thế đối lập với loài vật khiến cho tác phẩm Nguyễn Ngọc Tư chạm vào nỗi đau sâu thẳm của nhân loại thời hiện đại, khi con người rời bỏ tự nhiên nghĩa là con người đã rời bỏ bản tính thiên nguyên tốt đẹp của mình.

Trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, chúng ta bắt gặp kiểu nhân vật lạc loài, vì những nỗi đau riêng chôn chặt trong lòng không thể chia sẻ. Nỗi đau riêng ấy đánh bật nhân vật ra khỏi đồng loại. Những nhân vật này thường chọn cách giao tiếp với loài vật để vơi bớt đớn đau bởi thế giới muông thú bao dung, không thù hận, ích kỉ và giả dối như thế giới loài người. Nương, Điền (Cánh đồng bất tận), cậu bé (Núi lở) và “Em” (Gió lẻ) tuy có khác nhau ở hoàn cảnh cụ thể nhưng đều giống nhau ở điểm là cảm thấy kinh sợ con người vì sớm chứng kiến sự dối trá trắng trợn của đấng sinh thành. “Em” (Gió lẻ) từ chối tiếng nói con người vì đó là tiếng nói của sự giả dối làm đau nhau: lời của cha gây cái chết kinh hoàng của mẹ, rồi thản nhiên dựng lên một cái chết sai sự thật về mẹ, ông Tám Nhơn Đạo nói dối, chị Băng nói dối và rất nhiều người nữa. Từ chối con người, Em chọn cách làm bạn với loài vật vì “việc nói chuyện với con này con kia làm giấc ngủ trở nên hấp dẫn và dễ chịu” [6, 150], thậm chí, sự giao tiếp với con Cò (tên con chó) còn làm em có cảm giác “ran khắp người” [6, 151] nhưng cảm xúc ấy chết “từ khi nghe lại tiếng người, mùi người” [6, 151] nên lúc bị ông Tám Nhơn Đạo hãm hiếp, em chỉ thấy một nỗi trống rỗng khủng khiếp. Sau này rong ruổi trên chiếc xe tải Landu với Dự và “Gã”, em từ chối tiếng nói của con người “vĩnh viễn nói kiểu của chim” [6, 147], vì “Tiếng nói của con vật không dùng để làm tổn thương nhau” [6, 147]. Bản chất của loài vật là vô tư, hồn nhiên như trẻ nhỏ vì vậy tìm đến loài vật là tìm về với phần bản tính tự nhiên tốt đẹp của con người mà khi lớn lên chúng ta bỏ quên mất: “Khi người ta còn bé, người ta rất hiểu tiếng nói của loài vật: chúng nói cũng rành rọt như cha mẹ nói với ta. Nhưng một khi ta lớn lên thì tính năng đó mất đi” (Nữ thần băng giá – Andersen). Bởi vậy, nói theo tiếng nói của loài vật là cách con người trở về với bản tính thiện của mình, bằng cách đó, thể hiện một thái độ chối từ dứt khoát với sự xảo trá, lọc lừa của thế giới con người. Từ chối nói tiếng người – đó cũng là cách của Nương và Điền: Thằng Điền cười, “ủa, tụi mình hỏng nói tiếng – người” [5, 192]. Thậm chí, đó là kiểu tự vệ của hai đứa trẻ cô độc thiếu tình yêu thương “Đắm đuối với loại ngôn ngữ mới, chúng tôi chấp nhận để cho người ta nhìn mình như kẻ điên (miễn là tạm quên nỗi buồn của cõi – người)” [5, 195] – nỗi buồn của những ước mong rất đỗi giản đơn của một người bình thường – thèm muốn có một ông nội để thương, không dám gắn kết dù với chỉ một cái cây vì dời đi lại thấy lòng đau vì lỡ gắn bó. Ở đây chúng ta bắt gặp triết lí sinh thái trong cách đề xuất của tác giả, không dành cho con người thế ưu trội, Nguyễn Ngọc Tư đã đưa ra một cái nhìn bình đẳng với tự nhiên, chỉ ra cho chúng ta thấy, rằng chúng ta không công bằng với tạo vật. Trong tự nhiên không có gì là xấu, đẹp xấu là do con người áp đặt. Vậy nên phát hiện của các nhân vật thật giản dị, hiển nhiên mà đau đớn vô cùng bởi vì phải từ bỏ thế gới của mình, từ bỏ ngôn ngữ của của đồng loại để đi tìm ngôn ngữ của loài khác thì cô đơn khủng khiếp. Con người trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư đã từ bỏ tư thế kiêu hãnh “kiểu mẫu của muôn loài” để nhận ra sự bất toàn của mình. Tạo hóa sinh ra con người và muôn loài là tốt đẹp và hoàn hảo, chỉ vì con người với những lí trí, dục vọng, ích kỉ… đã làm khuất lấp đi vẻ đẹp tự nhiên ấy. Vì đánh mất bản tính tự nhiên tốt đẹp, con người trở nên khiếm khuyết.

Nếu nhìn bề ngoài có lẽ cách viết của Nguyễn Ngọc Tư không mới, làm bạn với loài vật, lắng nghe tiếng nói từ tự nhiên, nói chuyện với muông thú… là cảm quan từ xưa của người phương Đông, chúng ta cũng gặp các phương thức kể chuyện này đầy rẫy trong truyện cổ dân gian, truyện truyền kì…, xa hơn chính là tư tưởng vạn vật hữu linh nguyên thủy nhưng điểm mới của Nguyễn Ngọc Tư chính là đề xuất ra một cách nhìn. Phê bình sinh thái chỉ ra chính tư tưởng sùng thượng con người một cách thâm căn cố đế trong tư tưởng nhân loại dẫn đến sự khủng hoảng của con người thời hiện đại. Con người phải từ bỏ cái trung tâm luận là chính mình để soi vào vạn vật và nhận ra vẻ đẹp vô tư, không vụ lợi của tự nhiên. Nhận ra bằng con mắt bình đẳng với tạo vật mà bấy lâu nay vì thói tự phụ, con người quên mất: tự nhiên có trước và là chuẩn mực cho vẻ đẹp của con người.

4. Thiên nhiên cứu rỗi tâm hồn con người

Nhiều truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư xuất hiện kiểu nhân vật mê đắm tự nhiên. Khi lặng ngắm tự nhiên, giao hoà cùng thiên nhiên, con người trở nên thanh thản, bay bổng cùng vẻ đẹp của tạo hóa bởi thiên nhiên đã nuôi dưỡng, gìn giữ phần nhân tính tốt đẹp của con người. Vĩnh (Sầu trên đỉnh PuVan) một mình ngược núi ngắm cánh sầu đông nở hoa bằng một thái độ chiêm bái trước tự nhiên huyền bí. Từ chối trở về cuộc sống hàng ngày dưới kia đầy đau đớn, mệt nhọc, chán chường, lựa chọn cái chết thanh thản giữa tự nhiên. Những cách hoa vô tư, dịu hiền, nhân từ, độ lượng, sáng trong đã cứu rỗi tâm hồn mệt mỏi của chàng trai thành phố với trái tim u sầu. Ở đó, Vĩnh trút bỏ được nỗi ưu phiền, nặng nợ trần gian. Bằng (Thềm nắng sau lưng) khao khát được thả mình giao hòa với thiên nhiên, nghe “bìm bịp kêu thâm u trong bờ dừa nước” [7, 94] quên mất lời hứa với má, “thả xuồng trôi dập dềnh trên chùm gọng, đang nói tiếng chim giữa chơi vơi nước lớn” [7, 95]. Phiên (Khói trời lộng lẫy), cậu bé sáu tuổi, “không nhổ cải bán vì tội nghiệp và kết quả là tôi có một giồng bông cải thắp nắng lộng lẫy giữa mùa mưa (…) những con cá mang bụng no tròn sẽ được chúng tôi trả lại cho sông” [7, 158]. Tư tưởng cơ bản của phê bình sinh thái là coi thiên nhiên như một chỉnh thể thống nhất hữu cơ. Con người là một động vật tồn tại và nâng cao trên cơ sở của tự nhiên đó. Con người cần bảo vệ tự nhiên, phá hoại tự nhiên là phá hoại chính mình. Vậy nên tất cả những người làm việc ở Viện Di sản thiên nhiên và con người là những kẻ mê mải với tự nhiên, những nhân vật dấn thân để gìn giữ vẻ đẹp của tạo hóa. Em – Di lúc nào cũng “ăn gấp, thở gấp, ngủ gấp” [7, 135] vì “đi níu kéo những mong manh” [7, 143], Anh – một “kẻ nghiện rừng” [7, 145], Nhứt – “mê đắm những những xóm làng miên man bên bờ sông Ngó Ý” [7, 136], Trúc – “gắn bó duy nhất với vùng đất Thổ Sầu” [7, 154]… Tất cả đều “lắng nghe thiên nhiên nói” để “cất giữ những hoa lau óng chuốt dưới nắng, có đàn cò trắng bay qua trăng chiều, mớ lục bình rách nát trôi ra trước cửa biển (…) dấu mưa xoi khuyết những viên gạch trần, hoa bìm bìm lợp tím rịm cả một chòm cây, vạt rừng bướm bay như trấu vãi…” [7, 129-133]. Thế giới thiên nhiên là nơi phản chiếu tâm hồn, kẻ biết yêu thương cỏ cây muông thú “che chở cho một sinh linh nhỏ bé, yếu ớt” [5, 187] không bao giờ là người tàn nhẫn, do vậy nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư thường rất tình nghĩa dù cho vẻ ngoài có thể ngạo ngược. “Anh” phải chịu sự ràng buộc của các mối quan hệ xã hội, chịu sức ép về tinh thần, hiện lên trước mắt Di trơ khấc, lạnh lùng, kiêu bạc của nhiều mặt nạ – vai Viện phó Viện Di sản thiên nhiên và con người, vai người chồng người cha cả người tình hoàn hảo thì vẫn có lúc mềm lòng rũ bỏ cái áo khoác ngoài lạnh lẽo đó khi khóc cho những cách rừng bị tàn phá “Anh mướn vai tôi để vùi yếu mềm vào đó, cũng có cánh rừng qua đời” [7, 148]. Trước thiên nhiên, con người đã bộc lộ phần nhân tính tốt đẹp, sáng trong không chút vẩn mà đôi khi bị những hệ lụy của đời phủ kín.

Phê bình sinh thái yêu cầu nghệ thuật không được xa rời cội nguồn tự nhiên. Văn học nghệ thuật phải xây dựng lại mối quan hệ hài hòa giữa con người và tự nhiên thì mới có cái đẹp. Từ góc nhìn này soi rọi vào tác phẩm Nguyễn Ngọc Tư để đánh giá sự thành công của tác giả chúng ta thấy quả là những trang viết của Nguyễn Ngọc Tư ám ảnh độc giả phần nhiều có lẽ bởi một không gian lồng lộng gió, mênh mang sông, miên man nắng. Nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư thường gắn với cây cỏ sông nước hồn nhiên. Nỗi nhớ quê hương nguồn cội, nỗi nhớ về những người thân yêu bao giờ cũng được bao bọc bởi thiên nhiên. Thiên nhiên gợi nhắc đến cội nguồn, gốc rễ mà mỗi lần nỗi nhớ trồi lên chỉ có nó mới đem lại nguồn an ủi: “lắng nghe tiếng bịp bịp buồn buồn xa vời vợi trong ánh nắng chiều, Phi nhớ triền dừa nước xanh miết ở trước nhà ngoại mình, nhớ đứt ruột” [5, 105]. Đối với chị em Nương Điền, những cánh đồng đã qua chưa bao giờ là vô danh “Chúng tôi gọi tên bằng những kỉ niệm mà chúng tôi có trên những cánh đồng” [5, 195], cả nỗi nhớ xa xôi về mẹ, về mái nhà êm ấm trước kia cũng mang cảm giác của thiên nhiên “Sao gió ở đây giống hệt gió nhà mình” [5, 178], cả mơ ước nhỏ nhoi, mong manh cũng gắn kết với đất đai, cây trái “Nỗi nhớ bao gồm được chạy chơi trên cái vuông sân mọc đầy vú sữa đất, được tự mình trồng cây gì đó, có trái, và trái ăn được, ăn rất ngon” [5, 187]. Cũng vậy, dòng sông gắn với hình ảnh bất hạnh của những người thân yêu nên dù nghèo khổ, vất vả, lênh đênh, các nhân vật không nỡ rời bỏ. Giang (Nhớ sông) mãi mãi không thể quên được khúc sông nơi người mẹ chết đuối. Cho dù đã lên bờ cô vẫn không nguôi ngoai được sợi dây đã gắn kết sông nước bất diệt với ba cha con, với người sống và người chết: “Sau nầy, khi vợ chết, không hoàn toàn vì miếng ăn mà cả nhà ông Chín trôi dạt hết dòng sông này đến con kinh kia. Ở đáy con sông nào đó, còn là nơi gởi gắm xương thịt của người đàn bà xấu số – má Giang” [5, 115]. Người vợ trước của ba (Dòng nhớ) nguyện chọn kiếp sống lênh đênh trên sông vì đứa con vừa biết bò rơi xuống đó “vía tôi trả lời, mẹ sẽ sống trên sông hoài, hoài hoài với con” [5, 130]. Có lẽ khi trôi theo dòng, chỉ sông nước mênh mang là cứu rỗi được nỗi đau của người mẹ mất con. Ngay cả ba, phũ phàng bỏ lại vợ cùng nỗi mất mát khủng khiếp cũng chưa một phút thôi nhớ cái khúc sông đau đớn của cuộc đời mình “Tựa như ông đang ở đây nhưng tâm hồn ông, trái tim ông, tấm lòng ông chảy tan vào dòng nước tự lâu rồi” [5, 124]. Có những nỗi đau không cất được thành lời mà chỉ có thiên nhiên câm lặng đã chứng kiến mới có thể thấu biết được. Xuyến (Duyên phận so le) từ chối tình cảm của các chàng trai đến với cô, nguyện ở mãi mũi So Le vì tình yêu duy nhất cô đã dành cho bé Bi, đứa con cô lén để ở gốc cây điệp nhà vợ chồng ông giám đốc hiếm muộn. Lúc đau khổ quá “Những khuya, ngủ không được, Xuyến lọ mọ lại khoảng sân đầy lá trước nhà Bi, rờ rẫm chỗ đất cạnh gốc điệp già” [5, 143], cái cây duy nhất chứng kiến đứa con cô đã bỏ lại vì nghèo khó, đơn độc, bị phụ tình không thể nuôi lớn đủ đầy. Những ngổn ngang, rối bời, đứt ruột của người mẹ chỉ cây điệp già thấu biết. Thiên nhiên đã lưu giữ trong nó những kí ức thân thiết của những người thương yêu. Thiên nhiên làm sống dậy kí ức về người thân, làm dịu đi, giúp nguôi quên về những nỗi đau mà vết thương cứ ngoáy mãi. Thiên nhiên vừa là không gian sống vừa là kỉ niệm, là tâm hồn của mỗi nhân vật mà nếu tách họ ra khỏi ðó, con ngýời không còn được là mình nữa.

