Thứ Hai, 7 tháng 1, 2019

“Sinh thái học tinh thần” hay là “Văn hóa học”?

Hiện nay ở Việt Nam có một quan niệm cho rằng sinh thái học văn học, ngoài xu hướng nghiên cứu mối quan hệ giữa sinh thái (môi trường tự nhiên) với văn học, còn có xu hướng nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học với môi trường văn hóa tinh thần xã hội như là một vấn đề sinh thái, xem đời sống tinh thần xã hội là bối cảnh của sáng tạo văn học, coi những yếu tố của môi trường văn hóa tinh thần có tác dụng nuôi dưỡng, tác động đến văn nghệ là “môi trường sinh thái văn nghệ”. Vừa qua, xu hướng nghiên cứu này được một số người ở Việt Nam gọi là “phê bình sinh thái tinh thần”. Nó không nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học với môi trường tự nhiên mà với chính đời sống văn hóa tinh thần của con người (N.V.D nhấn mạnh). Nhưng thực sự đây có đúng là phê bình sinh thái tinh thần không?
GS. Nguyễn Văn Dân

Nói lí thuyết thì dễ, nhưng giá như những người có quan điểm nói trên đưa ra được một ví dụ minh hoạ về một công trình phê bình sinh thái tinh thần theo nghĩa là nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học với môi trường văn hóa tinh thần thì người đọc sẽ hình dung được ngay kiểu phê bình này là thế nào. Chẳng hạn như tôi, khi đọc cái định nghĩa về sinh thái tinh thần trên đây, tôi liên tưởng ngay tới cuốn sách Chủ nghĩa nhân văn dưới thời kì văn hóa Phục hưng của Đặng Thai Mai (1949) và tự hỏi: Cái này là phê bình sinh thái hay phê bình văn hóa học? Theo định nghĩa trên thì nó phải là phê bình sinh thái tinh thần. Nhưng tôi không tìm đâu ra cái yếu tố “sinh thái” trong công trình đó mà chỉ thấy ngay cái “khung cảnh văn hóa”. Cho nên nói lí thuyết chay mà không liên hệ với thực tiễn thì rất khó thuyết phục.

Sự thật là thuật ngữ “môi trường” có hai nghĩa: nghĩa thứ nhất là “điều kiện”, “hoàn cảnh”; nghĩa thứ hai là “điều kiện môi trường thiên nhiên”. Ở đây, trong xu hướng nghiên cứu nói trên, khái niệm “môi trường” trong cụm từ “môi trường văn hóa tinh thần” đã được hiểu là “điều kiện”, “khung cảnh”, “hoàn cảnh”, “bối cảnh”. Vì thế, việc nghiên cứu cái bối cảnh văn hóa tinh thần đó chính là một phần của văn hóa học, còn việc nghiên cứu mối quan hệ giữa văn hóa tinh thần với văn học là lĩnh vực của văn hóa học văn học chứ không liên quan gì đến sinh thái học văn học. Việc này đã được nhiều người làm từ lâu, như Bakhtin với công trình Sáng tác của François Rabelais với văn hóa dân gian thời trung đại và Phục hưng (viết năm 1940 như là một luận án tiến sĩ, xuất bản năm 1965), Đặng Thai Mai với công trình như tôi đã nói, Trần Đình Hượu với công trình Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại (1995), Trần Ngọc Vương với công trình Nhà Nho tài tử và văn học Việt Nam (1995)... Không ai có thể gọi những công trình này là “phê bình sinh thái”.

Và như vậy “phê bình sinh thái tinh thần” như quan niệm ở trên hoàn toàn không phải là sinh thái học văn học cũng như không phải là phê bình sinh thái học, mà nó chỉ là phê bình văn hóa học đối với cái “khung cảnh văn hóa tinh thần” mà thôi.