Thiên nhiên cũng làm thanh lọc tâm hồn con người. Khi soi vào thiên nhiên, con người nhìn nhận lại, tự vấn lại mình. Vậy nên người cha khi không thể giúp con gái câu trả lời: “chuồn chuồn đạp nước là gì?” trong một chương trình trò chơi trên truyền hình, ông đã rất boăn khoăn. Tự nhiên trong dòng đời đua chen vội vã, ganh ghét tị hiềm ông dừng lại suy tư “cha chạy xe về quê. Cha ngồi trong khoảng vườn đượm nắng chiều, nơi cha vẫn thường về khi mệt mỏi hay căng thẳng, tuyệt vọng, nhìn chuồn chuồn đậu trên đám chà trong ao, cào cào búng trên những bụi cỏ ống, mấy con ong ve vãn bông đậu bắp” [6, 25] và nhà văn nhận ra mình đã quên đi gốc gác, quên đi tuổi thơ mê mải cùng thiên nhiên “tụi chuồn chuồn đã chơi với mình suốt một tuổi thơ sao không đẻ cho mình thấy, hay mình từng thấy nhưng cuộc sống thành thị khiến mình quên đi (…) có quá nhiều chuyện nhân tình thế thái mà cha không quên, có nhiều thằng cha xỏ lá cà khịa đâm sau lưng cha, đáng lẽ nên quên… để đời nhẹ nhõm” [6, 25]. Thiên nhiên khiến ông trở nên boăn khoăn, ray rứt về tâm hồn trong trẻo ấu thơ đã mất mát với thị thành, với nhân thế. Thiên nhiên giúp con người nhìn lại mình, dừng lại lắng nghe tiếng nói từ tự nhiên để hiểu chính mình, tự suy xét để sống thanh thản nếu không sẽ đánh mất bản thân trong những đua chen vội vã của cõi người.

Tự muôn đời, thiên nhiên luôn là nguồn an ủi. Mỗi khi thấy lòng đau, lại tìm về tự nhiên như một bến bờ tĩnh lặng để nguôi quên. Thiên nhiên là người bạn lớn vĩnh hằng của con người mà ở đó, những muộn phiền, day dứt, đau đớn của con người vợi bớt. Thấu biết được nỗi chán chường cuộc sống ồn ào quanh mình, chỉ có tự nhiên vĩnh cửu không lời là vĩnh viễn. Ngày nay, chủ nghĩa nhân văn mới do phê bình sinh thái đề xuất không tách rời thiên nhiên và văn hóa mà nối lại mạch sống ngàn đời của con người với tự nhiên, coi con người là một phần cộng sinh của tạo hóa.

Văn học Việt Nam sau năm 1975 mải mê với hiện thực cõi nhân sinh với những đề tài thời sự: phơi bày những mặt trái của hiện thực, phê phán xã hội, tính dục… khiến cho tinh thần sinh thái văn học có nguy cơ xuống dốc. Dường như “ít có bóng cây cỏ trên đường đi của lũ nhân vật” (Cây Hà Nội – Nguyễn Tuân). Con người đã bỏ rơi thiên nhiên. Sự thiếu vắng tự nhiên khiến cho môi trường văn học trở nên khô khan, ngột ngạt bởi những toan tính, lọc lừa, xảo trá của đời sống cuống quýt, vội vã. Nghệ thuật phải thông qua miêu tả mối quan hệ giữa con người và tự nhiên để tạo nên sức hút, sức sống. Vậy nên, những truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư đã làm “xanh” một khoảng không gian văn học, từ đó đề xuất cho chúng ta nhiều vấn đề trước Mẹ Trái Đất và giúp chúng ta nhận ra khi loài người càng trưởng thành càng phải nhận ra mình đã phụ phàng với nơi mà con người lớn lên, gắn bó và đặt hi vọng ở đó.

TRẦN THỊ ÁNH NGUYỆT
Nguồn: Phê bình văn học

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Lê Nguyên Cẩn, “Cách nhìn nhận thế giới tự nhiên của Lão Tử và J.J. Rousseu”, Đạo gia và văn hóa, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội (2000).
2. Phương Lựu, “Tản mạn về văn nghệ với tính dục”, tạp chí Văn học, số 3 [10-17] (1996).
3. “Văn học phải làm cho con người tin nhau hơn (Đối thoại đầu năm giữa Oe Kenzaburo với Mạc Ngôn), Báo Văn nghệ, Số 12 (23/03/2002).
4. Jacques Vernier (2002), Môi trường sinh thái, Trương Thị Chí, Trần Chí Đạo dịch, Nxb Thế giới, Hà Nội.
5. Nguyễn Ngọc Tư, Cánh đồng bất tận, Nxb Trẻ, TP. Hồ Chí Minh (2010).
6. Nguyễn Ngọc Tư, Gió lẻ và 9 câu chuyện khác, Nxb Trẻ, TP. Hồ Chí Minh (2009).
7. Nguyễn Ngọc Tư, Khói trời lộng lẫy, Nxb Thời đại, TP. Hồ Chí Minh (2010).
8. Cheryll Glotfelty“Introduction: Literary Studies in an Age of Enviromental Crisis”, The Ecocriticism Reader: Landmarks in Literary Ecology, University of Georgia Press (1996).
9. Nguyên văn định nghĩa là “Simply put, ecocritisim is the study of the relationship between literature and the physical environment”.


TIN LIÊN QUAN:




Thứ Sáu, 8 tháng 3, 2019

Đi tìm tiếng nói chung trong phê bình sinh thái

Để các nhà văn, tác giả quan tâm hơn đến phê bình sinh thái, bắt kịp xu hướng, trào lưu chung của thế giới, Tiến sĩ Tịnh Thy cho rằng các hiệp hội như Hội Nhà văn Việt Nam chẳng hạn, có thể tổ chức các cuộc thi, giải thưởng sáng tác về văn học sinh thái…

Hội thảo về sinh thái trong văn học Đông Nam Á là sự đánh động giới nghiên cứu trong việc tìm tiếng nói chung với khuynh hướng của khu vực và thế giới.

Hội thảo khoa học quốc tế “Sinh thái học trong văn học Đông Nam Á: Lịch sử, Huyền thoại và Xã hội” diễn ra tại Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐH KHXH&NV), Hà Nội đầu năm 2018. Cùng hội thảo quốc tế về phê bình sinh thái do Viện Văn học tổ chức cách đây không lâu, các nghiên cứu của giới học thuật… phê bình sinh thái của Việt Nam đang dần bắt kịp khuynh hướng chung của thế giới.
Ba cuốn sách về phê bình sinh thái đã xuất bản tại Việt Nam.

Phê bình sinh thái - trào lưu nghiên cứu của thế giới

Vấn đề môi trường, vì sự tồn tại, phát triển bền vững chưa bao giờ trở nên nhức nhối như hiện nay. Từ những năm 1960-1970, thế giới đã có rất nhiều tác phẩm về vấn đề sinh thái. Nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu thuộc nhiều lĩnh vực thời bấy giờ (nhân chủng học, tâm lý học, triết học, tôn giáo học…) đã đưa ra quan điểm về quan hệ giữa con người và tự nhiên. Tuy nhiên giới phê bình văn học được cho là “phản ứng chậm” với đề tài thời sự này.

Đến những năm 1990, các hoạt động hội thảo, nghiên cứu vấn đề hoạt động văn chương và môi trường được tổ chức. Từ Mỹ, các hội thảo, nghiên cứu này lan rộng ra khắp các châu lục, khiến phê bình sinh thái trở thành trào lưu trong giới học thuật.

Phê bình sinh thái trong văn học được định nghĩa trong một bài viết có tên Phê bình sinh thái của tác giả Vương Nặc: “Văn học sinh thái là loại văn học lấy chủ nghĩa chỉnh thể sinh thái làm cơ sở tư tưởng, lấy lợi ích chỉnh thể của hệ thống sinh thái làm giá trị cao nhất để khảo sát và biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và truy tìm nguồn gốc xã hội của nguy cơ sinh thái”.

Xu hướng toàn cầu hóa khiến phê bình sinh thái nhanh chóng lan truyền khắp thế giới. Khu vực Đông Nam Á và Việt Nam đã bắt đầu làm quen với các khái niệm như phê bình sinh thái, sáng tác tự nhiên, văn học sinh thái, phê bình xanh, ngôn ngữ xanh…

Sáng tác, nghiên cứu sinh thái tại Việt Nam đang khởi động

Theo Tiến sĩ Tịnh Thy (Đại học Sư phạm Huế), tại Việt Nam, phê bình sinh thái thuộc chuyên ngành văn học đã được quan tâm, còn “đã quan tâm đúng mức hay chưa” thì bản thân Tiến sĩ chưa đưa ra câu trả lời thỏa đáng. Tuy nhiên, theo trào lưu chung, trong sáng tác và phê bình, vấn đề sinh thái đang được chú ý.

Điều này được thể hiện ở việc các hội thảo, đề tài nghiên cứu khoa học liên tục được tổ chức. Cuối năm 2017, Viện Văn học tổ chức một hội thảo quốc tế tại Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội về vấn đề phê bình sinh thái. Hội thảo này thu hút nhiều học giả khắp thế giới và các nhà nghiên cứu tham gia.

Hơn một tháng sau, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn tiếp tục tổ chức hội thảo mang tầm quốc tế trong hai ngày 26 và 27/1 về đề tài phê bình sinh thái khu vực Đông Nam Á. Khoảng 20 nhà nghiên cứu từ các nước Đông Nam Á cùng 60 nhà khoa học, phê bình Việt Nam tề tựu, thảo luận về các vấn đề phê bình sinh thái trong khu vực Đông Nam Á.

Trong giới nghiên cứu, hiện nay có một đề tài nghiên cứu thạc sĩ về phê bình sinh thái đã hoàn thành với tựa đề “Văn xuôi Nam Bộ từ góc nhìn sinh thái”; một số đề tài phê bình sinh thái khác cũng đang được thực hiện.

Với độc giả quan tâm tới vấn đề này, có ba cuốn sách về phê bình sinh thái đã được xuất bản tiếng Việt, gồm: Rừng khô suối cạn, biển độc và văn chương (tác giả Nguyễn Thị Tịnh Thy), Con người và tự nhiên trong văn xuôi Việt Nam sau 1975 (Trần Ánh Nguyệt và Lê Lưu Oanh) và cuốn Phê bình sinh thái là gì? do Viện Văn học chủ trì dịch, Hoàng Tố Mai chủ biên.

Tiến sĩ Tịnh Thy cho rằng Việt Nam đang trong quá trình khởi động nghiên cứu sinh thái, chúng ta đi chậm so với thế giới 20 năm.

Hiện nay, có một số quan niệm về phê bình sinh thái chưa đúng, có đôi chỗ nhầm lẫn về phê bình sinh thái. Nhiều người cho rằng, các nhà văn viết tác phẩm có yếu tố tự nhiên, thì đó là sinh thái. Đó là một sự nhầm lẫn.

Từ xưa tới nay, yếu tố tự nhiên luôn đi liền với văn chương nghệ thuật. Tác phẩm văn học sinh thái phải ra đời với tư tưởng sinh thái chỉnh thể của người viết. Cái đó ở Việt Nam rất ít người sáng tác như vậy.

Theo quan sát của Tịnh Thy, hiện nay có nhà văn Trần Duy Phiên viết về Tây Nguyên, trong chuỗi sáng tác của ông, tư tưởng sinh thái rất rõ, còn với một số tác giả khác, tác phẩm chỉ là một vài biểu hiện của tư tưởng sinh thái. Các nhà văn như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Ngọc Tư cũng có một vài quan điểm sinh thái trong tác phẩm, gửi gắm qua nhân vật.

Cần những nghiên cứu, hội thảo, và giải thưởng văn chương về sinh thái

Để các nhà văn, tác giả quan tâm hơn đến phê bình sinh thái, bắt kịp xu hướng, trào lưu chung của thế giới, Tiến sĩ Tịnh Thy cho rằng các hiệp hội như Hội Nhà văn Việt Nam chẳng hạn, có thể tổ chức các cuộc thi, giải thưởng sáng tác về văn học sinh thái.

Tổ chức hội thảo như cách Viện Văn học và Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã làm cũng là cách để khơi mở những hướng nghiên cứu, hướng tiếp cận của các nhà văn, nhà phê bình.

Tham dự chương trình về phê bình sinh thái tại Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, bà Chitra Sankaran - Chủ tịch Hội Nghiên cứu Văn học và Sinh thái Đông Nam Á - chia sẻ, Hội cũng tổ chức các buổi hội thảo như ở Đại học Quốc gia Singapore, hay ở Việt Nam.

Các buổi hội thảo này không chỉ là diễn đàn đưa ra tiếng nói, tranh luận của các nhà nghiên cứu, mà còn là vòng kết nối những nhà nghiên cứu cùng chung mối quan tâm tới một vấn đề trong khu vực.

Chủ tịch Hội nghiên cứu Văn học và Sinh thái Đông Nam Á đánh giá cao hội thảo trong hai ngày tại Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, bà cho rằng công tác chuẩn bị chu đáo, đặc biệt trong tài liệu không chỉ in các tham luận của các diễn giả tham gia hội thảo, mà còn có nghiên cứu của các nhà khoa học đến từ các nước ngoài Đông Nam Á. Bà Chitra Sankaran đánh giá cao chất lượng các tham luận tại hội thảo, và cho biết sẽ công bố những tham luận này trên một tạp chí về nghiên cứu văn học sinh thái.

Theo PGS.TS. Phạm Xuân Thạch - Trưởng khoa Văn học, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, việc nghiên cứu, tổ chức các hội thảo về phê bình sinh thái không chỉ giúp học thuật nước ta tiệm cận với khuynh hướng chung của thế giới, mà còn là một sự thúc đẩy giới sáng tác, nghiên cứu về vấn đề môi trường, qua đó “đánh động” tới ý thức bảo vệ môi trường trong xã hội nói chung.

Ông cho rằng sinh thái đang là câu chuyện toàn cầu. Con người cần nhận diện được phương thức chúng tồn tại và ứng xử với hệ thống môi trường. Để hình thành nên ứng xử hợp lý với môi trường thiên nhiên, cần phải có những lý giải sâu hơn từ trong chiều sâu văn hóa. Những tiếp cận liên ngành từ góc độ văn học là tiếp cận rất cần thiết.

Nhu cầu quốc tế hóa trong giới nghiên cứu buộc các nhà khoa học phải có sự tiếp xúc với nước ngoài. Chính nhu cầu quốc tế hóa đó khiến giới nghiên cứu, hoạt động sáng tác, giảng dạy văn chương cần tìm tiếng nói chung trong vấn đề lớn lao như môi trường, sinh thái.

THU HIỀN
Nguồn: Zing



Thứ Năm, 7 tháng 3, 2019

Những tương lai của phê bình sinh thái và văn học - Kỳ 2

Như tôi có thảo luận trong cuốn sách của mình Ecoambiguity: Environmental Crises and  East Asian Literatures (2012), khái niệm mơ hồ sinh thái (ecoambiguity) – những tương tác phức tạp, đầy mâu thuẫn giữa con người và thế giới tự nhiên – đã cung cấp những khả năng mới, thú vị từ góc nhìn này. Các nhà phê bình sinh thái vẫn chưa có sự chú ý nhiều đến những sự mơ hồ phức tạp mà chúng ta phải gặp phải trong quá trình đối mặt với những vấn đề gây tranh cãi được phát sinh từ sự biến đổi và xuống cấp của hệ sinh thái và những mà thơ văn đã làm nổi bật sự thiếu vắng của những câu trả lời giản đơn, sự khan hiếm của những giải pháp dễ dàng đối với những vấn đề môi trường.

Mọi hành vi của con người đều làm biến đổi môi trường. Một vài biến đổi rất hữu hình và dễ giải thích, một vài biến đổi khác tuy nhìn thấy ngay được nhưng lại bị phớt lờ, bị khước từ, một số chỉ hiển hiện sau những khai quật khảo cổ hay những nghiên cứu khoa học, một số khác thì được coi là những giả thuyết trong khi vô số thứ khác vẫn còn không được biết đến. Mô tả những biến đổi xảy ra đối với môi trường từ lâu đã là một thách thức: thường phải cần đến những khái niệm mới, những thuật ngữ mới. Xác định đúng các tác nhân gây ra biến đổi cũng không dễ dàng hơn. Ngay cả những thủ phạm hiển hiện nhất cũng có thể được bao bọc trong những mạng lưới của của những kẻ chối tội (disclaimers). Tương tự, dự đoán chính xác sự thay đổi lúc nào cũng là việc khó khăn. Điều này thường là vì cái vô nhân (nonhuman) hiện ra hay được tưởng tượng như là một thứ vô tận, những dấu hiệu của tình trạng sắp rỗng kiệt dễ dàng bị thờ ơ hoặc không dễ thấy. Phức tạp hơn nữa là đánh giá thế nào là biến đổi, dù là trong quá khứ, ở hiện tại hay tương lai: biến đổi nào có thể được hiểu như là sự phá hại, sự phá hại nào có thể được bỏ qua, thậm chí nên khuyến khích? Simon Estok đã miêu tả những biến đổi của các hệ sinh thái chịu tác động từ con người như là những hiện tượng phần lớn bắt nguồn từ chứng “sợ sinh thái” (ecophobia), được hiểu như “một nỗi sợ hãi hay căm ghét thế giới tự nhiên vô cớ, phi lý, giống như những chứng sợ hãi/thù ghét vẫn đang hiện hữu rất tinh vi trong đời sống thường nhật cũng như trong văn chương chúng ta như thù ghét người đồng tính (homophobia), phân biệt chủng tộc và giới tính” (Ecocriticism and Shakespeare 4). Chứng sợ môi trường này, Estok viết, thường xuyên “thắng” những thứ được mặc định như là đối lập với nó: “biophilia”, được hiểu như là “sự gắn bó bẩm sinh về mặt cảm xúc giữa con người và các hệ thống hữu cơ”, và hơn thế, “ecophilia”, tình yêu thiên nhiên (“Lý thuyết hóa trong một không gian” 219). Chắc chắn, chính chứng “sợ sinh thái” này có thể giải thích khá nhiều cho ham muốn của con người xuyên suốt lịch sử là kiểm soát, chế ngự được (nhiều phần của) môi trường thiên nhiên và sự can dự của con người vào những vụ tàn phá thiên nhiên ở quy mô rất lớn như chặt phá rừng trên diện rộng và tiêu diệt các loài thú. Tương tự, “ecophilia” dường như lại thúc đẩy sự nâng niu, bảo vệ thiên nhiên cũng như sự điều hòa lại môi trường, bảo tồn nó và trên thực tế, chính nó đã khơi gợi cảm hứng cho bản thân lĩnh vực phê bình sinh thái.

Song như cụm từ mòn sáo “yêu thiên nhiên đến chết” cho thấy, những biến đổi môi trường không nhất thiết là những dấu hiệu dẫn đến nỗi sợ sinh thái hay sự sủng ái sinh thái tuyệt đối. Một định kiến chống lại yếu tố vô nhân giữ con người bên trong một căn hộ thành phố, tương đối tách lìa với tự nhiên chắc chắn sẽ điều chỉnh, biến đổi yếu tố vô nhân trong môi trường ít trực tiếp hơn và ít đáng kể hơn so với một thứ tình yêu thiên nhiên hối thúc người ta lái xe hàng giờ hay đi bộ đường dài hay đi ca – nô. Và ngay cả khi những biến đổi này được thúc đẩy chủ yếu bởi chứng sợ sinh thái hay say mê sinh thái thì tự thân chúng cũng thường dễ được đánh giá hơn. Những sự mơ hồ, không xác định này tràn vào những mối quan hệ và những cách diễn giải về mối quan hệ giữa con người và môi trường cho thấy sự mơ hồ sinh thái có thể còn nổi bật hơn là chỉ riêng nỗi sợ hãi sinh thái hay niềm say mê sinh thái không thôi.

Diễn ngôn văn chương thường xuyên lợi dụng sự mơ hồ sinh thái. Việc văn chương rất thường khi công nhiên bất tuân logic, sự chính xác, nhất quán cho phép nó luôn có khả năng phát hiện một cách sắc sảo những sự mơ hồ nói chung, và những sự mơ hồ bắt nguồn từ những tương tác giữa con người với các hệ sinh thái nói riêng. Đặc biệt hơn, tính đa trị (mutivalence) thuộc về bản chất của văn học cho phép nó làm nổi bật và thương thỏa (negotiate) được với sự mơ hồ vốn từ lâu đã bao trùm những mối tương tác giữa con người và môi trường, bao gồm cả những tương tác liên quan đến những tàn phá mà con người gây ra cho các hệ sinh thái. Sự mơ hồ ở đây xuất hiện chủ yếu không phải như một giá trị đạo đức hay thẩm mỹ mà như là triệu chứng của sự bất định thuộc bình diện nhận thức luận, được giải thích vừa cảm tính, vừa chính xác như một sự khuyết hụt ý thức và/hoặc như một thú nhận ngầm về sự bất lực của nhà văn và các nhân vật văn học.

Sự mơ hồ về môi trường tự biểu hiện ra theo nhiều cách đan bện với nhau, bao gồm cả những thái độ nước đôi đối với thiên nhiên; sự nhập nhằng trong nhận thức về điều kiện thực sự của yếu tố vô nhân trong môi trường, thường là hệ quả từ thông tin mơ hồ; những hành vi mâu thuẫn của con người đối với các hệ sinh thái; những chia rẽ, bất đồng trong thái độ, điều kiện và hành vi dẫn đến việc giảm nhẹ hoặc phó mặc vấn đề về sự xuống cấp của môi trường vô nhân một cách chủ động, cũng như việc làm hại, dù không chủ ý, chính những môi trường mà con người đang bảo vệ. Nghiên cứu của tôi trên hàng trăm tác phẩm văn chương thuộc nhiều nền văn hóa khác nhau cho thấy những hình thức bị chồng chéo lên nhau của sự mơ hồ sinh thái có thể được xem là đặc điểm cơ bản của những văn bản nghệ thuật bàn về mối quan hệ giữa con người và thế giới vô nhân. Thú vị hơn cả là cách mà những văn bản này diễn đạt những sự hoán vị và ngụ ý về những sự bất đồng, chia rẽ theo trục dọc thời gian và trục ngang không gian vật lý và xã hội – nói khác đi, là cách chúng thương thỏa với những sự mơ hồ trong cái gọi là chủ nghĩa quốc tế sinh thái (ecocosmopolitanism).

Phần lớn văn chương chú ý đến những mối nguy hại đối với các hệ sinh thái, trong đó có nhiều văn bản được khảo sát trong tuyển tập này, đều mang tinh thần thế giới về môi trường, hoặc trực tiếp hay gián tiếp đề cập đến sự thoái hóa của môi trường sinh thái vượt khỏi một thời gian hay nơi chốn đơn nhất. Việc phân tích cách các văn bản này tự đặt mình trực diện với những mối bận tâm về môi trường thuộc nhiều kiểu và nhiều phạm vi khác nhau, cách chúng cùng lúc vừa mở ra vừa đóng lại trước thế giới rộng lớn hơn có thể có những đóng góp quan trọng cho nhận thức của chúng ta về mối quan hệ giữa cái địa phương, cái vùng miền và cái toàn cầu.