Chúng ta biết rằng sinh thái học là một ngành khoa học liên ngành nghiên cứu mối quan hệ tương tác giữa các cơ thể sống với môi trường thiên nhiên. Trong nhiều ngôn ngữ, thuật ngữ “sinh thái” có nghĩa gốc là “môi trường sống”. Ngành học này có nguồn gốc từ giữa thế kỉ XVI. Có thể coi công trình De re metallica (Về bản chất của kim loại) của nhà khoa học khoáng vật người Đức Georgius Agricola (tên thật Georg Bauer, viết từ những năm 1540, xuất bản năm 1556, một năm sau khi ông mất) là công trình đầu tiên nhắc đến ý tưởng sinh thái học khi ông viết: “Khi rửa quặng, nước dùng rửa quặng sẽ làm nhiễm độc các con nước, tiêu diệt hoặc xua đuổi các loài cá”. Tuy nhiên, phải đến giữa nửa cuối thế kỉ XIX thì ngành khoa học sinh thái mới chính thức được hình thành, từ đó, ngành khoa học này đã được mở rộng và phân chia thành nhiều nhánh như: sinh thái học tiến hoá, sinh thái học phân tử, sinh thái học nhân bản, sinh thái học xã hội, sinh thái học văn hóa, sinh thái học văn học, sinh thái học tinh thần, v.v... Nhưng vì là một khoa học liên ngành, cho nên các lĩnh vực chuyên ngành trên đây có sự liên hệ với nhau. Yếu tố then chốt của mỗi chuyên ngành là vấn đề “môi trường sống tự nhiên” (hay “môi trường thiên nhiên”) (tiếng Hi Lạp: “oikos”, tương đương “eco” trong “ecology” của tiếng Anh). Mỗi một chuyên ngành sinh thái học là một lĩnh vực nghiên cứu mối tương tác giữa vấn đề “môi trường sống tự nhiên” với yếu tố đặc thù của chuyên ngành đó, ví dụ sinh thái học xã hội nghiên cứu mối tương tác giữa vấn đề môi trường với xã hội, sinh thái học văn hóa nghiên cứu mối tương tác giữa vấn đề môi trường với văn hóa, sinh thái học văn học nghiên cứu mối tương tác giữa vấn đề môi trường với văn học, và sinh thái học tinh thần nghiên cứu mối tương tác giữa vấn đề môi trường với yếu tố tinh thần của con người. Vấn đề “môi trường sống tự nhiên” chính là yếu tố trục của mỗi chuyên ngành sinh thái học. Những công trình nghiên cứu nào không gắn với vấn đề “môi trường sống tự nhiên” thì không phải là khoa học sinh thái.

Như vậy, “môi trường tự nhiên”, tức “eco”, mang một nghĩa chuyên môn chứ không phải nghĩa sinh hoạt. Chúng ta không nên nhầm lẫn “eco” ở đây với “môi trường” theo nghĩa là “điều kiện”, “khung cảnh”, “hoàn cảnh” trong ngôn ngữ sinh hoạt như một số người đã nhầm lẫn khi nói đến “phê bình sinh thái tinh thần”. Ví dụ như người ta có thể nói và vẫn nói: môi trường thanh niên, môi trường trí thức, môi trường báo chí, môi trường học đường, môi trường gia đình... (chẳng hạn khi ta nói “Trẻ em lớn lên trong một môi trường gia đình theo mô hình một thế hệ...” thì “môi trường” trong câu này là “điều kiện”, “khung cảnh”, “hoàn cảnh” chứ không phải “eco” trong sinh thái học). Và “môi trường” trong “môi trường tinh thần” hay “môi trường văn hóa tinh thần” cũng phải được hiểu theo nghĩa như vậy. Nếu cứ mở rộng nghĩa của từ sinh thái như thế thì sẽ dẫn đến tất cả mọi lĩnh vực nghiên cứu về hoàn cảnh của xã hội và con người đều là sinh thái học.

Thực ra “phê bình sinh thái tinh thần” có thể được hiểu là “sinh thái học tinh thần” với tư cách là một phân nhánh của sinh thái học. Các nhà khoa học trên thế giới quan niệm rằng sinh thái học tinh thần là nghiên cứu mối quan hệ giữa vấn đề môi trường tự nhiên với tinh thần, tín ngưỡng và tôn giáo, chứ không phải là nghiên cứu cái môi trường (hay khung cảnh) văn hóa tinh thần như quan niệm của một số người mà chúng tôi đã nhắc đến ở trên.