Patrick Hayden đã nói về “công dân môi trường toàn cầu”:

“Công dân môi trường toàn cầu có thể được xem như một thành tố của một quan niệm bao trùm hơn mang tinh thần thế giới về công dân toàn cầu… Ý niệm công dân môi trường toàn cầu nảy sinh từ mối quan tâm đạo đức về những vấn đề xã hội, chính trị, kinh tế gắn với môi trường và sự phụ thuộc của nhân tính vào nó; ý niệm này cũng hình thành từ một nhận thức về những trách nhiệm toàn cầu của chúng ta về điều kiện sống của con người vì mối liên kết của nhân tính với môi trường. Do đó, công dân môi trường toàn cầu quan tâm đến những điều tốt chung cho cộng đồng nhân loại và có những sự nhấn mạnh cụ thể vào thực tế tất cả chúng ta đều là các công dân vừa thuộc về những môi trường địa phương đồng thời vừa thuộc về một môi trường toàn cầu duy nhất.” (147)

Tương tự, Ursula Heise đã đặt ra thuật ngữ “chủ nghĩa thế giới sinh thái” (ecocosmopolitan) như là:
“Một nỗ lực nhằm hình dung các cá nhân và nhóm như là bộ phận của những “cộng đồng tưởng tượng” trên hành tinh của cả con người và các thành phần vô nhân… Phê bình sinh thái mới chỉ bắt đầu khám phá những phương tiện văn hóa mà nhờ đó những mối ràng buộc đối với thế giới tự nhiên được tạo ra và duy trì và cách mà sự hình dung về những mối ràng buộc này thúc đẩy hay cản trở những hình thức can dự mang tính vùng miền, quốc gia, xuyên quốc gia như thế nào… Mục đích của một dự phóng phê bình mang tinh thần “chủ nghĩa thế giới sinh thái”… là điều tra những phương tiện nào mà các cá nhân, các nhóm trong những ngữ cảnh văn hóa cụ thể nhờ đó có thể hình dung được chính bản thân họ trong hình thức cụ thể tương ứng như là bộ phận của khối sinh quyển toàn cầu, hay nhờ phương tiện nào mà họ có thể làm được như vậy” (Sense of Place, 61-2).

Cách sử dụng thuật ngữ “chủ nghĩa thế giới sinh thái” của tôi có phần giống với  thuật ngữ của Heise, có sự kế thừa cả quan niệm của Hayden về công dân môi trường sinh thái nhưng tôi lại chú ý đến những hình dung của con người về những mối ràng buộc và sự can dự vào thế giới tự nhiên ít hơn là tình trạng của bản thân thế giới tự nhiên, đặc biệt là những phạm vi của sự tàn phá môi trường mà một văn bản có thể nắm bắt, thể hiện được một cách vừa trực tiếp vừa hàm ẩn.

Những nguyên nhân và hình thái của sự xuống cấp sinh thái được thể hiện trong các tác phẩm văn chương hết sức đa dạng: phạm vi các giống loài chịu ảnh hưởng, gồm cả sự hiện hữu hoặc vắng mặt những nỗi đau khổ cao quý của con người; dung lượng văn bản dành để thảo luận trực tiếp về thể trạng hay những tai họa môi trường. Tương tự, văn chương cũng bàn về những sự phá hủy môi trường sinh thái ở những phạm vi không gian và thời gian khác nhau, gồm cả cái được coi là sự phá hại trong hoàn cảnh xác định – những tổn thương ngắn hạn đối với các hệ sinh thái tương đối nhỏ, khu biệt; sự phá hại trên diện rộng không gian – mức độ phá hại bị giới hạn trong phạm vi thời gian song lại ảnh hưởng đến hệ sinh thái lớn hơn hoặc nhiều hệ sinh thái; sự phá hại trên diện rộng thời gian – sự xuống cấp của môi trường diễn ra trong phạm vi thời gian lớn hơn phạm vi không gian; sự phá hại bao trùm – sự xuống cấp của môi trường vừa kéo dài về thời gian, vừa trải rộng trong không gian.

Các văn bản mang tinh thần chủ nghĩa thế giới sinh thái là những văn bản nói đến một cách bao quát về tình trạng môi trường xuống cấp trên một phạm vi mang tính toàn cầu tiềm tàng. Đó là những bài thơ hay những văn bản ngắn thường xuyên nói đến việc loài người hủy hoại mọi thứ từ những vùng rừng nhỏ đến toàn bộ hành tinh. Những biểu hiện phức tạp hơn về chủ nghĩa thế giới sinh thái có thể thấy được trong các tác phẩm văn chương trực diện miêu tả những kiểu và trường hợp đặc thù của tình trạng môi trường bị hủy hoại, bất kể quy mô, nghĩa là nó có thể bao trùm những vấn đề môi trường ở cấp vĩ mô hơn mà cũng có thể ở cấp độ nhỏ hơn. Thí dụ, ngay một bài thơ ngắn chú ý đến một con thú đơn độc ốm yếu cũng có thể nói thẳng ra được sự đau đớn của con thú này là hệ quả của sự phá rừng trên quy mô lớn. Tương tự, một tiểu thuyết dài về biến đổi khí hậu hay sự xóa sổ nhiều giống loài trên trái đất lại cũng có thể mô tả chi tiết về điều kiện của những nơi chốn cụ thể. Những văn bản mang tinh thần thế giới sinh thái khác lại miêu tả những vấn đề ở một không gian mà đó cũng là vấn đề tương tự ở những không gian khác: một tác phẩm nói về một cánh đồng bị ô nhiễm cũng có thể nói lên sự giống nhau giữa sự tàn phá trên mảnh đất này và những mối nguy hại đối với môi trường diễn ra ở một mảnh đất khác cách xa đó. Nhiều văn bản tập trung vào những biến cố xảy ra tại một nơi chốn và thời gian cụ thể vừa song song với những điều kiện ở những nơi chốn và thời gian khác, vừa nói về những trường hợp này như thể đấy là bộ phận của những mô hình lớn hơn của tình trạng suy thoái môi trường hoặc như thể chúng bao hàm trong mình những vấn đề nhỏ hơn.

Mặc dù cách xử lý của văn chương về đề tài mối quan hệ của con người với những môi trường bị phá hại thường phô diễn những mối ràng buộc chặt chẽ mang tính địa phương nhưng nhìn chung diễn ngôn văn chương về đề tài này phần nào đó lại ít mang tính văn hóa, tính dân tộc, hay thậm chí tính vùng miền hơn là về các đề tài khác, trong đó gồm cả sự tôn vinh thiên nhiên. Điều này thực sự không ngạc nhiên vì toàn cầu hóa môi trường là hình thức lâu đời nhất của toàn cầu hóa, còn có trước toàn cầu hóa kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa. Bên cạnh đó, nhiều nhà văn viết về sự tàn phá môi trường lại có thời gian đáng kể ở nước ngoài và đã chứng kiến sự xuống cấp của môi trường ở nhiều địa điểm, nơi chốn. Nếu như toàn cầu hóa sinh thái được cho rằng có thể làm cho văn chương mở rộng đề tài môi trường một cách thuận lợi thì toàn cầu hóa văn chương cũng có thể làm gia tăng sự chú ý đối với những vấn đề môi trường.

Tinh thần chủ nghĩa thế giới sinh thái phần lớn được thể hiện hàm ẩn, nó khơi dậy những câu hỏi về thực trạng và khả năng của môi trường. Thực trạng của môi trường quy chiếu đến những dấu hiệu khủng hoảng sinh thái mà một văn bản thể hiện trực tiếp hoặc gợi dẫn rõ ràng. Khả năng của môi trường lại biểu thị những tác hại do con người gây nên đối với moi trường dưới dạng những ẩn ý trừu tượng hơn. Đó có thể là một sự hủy hoại môi trường mà nhà văn muốn biểu đạt nhưng theo một cách không hoàn toàn tường minh; sự phán đoán của nhà văn về khả năng của môi trường theo hình thức này có thể dựa trên tri thức của nhà văn, hoặc ít nhất dựa trên những gì mà người ta có thể biết được về trí thức của nhà văn về những vấn đề môi trường. Phổ biến hơn, khả năng của môi trường quy chiếu đến cái có thể diễn dịch hoặc ngoại suy từ một tác phẩm sáng tạo, bất kể điều này có nằm trong chủ ý của tác giả hoặc có liên quan gì những hoàn cảnh xã hội và môi trường đặc thù xung quanh việc hình thành văn bản ấy. Nhiều tác phẩm văn chương tập trung vào những sự tàn phá môi trường trong phạm vi xác định có thể được đọc như sự thu nhỏ của những sự tàn phá trên diện rộng không gian, thời gian hay thậm chí cả sự tàn phá bao trùm. Do đó, trong một vài trường hợp, một bài thơ ngắn về một sinh vật đau ốm, không hàm chứa bất cứ quy chiếu nào đến những con thú khác cũng vẫn có thể được đọc như là cách nói về tình trạng tuyệt vọng của một giống loài hay nhiều giống loài ở nhiều không gian. Tương tự như thế, trong một số trường hợp, một truyện ngắn về những gì mà các sinh vật phải chịu đựng trên một cánh đồng được phun thuốc trừ sâu, với những thay đổi chẳng mấy đáng kể ở tên gọi nơi chốn, nhân vật, tên chủng loại sinh vật, cũng có thể gia tăng nhận thức về tính trạng lâm nguy của các loài động vật ở những không gian khác. Nói tóm lại, các văn bản có thể mang tinh thần thế giới sinh thái mà không cần phải miêu tả trực diện sự xuống cấp của môi trường vượt quá phạm vi thời gian-không gian đơn nhất.

Thường khó xác định liệu phán đoán về những khả năng của môi trường ở  một văn bản có thể đi trước thực trạng của môi trường hay không, nhất là khi-đúng hơn, gần như bao giờ cũng thế -những khả năng là mơ hồ. Thực ra, ngay cả thứ văn học được viết từ tiêu điểm “vùng sinh thái” (bioregionalist) cũng hiếm khi xác định chính xác phạm vi không gian-thời gian của sự xuống cấp môi trường mà nó miêu tả. Song phạm vi của sự khủng hoảng môi trường mà hành tinh của chúng ta đang phải đối mặt đòi hỏi chúng ta cần phải quan sát thật kỹ những khả năng này. Điều này không có nghĩa là phủ nhận những đặc thù của tình trạng môi trường lâm nguy ở những địa điểm cá biệt hay việc cần phải hiểu những hoàn cảnh cụ thể của quá trình sản xuất văn hóa. Trường hợp sau đặc biệt quan trọng trong trường hợp nhà văn tích cực tham gia vào các phong trào môi trường hay chính trị khác, hoặc ở nơi văn bản tập trung vào những mối bận tâm về sinh thái như là hiện tượng cá biệt một nơi chốn. Hơn nữa, nền tảng và hoàn cảnh của chính độc giả cũng có thể ảnh hưởng đến cách mà những khả năng của văn bản được nắm bắt. Tuy nhiên, những nhà phân tích văn chương về đề tài khủng hoảng môi trường phải xem xét nghiêm túc các thực trạng, khả năng, và vô số vị trí ở giữa. Các văn bản văn chương, với tư cách là những sản phẩm văn hóa hữu hình, đứng bên trong, chứ không phải bên ngoài các hệ sinh thái từ quy mô địa phương đến toàn cầu, điều này cho phép chúng có đưa ra những bình luận giàu hàm lượng thông tin về nhiều môi trường khác nhau.

Những quan điểm từ lĩnh vực nghiên cứu văn học thế giới có thể đặc biệt hữu ích đối với nghiên cứu văn học và môi trường. David Damrosch đã định nghĩa văn học thế giới như:

“tất cả các tác phẩm văn chương được lưu hành vượt khỏi phạm vi nền văn hóa nguồn hoặc dưới hình thức bản dịch hoặc bằng ngôn ngữ gốc… một tác phẩm chỉ có đời sống hiệu ứng (effective) như là văn học thế giới khi nào, và ở bất cứ chỗ nào, nó là hiện diện chủ động của một hệ thống văn chương vượt khỏi phạm vi của nền văn hóa nguồn… Văn học thế giới… không phải một tập hợp điển phạm các văn bản mà là một cách đọc: một hình thức tương tác vô tư với thế giới, vượt xa khỏi giới hạn của thời gian và nơi chống của chính mình… điều này giúp chúng ta có thể hiểu được những cách mà theo đó, một tác phẩm văn chương muốn vươn đến xa hơn, hoặc muốn lệch khỏi xuất phát điểm khởi nguồn của nó.” (4,281,300)

Nhiều văn bản đề cập đến tình trạng báo động của môi trường đã được dịch sang ít nhất một thứ tiếng nhưng hầu như chưa có mấy tác phẩn có một sự hiện diện tích cực trong hệ thống văn chương rộng hơn nền văn hóa nguồn. Do vậy, nhìn chung chúng không được diễn giải như là những tác phẩm văn học thế giới. Mặt khác, hầu như tất cả những văn bản này đều nhấn mạnh đến những mối quan tâm không chỉ giới hạn trong những nền văn hóa nguồn và mang tinh thần chủ nghĩ thế giới sinh thái, hoặc trực tiếp hoặc ngầm ẩn. Có thể xem xét lại nhiều giá trị ở những văn bản này bằng cách đọc chúng như là bộ phận của văn học thế giới, nghĩa là xem xét cách chúng có thể vượt khỏi điểm khởi nguồn của mình như thế nào.

Những khủng hoảng sinh sôi trên khắp thế giới đã đặt ra một mệnh lệnh đối với nghiên cứu văn học, đòi hỏi không chỉ mở rộng phạm vi đề tài mà còn cần thiết phải hình thành một ý thức nhạy cảm hơn, sắc bén hơn về trạng thái sinh tồn của hành tinh chúng ta. Một trong những phương tiện hiệu quả nhất để tăng cường ý thức này trong nghiên cứu văn chương là hãy đọc, tiếp cận các văn bản như là những thành tố của văn học thế giới, ngay cả khi đó có thể không phải là văn học thế giới, hiểu theo quy phạm chặt chẽ, nhưng chúng lại tương tác với những vấn đề quan trọng rộng hơn phạm vi của nền văn hóa đơn nhất. (Những) Thế giới mà các văn bản này miêu tả, về mặt địa lý, vật chất, có thể nằm ngoài nơi chốn và thời gian của chúng ta, nhưng mối quan tâm mà chúng hướng đến thì lại rất gần với chính quê hương, xứ sở của ta.

Khái niệm “ý thức hành tinh” (planetary consciousness) một thời gian rất dài được kết nối với chủ nghĩa đế quốc. Bàn về lịch sử tự nhiên ở châu Âu thế kỷ XVIII, Mary Louise Pratt đã gắn “ý thức hành tinh” của thời đại này với sự đổ vỡ (disruption), sự sắp đặt lại trật tự (reordering), chủ nghĩa đế quốc và châu Âu trung tâm luận: “Cách mà người châu Âu thế kỷ XVIII hệ thống hóa thế giới tự nhiên như một dự phóng xây dựng tri thức châu Âu…đã tạo nên một thứ ý thức hành tinh mang tinh thần lấy châu Âu làm trung tâm. Thứ ý thức ấy bao quát bề mặt của trái đất, xác định các loài thực vật, động vật bằng những thuật ngữ gợi liên tưởng thị giác, quy gộp và tập hợp lại các loài này trong một trật tự hữu hạn, có tình chất tổng thể của quá trình hình thành châu Âu.” (30-1, 37). Chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, văn hóa, giống loài, vốn ấn định tính chất thượng đẳng của một cộng đồng người hay một nhóm người đặc biệt, chính là cơ sở cho sự kiếm tìm hình thức cho cái “ý thức hành tinh” này. Song nếu như việc nhấn mạnh “ý thức hành tinh”có thể cũng cố những thứ chủ nghĩa địa phương, dân tộc, chủng tộc hay những thứ chủ nghĩa trung tâm luận khác thì nó cũng có thể được sử dụng để đối lập với các định kiến. Như Nelson Maldono Torres đã nhận định: “Chống lại một thứ ‘ý thức hành tinh’ được nhìn theo con mắt của châu Âu đế quốc vốn đã trở thành công cụ cho các cuộc phiêu lưu bành trướng thuộc địa của giai cấp tư sản, Dussel đã khai triển một một quan điểm khác về ‘hành tinh’… Thay vì phục vụ cho chủ nghĩa đế quốc, quan điểm ‘hành tinh’ này hướng đến việc vượt qua chủ nghĩa châu Âu trung tâm luận” (210). Đây chính xác là là mục đích của một số hình dung đương đại về ý thức hành tinh.

Trong thập niên vừa qua, những nhà phê bình như Gayatri Chakravtorty Spivak và Wai Chee Dimock đã thôi thúc các học giả thuộc cả chuyên ngành văn học so sánh lẫn văn học dân tộc hướng đến một cách tiếp cận mang ý thức hành tinh. Nói một cách đơn giản nhất, với điều này, họ muốn gia tăng phạm vi cũng như nền tảng văn hóa của nghiên cứu văn học. Dimock đề nghị đọc văn học Mỹ như một tập hợp con, chứ dứt khoát không phải như một thực thể có sức ôm chứa, bao trùm lớn nhất, của “một tổng số vô hạn những của những tập hợp (aggregates) lớn hơn được xác định theo độ dài thời gian (durations) và sự mở rộng (extensions) của bản thân con người với tư cách một giống loài, tạo thành một nếp gấp, giữa nhiều nếp gấp khác, trong văn chương Mỹ”. (5, 10-1). Quan điểm mà bà biện hộ có thể dễ dàng áp dụng, có sự điều chỉnh nhất định, với bất kỳ nền văn học nào khác, ở cấp dân tộc hay khu vực, v.v…Spivak đã đưa ra một lập luận có phần gây tranh cãi rằng:

“như là những tính tập thể  được giả định được băng qua các biên giới được bảo vệ của một thứ văn học so sánh, được bổ túc thêm bởi Nghiên cứu vùng, những nền văn học này cố gắng hình dung, tưởng tượng về chính mình như thể chúng là một hành tinh văn học hơn là nền văn học của châu lục (continental), toàn cầu (global) hay thế giới (worldly)… Để thay cho một cách đọc văn học thế giới qua dịch thuật theo kiểu bản đồ hàm ẩn trong đó một sự ngạo mạn… tôi muốn đề nghị một lựa chọn khác, hãy tiếp cận văn học thế giới từ ý thức hành tinh”. (72-3)

Những liên tưởng về hành tinh đã làm phong phú nghiên cứu văn học cũng như chúng làm giàu có hơn hiểu biết của con người nói chung. Những quan niệm gần đây về chủ nghĩa nhân văn hành tinh và ý thức hành tinh nhấn mạnh đến việc cần phải phân tích các diễn ngôn văn chương, cũng như những diễn ngôn sáng tạo khác, về những vấn đề cấp thiết liên quan đến thực trạng hay mới chỉ là nguy cơ tiềm tàng của liên vùng và hành tinh. Paul Gilroy đã nói đến tầm quan trọng của việc “hình thành một thứ chủ nghĩa có khả năng hiểu được tính phổ quát của sự tổn thương ở cấp độ yếu  tố bởi những sai lầm mà chúng ta gây ra cho nhau”, cũng như “một ý thức hành tinh về bi kịch, sự mong manhm ngắn ngủi của sự hiện sinh không thể phân chia được của loài người”. Tương tự, khi thảo luận về giá trị của chấp nhận một hệ hình nghiên cứu mang ý thức hành tinh rõ hơn, Dimock đưa ra vấn đề về tình trạng nô lệ – vấn đề, theo bà, mặc dù thường được nghiên cứu trong phạm vi địa lý và niên biểu nước Mỹ, nhưng đã trở thành một hiện tượng thực sự không nhận ra được khi nó diễn ra bên ngoài những tọa độ không gian-thời gian này.” (Planet and America, 6). Tuy ở đây Dimock nói về việc mở rộng nền tảng chứng cứ cho nghiên cứu lịch sử nhưng phê bình văn học cũng nên đi theo con đường tương tự, nghiên cứu kỹ lưỡng hơn, chẳng hạn, mạng lưới liên văn hóa của tình trạng nô lệ và sự lạm dụng các quyền con người khác. Một đường hướng phê bình như vậy sẽ phân tích các tác phẩm văn chương như sản phẩm vừa thuộc về thời gian-không gian đặc thù vừa thuộc về những kinh nghiệm mà con người cùng chia sẻ. Nhưng đáng nói là, điều thậm chí quan trọng hơn cả việc tăng cường ý thức hành tinh trong nghiên cứu văn học là việc nhận diện và phân tích những mạng lưới liên văn hóa thương lượng quan hệ giữa con người và môi trường, đặc biệt là những quan hệ liên đới đến sự xuống cấp của hệ sinh thái.

Cách tiếp cận này là cấp thiết vì một số lý do. Thứ nhất, một định hướng như thế phản chiếu chính xác hơn khách thể mà tên gọi của nó bao quát toàn bộ sự sống: “hành tinh”, chứ không phải “hoàn cầu” hay “thế giới”, ngay lập tức vừa chỉ Trái Đất của chúng ta, nói đến cả sự đa dạng và tương tác của các sinh thể sống – nhìn thấy được và không nhìn thấy được, con người và vô nhân, sinh thể và vô sinh thể, cái vĩ mô và cái vi mô ở kích thước và tác động – vốn hình thành, cư trú và chuyển di trên khắp địa cầu này. Thứ hai, như những nhà hoạt động vì công bằng môi trường và các học giả nữ quyền luận sinh thái gần đây cho thấy việc xem xét các tác phẩm văn chương nghệ thuật diễn tả mối tương tác giữa con người và môi trường, trên thực tế, đào sâu sự hiểu biết không chỉ về mối quan hệ này mà còn về mối quan hệ giữa con người với con người. Thứ ba, và cũng quan trọng hơn cả, những nghiên cứu văn chương có thể giúp chúng ta phát triển sâu hơn, nhiều sắc thái hơn những hiểu biết về mối tiếp xúc giữa con người và những yếu tố vô nhân; những hiểu biết này lại có tiềm năng thúc đẩy nhanh hơn những thay đổi văn hóa cần thiết cho việc điều hòa lại những hệ sinh thái bị tàn phá, hạn chế nhiều hơn tình trạng xuống cấp của môi trường và bảo vệ sức khỏe của con người.

Tuy nhiên, cuối cùng việc tăng cường ý thức hành tinh về văn học đi xa hơn việc mở rộng không gian địa lý của nghiên cứu văn học và xa hơn cả việc dịch chuyển đối tượng nghiên cứu từ mối quan hệ giữa con người với con người đến việc bao hàm cả trong đó mối quan hệ giữa con người và môi trường (tức là mạng lưới diễn ngôn về những mối quan hệ giữa con người và cái vô nhân). Nó cũng bao hàm cả việc đánh giá tinh thần chủ nghĩa thế giới sinh thái của những mối tương tác này: xem xét từng tác phẩm văn chương đơn lẻ, ngay cả những tác phẩm dường như chỉ tập trung thể hiện những mối quan tâm môi trường mang tính địa phương, cũng có thể làm tăng thêm ý thức về những hiện tượng văn hóa xuyên quốc gia và xuyên văn hóa. Tương tự, nó cũng đòi hỏi chúng ta đánh gia cách ứng xử của văn chương về những hiện tượng diễn ra trên quy mô rộng có thể gia tăng nhận thức về những mối quan tâm ở phạm vi nhỏ hơn như thế nào.

Khủng hoảng sinh thái xuất hiện khắp nơi trên hành tinh của chúng ta, với phạm vi thời gian và không gian địa lý vướt xa hơn bất cứ một mối quan tâm cấp thiết mang tính toàn cầu nào. Hơn bất kỳ hiện tượng nào khác, khủng hoảng môi trường hối thúc chúng ta phải suy nghĩ lại về sự sống của chúng ta, những trách nhiệm của chúng ta từ hệ quy chiếu hành tinh. Thông qua những phân tích xuyên văn hóa về các tác phẩm văn chương trực diện viết về sự tàn phá môi trường vô nhân, chúng ta có thể có có được những cái nhìn thấu thị mới mẻ vào những thách thức lớn nhất mà chúng ta phải đối mặt, không cần quan tâm đến sự chuyên biệt hóa nào: đâu là cách tốt nhất để tổng hợp và phân tách những động lực (dynamics) của cái cục bộ, cái toàn cầu và mọi thứ ở giữa; đâu là cách tốt nhất để tổng hợp và phân tách những khoảng khắc trong thời gian của người từ thời gian của hành tinh và mọi thứ ở giữa?