Trên thế giới, sinh thái học tinh thần xuất hiện trong học thuật như là một lĩnh vực khoa học chủ trương rằng mọi vấn đề liên quan đến bảo vệ môi trường tự nhiên đều có một khía cạnh tinh thần, tín ngưỡng. Theo các nhà nghiên cứu ở Hoa Kì, sinh thái học tinh thần (tiếng Anh: “spiritual ecology”) có mấy nguyên tắc là: để giải quyết những vấn đề môi trường như sự suy kiệt giống loài, sự nóng lên toàn cầu, và sự tiêu dùng quá mức, nhân loại cần phải xem xét và đánh giá lại những thái độ và đức tin cơ bản của chúng ta về trái đất, cùng những trách nhiệm của chúng ta đối với hành tinh (quan điểm của Llywellyn Vaughan-Lee và những người khác trên diễn đàn của Đại học Yale, Hoa Kì). Cố vấn về biến đổi khí hậu của Hoa Kì James Gustave Speth đã nói: “Tôi thường nghĩ rằng những vấn đề môi trường hàng đầu là sự tổn hại đa dạng sinh học, sự tan vỡ hệ sinh thái và biến đổi khí hậu. Tôi tưởng rằng chỉ cần 30 năm với nền khoa học tiên tiến là chúng ta có thể giải quyết được những vấn đề này. Nhưng tôi đã nhầm. Những vấn đề hàng đầu của môi trường chính là thói ích kỉ, là lòng tham và sự vô cảm, và để giải quyết những vấn đề đó, chúng ta cần một sự cải biến văn hóa và tinh thần”(1). Như vậy, theo các nhà nghiên cứu, sự phục hồi và bền vững sinh thái nhất thiết phụ thuộc vào ý thức tinh thần và một thái độ trách nhiệm. Các nhà sinh thái học tinh thần đồng tình cho rằng điều này bao gồm cả việc công nhận sự sáng thế là thiêng liêng cũng như những ứng xử vinh danh sự thiêng liêng này.

Có thể coi cuốn sách Spiritual Ecology: The Cry of the Earth (Sinh thái học tinh thần: Tiếng kêu khóc của Trái Đất) do Llewellyn Vaughan-Lee chủ biên, (the Golden Sufi Center xuất bản lần đầu năm 2013, California, Hoa Kì), là cuốn sách cổ vũ cho sự ra đời của “phong trào sinh thái học tinh thần”, là phong trào đòi hỏi phải có những câu trả lời về tinh thần cho cuộc khủng hoảng sinh thái hiện nay. Cuốn sách có sự tham gia của nhiều nhà khoa học, nhà hoạt động môi trường, nhà hoạt động tôn giáo,... trong đó có Thiền sư Thích Nhất Hạnh của Việt Nam. Khi được hỏi: “Chúng ta phải làm gì để cứu Trái Đất của chúng ta”, Thiền sư đáp: “Điều cần thiết nhất chúng ta phải làm là hãy lắng nghe tiếng kêu khóc của Trái Đất đang vang vọng trong lòng ta” (được dịch sang tiếng Anh trong cuốn sách này là: “What we most need to do is to hear within us the sound of the earth crying”)(2). Câu nói nổi tiếng này được đưa lên trang giới thiệu cho cuốn sách. Theo tôi, câu nói của Thiền sư Thích Nhất Hạnh chính là một định nghĩa ngắn gọn nhất nhưng cũng đầy đủ nhất về sinh thái học tinh thần: Hãy coi Trái Đất như là một thực thể thiêng liêng đang có nguy cơ bị huỷ diệt mà con người có nghĩa vụ đạo đức tinh thần đối với việc cứu vớt nó. Trong định nghĩa này có vấn đề sinh thái (câu nói: Trái Đất đang khóc), có yếu tố tinh thần, tâm linh (câu nói: con người hãy lắng nghe tiếng khóc đó) và có đạo đức học sinh thái (câu nói: điều cần thiết nhất). Tiến sĩ Llewellyn Vaughan-Lee là người giảng đạo Sufi và là người sáng lập Trung tâm Đạo Sufi Vàng (Golden Sufi Center) tại Bắc California, Hoa Kì.