Văn học hiếm khi nào đem đến những phương thuốc phổ biến, nó lại càng ít đưa ra được những chính sách để ngăn ngừa những nguy cơ trong tương lai hay khắc phục sự tàn phá đang diễn ra ở các cảnh quan; trong một số trường hợp, bản thân văn chương thậm chí có thể còn tiếp tay cho những hành vi phá hại môi trường mà nó tỏ ra xót xa. Nhưng việc đề ra các chính sách, ở đây chưa bàn đến việc thực thi, đòi hỏi những thay đổi      trong ý thức – tức là trong hình dung, hiểu biết và kỳ vọng – đó là những thứ mà văn học, nếu được đặt đúng chỗ, có khả năng tác động rất lớn. Chắc chắn, những tụng ca về các kỳ quan thiên nhiên, ngay cả những trường hợp không đề cập gì đến những môi trường bị tổn thương, cũng có khả năng làm lay động người đọc sâu sắc, từ đó, thúc đẩy ý thức về môi trường. Bên cạnh đó, việc tôn vinh thiên nhiên, ngay cả trong những tác phẩm được xuất bản ở những xã hội đang phải chịu đựng tình trạng khủng hoảng môi trường nghiêm trọng cũng không phải là những sản phẩm tất yếu của sự không biết hay của ham muốn có vẻ như tích cực nhằm che giấu những hệ sinh thái bị phá hoại. Thay vào đó, đôi khi chúng là sự phản đối những thay đổi đang xảy ra trong thế giới kinh nghiệm. Tuy nhiên, một cách trực diện hơn, diễn ngôn văn chương về ô nhiễm, khủng hoảng môi trường – dù là phản ánh thực trạng hay tưởng tượng về những viễn cảnh có thể/không thể xảy ra đi nữa, dù được lồng vào bên trong những hình thức ca tụng, tôn vinh tự nhiên hay trở thành trung tâm của một văn bản – đều nhấn mạnh rất rõ ràng những thách thức trực tiếp mà các hệ sinh thái thuộc đủ mọi loại phải đương đầu. Tác phẩm văn chương trực tiếp đề cập đến sự tàn phá môi trường cũng có thể cho thấy những khó khăn trong việc xác định chính xác các nguyên nhân dẫn đến thực trạng này cũng như gợi ý những giải pháp hiệu quả. Và ở những mức độ khác nhau, những tác phẩm này đã đề cập đến một trong những sự mơ hồ lớn nhất của những biến đổi do con người gây ra đối với cảnh quan môi trường: đến mức độ nào thì những biến đổi này thật sự đáng lưu tâm, về mặt đạo đức cũng như về mặt sinh thái, qua không gian và thời gian? Văn chương chú ý phát hiện, miêu tả những hệ sinh thái bị đe dọa để từ đó nêu bật sự cấp thiết của một nhận thức tốt hơn về những sự phức tạp bao trùm, xuyên thấm những mối quan hệ giữa con người và môi trường, bao hàm cả những cố gắng của con ngời nhằm bảo vệ hay khắc phục các yếu tố vô nhân. Thứ văn chương này cũng trực tiếp nói đến những hậu quả khi không thể làm được điều đó. Nguy cơ lớn ở đây không phải là sự mất đi cái tự nhiên hoang dã phủ hào quang được tưởng tưởng tượng mà đáng kể hơn nữa, chính là sự mất mát sự sống thật sự của con người và của cả những yếu tố vô nhân.

KAREN THORNBER
Hải Ngọc dịch

Nguồn: KarenThornber, “Ecocritical and Literary Futures”
in East Asian Ecocriticisms. A Critical Reader (Literatures, Cultures, and the Environment),
ed. by Simon C. Estok and Won-Chung Kim, NY: Palgrave MacMillan (2013).

TIN LIÊN QUAN:



Thứ Tư, 6 tháng 3, 2019

Những tương lai của phê bình sinh thái và văn học - Kỳ 1

Ta hãy bắt đầu từ một dự án khu đô thị là điểm nóng của những mâu thuẫn chính trị xã hội trong thời gian vừa qua – dự án EcoPark ở Văn Giang (Hưng Yên). Tên gọi của dự  án đã hàm ẩn trong đó một môi trường sống lý tưởng, nơi con người hòa hợp với thiên nhiên, hưởng bầu không khí trong lành, thanh bình, xa lánh những ồn ào, bụi bặm của đô thị. Người thực hiện dự án này đã thỏa mãn cái tâm lý muốn được kết nối lại với thiên nhiên của những cư dân đô thị bằng cách bứng cả những cây cổ thụ từ rừng về trồng để tạo ra một không gian xanh thoáng đáng, hiền hòa. Nhưng môt khu đô thị thân thiên với môi trường như thế, thực chất, lại được hình thành trên sự bất công về môi trường (ở đây, tạm thời chưa nói đến viêc tranh cháp đất đai): nó chỉ dành cho một bộ phận người dân có thu nhập cao trong khi đó lại đẩy những người nông dân vốn găn bó vơi ruộng đồng bị cắt lìa với không gian quen thuộc nuôi dưỡng đời sống vật chất và tinh thần của họ; cảnh quan đẹp ơ đây lại được tạo nên từ kết quả sự tàn phá một cảnh quan khác.

Nhìn rộng ra, vấn đề bất công môi trường không phải là một hiện tượng cá biệt, mang tính địa phương. Nó còn là vấn đề mà nhiều nước bị xếp vào nhóm thế giới thứ ba phải chấp nhận để trả giá cho sự phát triển kinh tế. Một hiện tượng như hãng Vedan xả nước thải ô nhiễm, có chứa chất gây ung thư ra sông Thị Vải cho thấy vấn đề môi trường không tồn tại biệt lập mà bao hàm trong/liên đới đến hàng loạt quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa phức tạp diễn ra trên phạm vi toàn cầu.

Cách con người tương tác với môi trường chịu sự chi phối mạnh mẽ của những ý niệm/diễn ngôn về môi trường. Phân tích các diễn ngôn này nằm trong số những nhiệm vụ quan trọng nhất của phê bình sinh thái – một khuynh hướng lý thuyết phê bình đang phát triển rất năng động hiện nay, đặc biệt ở Anh-Mỹ. Đây là một lý thuyết liên ngành, kết hợp giữa văn học và khoa học, giữa phân tích văn chương và rút ra những cảnh báo về môi trường. Nó có thể không đưa ra được những giải pháp trực tiếp cho những vấn đề môi trường nghiêm trọng hiện nay nhưng bằng cách phân tích các diễn ngôn về thiên nhiên và môi trường, nó có thể tác động đến tâm thức con người, điều chỉnh nhận thức, khắc phục những ngộ nhận về môi trường, để từ đó, có những hành động đúng đắn hơn, hướng đến sự phát triển bền vững và xa hơn, đồng thời là quan trọng hơn cả, là hình thành một chủ nghĩa nhân văn mới, ở đó, con người biết nghe tiếng nói của thiên nhiên để đối thoại với nó.

Karen Thornber là một học giả mới nổi trong lĩnh vực phê bình sinh thái. Bà đã sang VN thuyết giảng về  lý thuyết này. Công trình của bà Ecoambiguity: Environmental Crises and East Asian Literatures (2012) [Sự mơ hồ sinh thái: Khủng hoảng môi trường và văn học các nước Đông Á (Trung Hoa, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan)] vừa được Hiệp hội nghiên cứu văn học so sánh Hoa Kỳ trao giải Honorable Mention Wellek Prize 2013.  Đóng góp lớn nhất của công trinh này là Thornber  đã sáng tạo đươc một khái niệm – ecoambiguity-như một khái niệm phản ánh đặc trưng phổ biến của diễn ngôn về môi trường, thiên nhiên trong các nền văn hóa Đông Á, từ đó dẫn đến những ngộ nhận không nhỏ trong ý thức và cách ứng xử đối với môi trường của con người trong khu vực. Những ngộ nhận này, đến lượt chúng, lại dẫn đến những bất công môi trường. Karen Thornber cũng đề nghị  phê bình sinh thái cần thiết phải đi theo hướng tiếp cận so sánh trong bối cảnh các vấn đề  môi trường không phải là vấn đề mang tinh địa phương nữa. Thậm chí, như trong bài viết mà tôi dịch dưới đây, bà còn cho rằng ý thức hành tinh (planet consciousness) cần phải được thấm đẫm vào trong nghiên cứu phê bình sinh thái. Theo tôi hiểu,  ý niệm hành tinh được Karen Thornber đề xuất thay cho những từ xác định không gian địa lý như transnation, globe, world… không phải chỉ vì đó là ý niệm không gian rộng nhất, bao trùm cả sự sống con người và cả sự sống của các thành tố vô nhân (nonhuman) mà còn vì nó đó là ý niệm không gian không bị phân cắt, không bị chiếm dụng để tạo ra những sự bất đối xứng về không gian, từ đó, dẫn đến bất bình đẳng về văn hóa và môi trường.  Chẳng hạn, khái niệm thế giới vẫn đang bị chia thành thế giới những nước phát triển, đang phát triển và chậm phát triển, hay khái niệm toàn cầu hóa vẫ n gợi liên tưởng đến quá trình đồng hóa của những “đế quốc mới” trong thời đại mới.  Bài dịch dưới dây là lời bạt mà Karen Thornber viết cho tuyển tập East Asian Ecocriticisms. A Critical Reader (Literatures, Cultures, and the Environment) [Phê bình sinh thái Đông Á: Tuyển tập phê bình (Các nền văn học, văn hóa va môi trường)] (2013), trong đó giới thiệu những nhà nghiên cứu trong và ngoài khu vực về  diễn ngôn môi trường, thiên nhiên trong văn chương Đông Á. Rất tiếc không có mặt của một học giả VN nào ở đây và văn chương VN cũng đứng ngoài cuộc thảo luận của các học giả. Nhưng cá nhân tôi cho rằng phê bình sinh thái có thể  tìm thấy ở  văn chương, mỹ thuật, điện ảnh, nghệ thuật đương đại VN nhiều “ca” thú vị để nghiên cứu. Đây cũng là một hướng nghiên cứu mà tôi có ý định thể nghiệm trong tương lại.

Trong tình hình dịch thuật luôn có khả năng sai, nhất là dịch thuật học thuật, việc giới thiêu bản dịch này là một sự liều linh của tôi. Bản dich mới chi là bản thảo và tôi sẽ tiếp tục sửa chữa dần dần.

Cuối cùng, trước khi giới thiệu phần  1 bài dịch, xin giới thiệu link bài thuyết trình của Karen Thornber về phê bình sinh thái và văn chương Đông Á:

*

Những sản phẩm văn hóa của loài người đã thương thỏa với những biến đổi về sinh thái, hiểu theo nghĩa chúng đã phát lộ, diễn dịch lại và nhào nặn những biến đổi này, kể từ thời tiền sử. Những tranh vẽ trong hang động thời kỳ đồ đá cũ có niên đại chắc chắn sớm hơn 30.000 năm trước công nguyên cho thấy nhiều góc nhìn khác nhau về các hoạt động của người nguyên thủy làm môi trường bị biến đổi. Ngôn ngữ con người đóng một vai trò thậm chí còn quan trọng hơn trong hệ sinh thái đang và đã bị biến đổi. Nó đã được sử dụng để chế ngự, mô tả, biện hộ, tôn vinh, kết án, khuyến khích sự cải thiện môi trường,  làm chệch hướng và đồng thời thu hút sự chú ý đối với cách con người ứng xử với môi trường. Các văn bản truyền miệng và văn bản viết trên khắp thế giới từ ngàn năm nay đã không chỉ cố gắng khám phá việc con người bị ảnh hưởng như thế nào bởi môi trường xung quanh mình mà còn cả việc con người đã biến đổi môi trường ở mọi nơi như thế nào và tại sao họ làm vậy. Những quy chiếu trong văn chương về sự kiến tạo, cư ngụ và phá dỡ những môi trường đã được hình thành cũng như liên quan đến việc săn bắn, canh tác, ăn uống đều đem đến cho chúng ta cái nhìn thấu thị về những cảnh quan bị biến đổi. Ngay cả những văn bản không có hình tượng con người thì chúng cũng thường ít nhất đề cập đến sự biến đổi các môi trường do con người gây nên. Về phần mình, văn chương thế giới – được hiểu rộng rãi như là các văn bản sáng tạo được lưu truyền vượt ra khỏi nền văn hóa cội nguồn của chúng – kể từ Sử thi Gilgamesh (thiên niên kỷ thứ hai trước Công nguyên) đã mô tả con người như kẻ những kẻ làm thay đổi triệt để môi trường xung quanh mình.

Ngược lại, phải đến những năm 1990, nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và môi trường vật chất mới trở thành một trào lưu tri thức được xác định rõ ràng. Chắc chắn, bất chấp việc khởi điểm của nó thực sự mới chỉ được tính từ gần đây, phê bình sinh thái (nghiên cứu văn học được định hướng về chủ đề môi trường) đã nhanh chóng phát triển thành một lĩnh vực đa dạng, liên ngành, một hướng nghiên cứu mới hình thành không bị ràng buộc vào bất kỳ một phương pháp đơn lẻ nào hay một giáo điều, một cam kết theo quan điểm môi trường luận nào. Trong cuốn The Cambridge  Introduction to Literature and the Environment (2011), Timothy Clark nhận định rằng “phê bình sinh thái đã tạo được một khu vực hoạt động rất năng động, chưa đánh giá hết được, nơi các vấn đề, các chuyên ngành học thuật và chính trị giao cắt nhau. Sức mạnh tiềm tàng của nó không phải ở chỗ nó chỉ như một nhánh phê bình văn học khác, được đặt bên trong những biên giới thiết chế đã có sẵn mà ở chỗ nó là một cách tiếp cận mang tính khiêu khích cả trong việc phân tích văn học lẫn những vấn đề vừa đồng hiện, vừa che khuất lẫn nhau của khoa học, đạo đức, chính trị và thẩm mỹ” (8). Còn trong cuốn Sense of Place and Sense of Planet (2008), Ursula Heise cho rằng: “Thay vì tập trung vào sự khôi phục cảm quan về nơi chốn, thuyết môi trường luận (bao gồm cả phê bình môi trường) cần thiết phải thúc đẩy một nhận thức về cách mà cả một phạm vi rất đa dạng rộng rãi những nơi chốn và quá trình trong tự nhiên cũng như trong văn hóađã kết nối lẫn nhau, nhào nặn lẫn nhau như thế nào trên khắp thế giới” (21). Những nhận định này đã nhấn mạnh đến một số thay đổi cơ bản mà phê bình sinh thái đã trải qua trong hai thập niên gần đây.

Những nhà phê bình sinh thái đầu tiên, một phần do dựa vào lý thuyết sinh thái học chiều sâu (deep ecology), thường đi theo cách tiếp cận sinh học trung tâm luận (biocentric) hoặc theo quan điểm bảo tồn (preservationist). Cách tiếp cận này chủ yếu tập trung xung quanh những sáng tác về đề tài thiên nhiên, quan tâm đến khả năng của văn chương trong việc tạo nên những khuôn mẫu về các giá trị mà ở đó môi trường là trung tâm (ecocentric values), cũng như chú ý đến những cách miêu tả của văn chương về những mối quan hệ về mặt sinh học, tâm lý học và tâm lý giữa con người và thế giới tự nhiên. Kiểu phê bình sinh thái này quan tâm đến trạng thái gắn với nơi chốn (place-attachment) ở phạm vi địa phương hay vùng miền, như ta có thể thấy được qua các tác phẩm của Wendell Berry (1934-), bao gồm hai cuốn The Unsettling of America (1977) và Standing by Words (1983), và Gary Snyder với những cuốn như The Practice of the Wild (1990) và A Place in Space (1995). Bước sang thế kỷ XXI, phê bình sinh thái bắt đầu hướng theo một quan điểm thiên về tính chất nhân chủng học và đặt bình diện xã hội làm trung tâm; giờ đây giới nghiên cứu lại tập trung vào mảng văn học về thành phố và quá trình công nghiệp hóa cũng như vấn đề công bằng/bất công môi trường cùng những vấn đề xã hội liên đới, đặc biệt trong bối cảnh mà những vấn đề về sắc tộc, về các nhóm thiểu số, cộng đồng bản địa, chủ nghĩa hậu thực dân, cộng đồng lưu vong và chủ nghĩa thế giới trở thành mối quan tâm hàng đầu. Theo đó, nó dịch chuyển mối quan tâm về nơi chốn từ phạm vi địa phương sang phạm xuyên quốc gia hay toàn cầu.

Không có gì ngạc nhiên khi hai khuynh hướng chính này lại có nhiều điểm chung. Cả hai đều bao hàm một sự gắn kết chặt chẽ, bền bỉ với tất cả những hình thức truyền thông biểu hiện, từ các văn bản in đến sự trình diễn thị giác, âm nhạc, điện ảnh cũng như các tài liệu pháp lý và các báo cáo của NGO. Những mối quan tâm khác đang diễn ra bao gồm nghiên cứu tu từ học về môi trường; nữ quyền luận môi trường gắn theo đó là những mô hình khoa học, đặc biệt là từ tiến hóa luận sinh học, sinh thái học và các khoa học thông tin; những khác biệt trong quan niệm về môi trường dựa trên phái tính và di sản văn hóa, thí dụ như truyền thống bản địa; sự tưởng tượng văn chương về các mối quan hệ giữa con người và thú vật.

Tính đến nay, cả hai khuynh hướng phê bình sinh thái này đã tạo được những đột phá quan trọng, trong đó có cả việc chúng đã phát hiện lại tầm quan trọng của những thể loại và thể tài văn chương gần như bị quên lãng như các sáng tác về đề tài thiên nhiên, các tự sự về tình trạng bị nhiễm độc của môi trường và con người, thơ ca và kịch sinh thái (ecopoetry/ ecodrama) – những thể loại/thể tài quan tâm đến mối quan hệ giữa con người và môi trường xung quanh họ. Phê bình sinh thái cũng diễn dịch lại sự cấu thành các hệ đề tài liên quan đến môi trường như đề tài mục ca, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc gắn với môi trường, tư tưởng tận thế gắn với môi trường (ecoapocalypticism). Đồng thời nó cũng phát hiện những nội dung “ngầm” về môi trường trong một loạt các văn bản nghệ thuật. Gần đây nhất, phê bình sinh thái đã chú ý đến những thể loại và hình thức truyền thông đa dạng khác ngoài văn bản viết, gồm cả truyện tranh, phim hoạt hình, mỹ thuật sinh học (bioart), kiến trúc xanh, các nguồn dữ liệu kỹ thuật số – điều này đã làm thay đổi cách các học giả nghĩ về nội dung của phê bình sinh thái.

Ngành nhân văn môi trường (environmental humanities) đã cho thấy rất rõ nhiều khả năng môi trường địa phương, vùng miền và toàn cầu bị đẩy vào tình trạng nguy hiểm bởi chính những can thiệp có vẻ như mang tính nhân văn của con người. Song những thách thức quan trọng vẫn còn đó, cả về mặt văn hóa (tức trên phương diện ngôn ngữ và địa lý) và khái niệm.

Phê bình sinh thái thường được định nghĩa khá rộng. Chẳng hạn, Scott Slovic xem đó là khuynh hướng phê bình “khảo sát cặn kẽ những ngụ ý về môi trường sinh thái và quan hệ giữa con người – tự nhiên trong bất kỳ văn bản văn chương nào, kể cả những văn bản (thoạt nhìn) dường như không để ý gì đến thế giới không con người (non-human world)” (27). Các nhà nghiên cứu cho rằng tương lai của phê bình sinh thái được nằm ở việc nó thể hiện được mối quan tâm của văn học về tình trạng của môi trường, đặc biệt là cách văn học tra vấn về vấn đề môi trường như “một thể nghiệm tư tưởng… được phức tạp hóa bởi sự đa bội các diễn ngôn và từ chối nhận lấy những vị trí cố định”.

Nhưng bất kể phép tu từ nói về khả năng dung nạp của phê bình sinh thái, ngay từ những ngày đầu khi lĩnh vực này mới hình thành, các nhà phê bình trên thực tế đã tự giới hạn phạm vi nghiên cứu mình trong văn chương được viết bằng ngôn ngữ của các nước phương Tây, đặc biệt là văn học Mỹ khu vực Anh ngữ nói riêng. Thậm chí ngay cả ở châu Á, những thảo luận về mối quan hệ giữa văn học và môi trường bị tàn phá cũng tập trung một cách bất cân xứng vào văn học phương Tây với những ví dụ chủ yếu được lấy từ văn học của khối Anh ngữ. Những năm gần đây chứng kiến sự sôi động của thuyết môi trường luận và hậu thực dân luận. Những phân tích hàm ý về môi trường ở các văn bản từ các nước châu Phi, châu Mỹ La-tinh (bao gồm cả khu vực Carribean), các đảo Thái Bình Dương, Nam Á, và những so sánh về “sự tưởng tượng môi trường” (environmental imagination) của các nước phát triển ở phía Bắc vốn có nhiều đặc quyền hơn với “thuyết môi trường luận của dân nghèo” ở các nước đang/chậm phát triển thuộc phía Nam toàn cầu cũng đã có đóng góp quan trọng trong việc mở rộng quan điểm về những mối quan hệ giữa con người và thế giới tự nhiên trên khắp thế giới. Không thể đánh giá thấp tầm quan trọng của những tri thức học thuật này đối với các ngành nhân văn và xa hơn thế. Song chúng vẫn bị loay hoay bởi chính trọng tâm dồn vào văn học phương Tây của mình; chúng thường trở đi trở lại với một vài dẫn chứng quen thuộc, gần như loại trừ các văn bản đến từ những khu vực viết bằng những ngôn ngữ khác. Chúng không hề khảo sát văn học của khu vực Đông Á, một khu vực với lịch sử thuộc địa nhiều chấn thương mặc dù hiếm khi được ngành nghiên cứu hậu thực dân chú ý đến; một khu vực, hơn nữa, là nơi tập trung ba nền kinh tế lớn nhất thế giới và dân số chiếm ¼ thế giới.

Văn hóa Đông Á từ lâu được gắn với hệ thống những niềm tin chủ trương tôn sùng thiên nhiên, đặc biệt là Phật giáo, Khổng giáo, Đạo giáo và Shinto cũng như nhiều triết lý và tôn giáo bản địa. Những phương thức tư tưởng này đã khơi gợi ý thức về môi trường của rất nhiều người châu Á cũng như người Mỹ, châu Âu và một phạm vi nhỏ hơn là các trí thức Trung Đông và châu Phi. Những hình dung phổ biến ở trong và ngoài Đông Á thường cho rằng tình trạng môi trường bị xuống cấp ở khu vực này bắt đầu xảy ra từ cuối thế kỷ XIX, khi người dân  Đông Á, dưới áp lực của các quốc gia Tây phương, đã tiếp thu, đồng hóa kỹ thuật và các ngành công nghiệp của họ. Song thực chất, các xã hội Đông Á đã kế thừa cả hàng ngàn năm môi trường bị thoái hóa nghiêm trọng. Rhoades Murphey đã đi rất xa khi tranh luận:

“Tất cả những nền văn hóa châu Á thuộc khu vực ở phía đông Afghanistan và phía nam khu vực thuộc Liên Xô cũ từ lâu đã được biết đến như là những nền văn hóa tôn sùng thiên nhiên… Điều này được xem như đối lập với quan điểm của phương Tây. Thế nhưng những tư liệu ở châu Á lại cho thấy rõ rằng bất chấp những giá trị mà giới tinh hoa trí thức ở đây tuyên xưng, người dân đã làm biến đổi  hoặc phá hủy môi trường châu Á sớm hơn và ở mức độ lớn hơn bất kỳ nơi nào khác trên thế giới, thậm chí so với cả phương Tây thế kỷ XX.” (“Góc nhìn châu Á” 36).

Murphy có lẽ đã quá lời trong trường hợp này vì những biến đổi môi trường mà người dân Đông Á trước đây gây nên không thể bằng với mức độ mà các xã hội phương Tây thế kỷ XX tạo ra được.

Tuy nhiên, sự không tương hợp giữa những niềm tin và những hành vi ở đây là rất đáng lưu tâm. Như nhà sử học Mark Elvin đã nhận xét về Trung Hoa:

“Trải qua hơn ba ngàn năm, người Trung Hoa đã tạo hình lại đất nước Trung Hoa. Họ phá rừng và thảm thực vật nguyên sinh, đắp những sườn đồi và biến những bậc thung lũng thành những cánh đồng. Họ đã đào, đã xây đập, đã làm chệch dòng chảy của sông hồ. Họ đã săn bắn và thuần hóa những loài động vật và chim muông, dẫn đến chỗ họ tàn phá chính môi trường sống của mình như một hệ quả phụ của việc theo đuổi mục đích cải thiện kinh tế. Đến cuối thời kỳ phong kiến, hầu như chẳng có gì có thể được gọi là ‘tự nhiên’, chưa bị chạm đến bởi quá trình bóc lột và cải hóa này… Một nghịch lý nằm ngay trong chính thái độ của người Trung Hoa đối với phong cảnh. Một mặt, phong cảnh được nhìn nhận như một phần của quyền năng tối thượng thiêng liêng. Minh triết dạy rằng con người cần hòa mình vào nhịp điệu của phong cảnh và cần phải ý thức được sự bất lực của mình trong việc nhào nặn lại nó. Nhưng mặt khác, trên thực tế, phong cảnh lại bị thuần hóa, bị biến dạng và khai thác đến mức hầu như có rất ít sự tương đương trong thế giới tiền hiện đại.” (321,323).

Heiner Roetz đã mở rộng luận điểm này, khẳng định quả quyết rằng ở Trung Hoa thời kỳ cổ -trung đại, “một sự đồng cảm với thiên nhiên, như được biểu hiện trong sách Trang Tử, chỉ là một phản ứng đơn giản chống lại những gì thật sự đang diễn ra”. (85)

Roetz đã phóng đại điểm này. Không phải tất cả những biểu hiện của sự đồng cảm, càng không thể nói những hình thức sùng bái thiên nhiên, thậm chí ngay cả những nghi thức bắt nguồn từ các xã hội làm biến đổi đáng kể môi trường, đều có thể được đọc như là những phản ứng chống lại hoàn cảnh thực tế. Nhưng đa phần đều có thể cung cấp những hình dung khác về những gì đang diễn ra trong môi trường lúc bấy giờ, chứ không chỉ đơn giản là biểu hiện của sự trân trọng, tôn thờ thiên nhiên. Dân Đông Á từ lâu đã có một ý thức sâu sắc về những tổn thất mà con người gây ra đối với môi trường, song  mặc dù đã có những cam kết của các cá nhân, tổ chức, chính phủ nhằm khắc phục những thiệt hại hiện còn và hạn chế những tác hại xa hơn, sự xuống cấp của môi trường trong khu vực, nhìn chung, vẫn cho thấy những dấu hiệu của hệ lụy dai dẳng từ truyền thống đến giờ. Chắc chắn, nhiều vấn đề môi trường nổi cộm nhất ở Đông Á đã được cải thiện hơn trong vài thập niên gần đây, trong đó có vấn đề ô nhiễm không khí và nguồn nước tại đô thị ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và Trung Hoa – ở một phạm vi nhỏ hơn. Như khi quy mô dân số và mật độ phân bố thay đổi, phong cách sống biến chuyển, thì tình trạng, hay đúng hơn phạm vi của sự xuống cấp môi trường cũng thay đổi theo. Thí dụ, trong nhiều trường hợp, ô nhiễm chỉ đơn thuần là bị xuất ra, chứ không phải được khắc phục triệt để, điều này tạo nên nhiều hệ sinh thái phủ bóng (shadow ecologies).