Điều này rất phù hợp với tinh thần của UNESCO. Trong bản tuyên bố Mexico 1982, UNESCO đã nói đến trách nhiệm đạo đức của văn hóa. Từ trách nhiệm đạo đức, ngày nay người ta đang nói đến một nền “đạo đức học sinh thái”. Nhà triết học người Nhật nổi tiếng tên là Tomonobu Imamichi (từng là Chủ tịch Viện Triết học Quốc tế ở Paris, mất năm 2012) năm 2003 đã cho rằng, phẩm hạnh đạo đức mới của con người hiện đại trong kỉ nguyên toàn cầu hóa là kết quả của sự chuyển biến ngữ nghĩa từ phẩm hạnh đạo đức truyền thống sang phẩm hạnh “trách nhiệm về đạo đức sinh thái”(3). Ông Ban Ki-moon khi còn là Tổng thư kí Liên Hiệp Quốc đã tuyên bố ngày 4-12-2015 rằng: “Các cộng đồng tín ngưỡng sẽ có ý nghĩa sống còn để cho những nỗ lực toàn cầu có thể giải quyết được thách thức của khí hậu. Họ nhắc nhở chúng ta về những chiều cạnh đạo đức của sự biến đổi khí hậu, và về nghĩa vụ của chúng ta đối với việc quan tâm đến cả môi trường mong manh của Trái Đất lẫn những người đồng loại trong cơn hoạn nạn của chúng ta”(4). Có thể nói, đạo đức học sinh thái là “trách nhiệm của chúng ta với Trái Đất” và cũng chính là sinh thái học tinh thần của thời đại ngày nay. Những chữ “Trách nhiệm với Trái Đất” và “Phát triển bền vững” đang được các tổ chức của Liên Hiệp Quốc nhắc đến nhiều nhất. Trái Đất luôn là trung tâm của sự quan tâm sinh thái học tinh thần. Như vậy, nghiên cứu đời sống văn hóa tinh thần ngoài mối liên hệ với môi trường tự nhiên thì không phải là sinh thái học tinh thần mà là “văn hóa học”.

Qua những gì mà các nhà khoa học và các nhà hoạt động xã hội - môi trường trên thế giới quan niệm thì thuật ngữ tiếng Anh “spiritual ecology” có thể được hiểu là “sinh thái học tinh thần” hoặc “sinh thái học duy linh” hay “sinh thái học tâm linh”. Đó là lí do giải thích tại sao phong trào “spiritual ecology” của thế giới lại có nhiều nhà hoạt động tôn giáo tham gia. Tuy nhiên ta có thể chấp nhận cách dịch phổ biến hiện nay ở Việt Nam là “sinh thái học tinh thần” (ngay bản chương trình song ngữ Anh - Việt của Hội thảo quốc tế về phê bình sinh thái do Viện Văn học tổ chức ngày 14-12-2017 vừa qua tại Hà Nội cũng dịch như vậy), nhưng nên hiểu đó là cái nhìn sinh thái từ góc độ tư tưởng, tình cảm, tín ngưỡng và tôn giáo của con người. Thực tế sinh thái học tinh thần là một lĩnh vực nghiên cứu và phê bình sinh thái khởi phát từ phương Tây, nên người ta thường lấy thuật ngữ tiếng Anh “spiritual ecology” để diễn đạt. Tôi không biết các nhà khoa học Trung Quốc tiếp thu quan niệm nghiên cứu này như thế nào, nhưng những gì được một số nhà nghiên cứu Việt Nam phát biểu qua nguồn Trung Quốc cho thấy đã có một sự biến dạng khác xa quan niệm của “sinh thái học tinh thần” phương Tây. Nếu các nhà khoa học Trung Quốc muốn đưa ra một quan niệm mới về sinh thái học tinh thần mà không làm cho nó trùng lặp với một lĩnh vực nghiên cứu văn hóa đã hình thành từ trước thì đó là một chuyện khác. Nhưng nếu coi đó là quan niệm sinh thái học tinh thần của cả thế giới thì là một sự ngộ nhận. Đặc biệt là nếu đồng nhất quan niệm đó với lĩnh vực văn hóa học đang tồn tại thì lại càng là một nhầm lẫn không đáng có.