Tương tự, văn học châu Á vốn nổi tiếng bởi sự tôn vinh vẻ đẹp của thiên nhiên và miêu tả con người trong sự gắn bó sâu sắc với thế giới tự nhiên. Nhưng phân tích văn xuôi hư cấu và thơ ca Trung Hoa, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan hàng trăm năm qua lại cho thấy những nền văn học này lại dồi dào diễn ngôn về sự suy thoái của môi trường (ecodegradation) đến mức có thể gây ngạc nhiên cho những độc giả vốn quen với những hình ảnh đã thành ước lệ về sự hài hòa với môi trường sinh thái của người châu Á. Các nghệ sĩ và triết gia Đông Á từ lâu đã lý tưởng hóa sự tương tác giữa con người với môi trường vô nhân xung quanh họ (nonhuman surroundings). Cách thể hiện của họ tạo ra ấn tượng rằng người Đông Á, không như người Mỹ hay người châu Âu, có sự nhạy cảm cố hữu đối với môi trường, rằng họ yêu thiên nhiên và hòa hợp với nó. Tuy nhiên, việc lãng mạn hóa những mối quan hệ giữa con người và môi trường của họ thường là sự thách thức hơn là sự phản ánh cái hiện thực mang tính kinh nghiệm. Quan trọng hơn, phần lớn văn chương, thơ ca Đông Á hiện đại, thậm chí  ngay cả một số sáng tác tiền hiện đại, lại đi vào miêu tả con người tàn phá mọi thứ từ những không gian nhỏ đến toàn bộ lục địa.

Các nhà nghiên cứu  khoa học xã hội và khoa học tự nhiên trong và ngoài khu vực Đông Á đã viết nhiều về những vấn đề môi trường ở Trung Hoa, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan thời hiện đại và tiền hiện đại, về nhiều phong trào và tổ chức chống lại sự xuống cấp của hệ sinh thái, về những phản ứng chính thống của địa phương, các vùng lãnh thổ, quốc gia trước tình trạng này. Ngược lại, phần lớn những nghiên cứu theo quan điểm chủ nghĩa nhân văn trong văn chương Đông Á khi thảo luận về mối tương tác giữa con người và thiên nhiên lại chỉ tập trung vào việc thiên nhiên dưới ngòi bút sáng tạo của các nhà văn hiện lên như thế nào, tức là dành sự chú ý đến cách văn chương ca tụng thiên nhiên, miêu tả thiên nhiên như nơi lánh trú, thường mang tính chất tưởng tượng, khỏi xã hội con người; những bức tranh văn chương mô tả sự hòa điệu của con người với thiên nhiên; hay, ở mức độ ít thường xuyên hơn, là hình ảnh con người bị khuất phục bởi những thảm họa như tuyết lở, động đất, lũ lụt. Hầu như chưa có mấy công trình bàn về những cách thương thỏa sáng tạo với những tổn thất về môi trường được thể hiện trong văn chương Đông Á, bất chấp sự hiện diện hàng ngàn năm nay của thực tế này trong văn chương Trung Hoa, Nhật Bản, Hàn Quốc, đặc biệt là ở mảng tư liệu văn học thế kỷ XX-đầu thế kỷ XXI của khu vực.

Do những điều kiện môi trường và những phản ứng đối với những điều kiện này có sự khác biệt rất đáng kể giữa các nước trong khu vực, thậm chí ngay giữa những vùng miền khác nhau ở Trung Hoa, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, những suy tư trong văn chương Đông Á về mối quan hệ giữa con người với môi trường, đặc biệt là những mối quan hệ bao hàm sự biến đổi được gây ra đối với thế giới vô nhân, cũng có sự khác biệt rất lớn theo không gian và thời gian. Trong những năm tới, các nhà phê bình sinh thái sẽ cần phải hướng đến nhiều nền văn học hơn. Như tuyển tập này cho thấy, những nền văn học đa dạng ở Đông Á là mảnh đất màu mỡ cho nghiên cứu phê bình sinh thái ở thế kỷ XXI.

Song ngay cả khi phê bình sinh thái không dồn toàn bộ sự chú ý của mình vào các văn bản và cảnh quan trong các ngôn ngữ phương Tây, đặc biệt là Mỹ thì văn chương Đông Á, cũng như những nền văn học phi phương Tây khác, xét đến cùng, không thể được xem xét một cách cô lập. Chắc chắn, lĩnh vực này sẽ được hưởng lợi khi có nhiều học giả hơn quan tâm đến văn chương Đông Á và những văn bản ngoài phương Tây khác. Như Simon Estok đã nêu ngay trong lời giới thiệu, những phản ứng đối với tình trạng khủng hoảng môi trường, thậm chí ở quy mô toàn cầu đi nữa, thường mang tính địa phương như một tất yếu, với những biểu hiện văn hóa khác nhau. Việc khảo sát những ngữ cảnh và nền văn học địa phương này là một nhiệm vụ cấp thiết, không đơn thuần chỉ nhằm lập lại thế cân bằng trước tình trạng nghiên cứu trong lĩnh vực này quá dồn vào sáng tác viết bằng tiếng Anh mà còn để đào sâu hơn nhận thức, hiểu biết của con người về nhiều cảnh quan văn hóa đa dạng trên thế giới. Và tuyển tập này đã đưa ra những ví dụ rất thú vị về sự thực hành phê bình sinh thái trong những ngữ cảnh dân tộc và văn  hóa đặc thù.

Mặt khác, tuy văn hóa và những vấn đề môi trường là hai phạm trù riêng biệt nhưng chúng không phải là những hiện tượng đơn nhất và toàn cầu hóa phê bình sinh thái cũng là một nhiệm vụ cấp thiết. Chính là vì việc hệ sinh thái bị tàn phá là một hiện tượng toàn cầu nên những cách ứng xử của văn chương đối với tình trạng bị hủy hoại của môi trường thường vượt qua những nền văn hóa sản xuất và có thể xem những cách ứng xử này cùng hình thành nên các mạng lưới các chủ đề và khái niệm liên văn hóa. Xem xét những mạng lưới này sẽ là một phần của thực hành phê bình sinh thái, nếu không muốn nó đó còn là tương lai văn học. Trên thực tế, tôi cho rằng lý tưởng nhất là khi những hệ thống văn chương được nghiên cứu không chỉ trên đường ranh giới văn hóa/dân tộc mà phải còn trong những mạng lưới chủ đề và khái niệm mang tính liên văn hóa. Những mạng lưới quan trọng nhất đều hướng đến những vấn đề có ý nghĩa toàn cầu như đói nghèo, bệnh tật, tình trạng nô lê, chiến tranh và sự tàn phá môi trường. Chú ý đến những mạng lưới này, ta sẽ thấy văn học đã sẵn sàng vượt quá tất cả mọi dạng biên giới: môi trường, chính trị và quản lý, kinh tế, nhân khẩu, văn hóa và xã hội.

Những mạng lưới liên văn hóa là những mạng lưới các văn bản sáng tạo từ nhiều nền văn hóa tập trung vào những chủ đề gần gũi, cho dù tác giả của những văn bản này có chủ động tác động, gây ảnh hưởng đến văn bản của tác giả khác hay không. Werner Sollos đã chú ý đến tầm quan trọng của việc xem xét sự kiên định khi theo đuổi một đề tài:

“Bằng việc biến một đề tài cụ thể thành hằng số, sự kiên định và phạm vi của văn học có thể bắt đầu được phác họa; cùng lúc, nhiều biến số khác được mở ngỏ, mời gọi sự so sánh xuyên các thể loại và thời kỳ văn học… Điều có vẻ như mơ hồ, bí ẩn ở một tác phẩm đơn lẻ có thể được làm rõ khi tham chiếu với những văn bản văn chương và phi văn chương khác; dấu hiệu dường như mang tính cách tân cực đoan ở một văn bản hóa ra lại có thể được chia sẻ rộng rãi bởi những văn bản văn chương ra đời trước đó và những tài liệu khác; cái được ngợi ca như là sự hoàn thiện (hay như các nhà phê bình mới gọi là “sự thống nhất về đề tài”) của một văn bản đơn lẻ lại có thể nhìn nhận công bằng chúng chỉ là sự cấu hình lại những đề tài quen thuộc từ nhiều văn bản khác, có sắc thái hóa thêm ở mức độ nhất định.; những gì được xem là motif xác định trong văn chương của một nhóm sắc tộc có thể lại là đặc điểm được chia sẻ trong văn chương của nhiều nhóm sắc tộc, nhiều quốc gia khác; cái được nhìn nhận như một “sự lật đổ” một thành tố truyền thống gây sửng sốt và chú ý, tự thân nó, rất có thể lại thuộc về một truyền thống nào đó.” (25-6)

Tương tự, Rob Nixon đã  rất có lý khi đề nghị thay vì tự động phong cho những văn bản văn chương xoay quanh những vấn đề môi trường như quyền sử dụng đất đai, thử vũ khí hạt nhân, ô nhiễm, tràn dầu thành những điển phạm của văn chương viết về môi trường của một dân tộc, chúng ta nên đặt những tác phẩm này trong một ngữ cảnh quốc tế và xem xét chúng từ góc nhìn so sánh. Làm như vậy, chúng ta không chỉ có thể  đa dạng hóa các điển phạm văn chương về môi trường mà còn có thể xác lập lại các hệ hình phổ biến của các điển phạm này. Khảo sát văn chương viết về dầu mỏ, chẳng hạn, có thể cho phép ta khám phá những mối quan hệ giữa các văn bản của nhiều nhà văn khác nhau như các tác giả Mỹ Edna Ferber (1885-1968), Linda Hogan (1947-), Joe Kane (1899-2002) và Upton Sinclair (1878-1968); các nhà văn Nigeria như Ken Saro-Wiwa (1941-1995), John Pepper Clark (1935-) và Tayo Olafioye; và tiểu thuyết gia viết tiếng Arab người Jordan, Abdelrah-man Munif (1933-2004).

Đi xa hơn một bước trong việc tái cấu hình những hệ hình phê bình sinh thái là việc tập trung không phải vào những mạng lưới quốc gia hay thậm chí những mạng lưới được hình thành xung quanh một vấn đề môi trường cụ thể (mạng lưới đề tài) mà thay vào đó, là những mạng lưới được hình thành xung quanh những khái niệm (mạng lưới khái niệm). Thực sự nếu chỉ mở rộng phạm vi ngôn ngữ và địa lý của các văn bản đưa vào phân tích thôi thì chưa đủ. Lĩnh vực này còn cần đến những khái niệm mới, những cách tiếp cận lý thuyết mới, đặc biệt không bị giới hạn trong phạm vi những cư dân, những thời đại cụ thể. Chẳng hạn, trong cuốn Ecocritical Explorations in Literature and Cultural Studies, Patrick Murphy đã kêu gọi phát triển một thứ “lý thuyết phê bình sinh thái xuyên quốc gia”, nghĩa là ông muốn nói đến “một lý thuyết có thể cắt ngang, tức, băng qua những giới hạn của quan điểm và biên giới quốc gia… Tránh rơi vào chủ nghĩa địa phương không có nghĩa là thực hành một thứ chủ nghĩa phổ quát; nó cũng không có nghĩa là bỏ rơi ý niệm rằng phê bình sinh thái, cho dù ở bất cứ hình thức đa dạng nào, là môt thực hành văn chương, văn hóa quan trọng, thích đáng và cần thiết, cần phải được đẩy mạnh trên phạm vi toàn thế giới” (63).

KAREN THORNBER
Hải Ngọc dịch

(Còn tiếp)

TIN LIÊN QUAN:



Nhà văn Thùy Dương: Trăn trở với mỗi thân phận Người

Nếu không biết Thùy Dương sinh ra và lớn lên ở Hải Dương, sẽ đoán   chắc nàng là người Hà Nội gốc. Gọi là nàng v ì nàng không chỉ xinh đẹp, ...