Nhà khoa học có thể phát minh ra một hướng nghiên cứu mới, đó là quyền tự do sáng tạo. Nhưng ở đây, việc phát minh ra hướng nghiên cứu gọi là “phê bình sinh thái tinh thần” đã vướng phải hai trở ngại làm cho nó không có lí do tồn tại: một là nó trùng tên với một lĩnh vực nghiên cứu đã có trên thế giới nhưng với nội dung hoàn toàn khác: đó là “sinh thái học tinh thần”; hai là nó trùng nội dung với một lĩnh vực khoa học khác của thế giới cũng đã xuất hiện từ lâu nhưng lại mang một cái tên khác: đó là “văn hóa học”. Đó là hai trở ngại để buộc nó nếu muốn tồn tại thì hoặc là phải đổi tên, hoặc là phải thay đổi nội dung. Đừng nên nói đây là ý kiến “đa nguyên” hay “trái chiều” để nguỵ biện cho quyền tồn tại của nó, mà thực tế chỉ đơn giản nó là một sự nhầm lẫn. Mà nhầm thì phải sửa. Không bao giờ được coi “nhầm lẫn” là “trái chiều”.

Như vậy, việc nghiên cứu cái “môi trường” văn hóa tinh thần thực sự không liên quan gì đến sinh thái và sinh thái học. “Môi trường” ở đây được hiểu là “khung cảnh”, “hoàn cảnh” chứ không phải là “môi trường tự nhiên”. Vì thế cách nói “môi trường văn hóa tinh thần” đồng nghĩa với cách nói ngắn gọn là “văn hóa tinh thần”. Vấn đề này thuộc lĩnh vực “văn hóa học” đã có từ lâu, không nhất thiết và không được gán cho nó cái thuộc tính “sinh thái học”. Việc gắn thêm thuật ngữ “môi trường” với nghĩa “hoàn cảnh” cho cụm từ “văn hóa tinh thần” thực chất là một hiện tượng mà trong logic học người ta gọi là sự lặp thừa (tiếng Anh: “tautology”). Trong logic học, sự lặp thừa xuất hiện khi người ta vô tình hoặc cố ý dùng ghép những từ, những câu khác nhau nhưng có khả năng diễn đạt cùng một ý, làm thành những phát ngôn không có thông tin mới. Theo tinh thần này, ta có thể bỏ thuật ngữ bị lặp thừa mà ý của cụm từ hay của câu vẫn được bảo toàn. Trong trường hợp của cụm từ “môi trường văn hóa tinh thần”, ta có thể bỏ thuật ngữ “môi trường” mà ý của cụm từ đó vẫn không thay đổi. Lặp thừa là một hiện tượng khá phổ biến hiện nay. Trong một số tình huống diễn ngôn, lặp thừa có ý nghĩa tu từ. Tuy nhiên về mặt logic, sự lặp thừa không đơn giản chỉ là sự thừa chữ thừa câu, mà nó thường dẫn đến việc hiểu sai ý và làm nhầm lẫn quan niệm. Nhầm lẫn “môi trường” theo nghĩa sinh hoạt với “môi trường” theo nghĩa chuyên môn sẽ dẫn đến việc coi tất cả các nghiên cứu về “hoàn cảnh” đều là sinh thái học (vì thấy nó có chữ “môi trường”).

Như vậy, phê bình sinh thái văn học, hay sinh thái học văn học, nếu muốn kết hợp với “phê bình sinh thái tinh thần” hay “sinh thái học tinh thần” (hoặc “phê bình sinh thái duy linh” hay “sinh thái học duy linh”), thì phải làm rõ được cái khía cạnh tinh thần/ duy linh và vai trò của nó trong những vấn đề môi trường, chứ không nên biến cụm từ “sinh thái tinh thần”, gồm hai yếu tố là “môi trường sinh thái” và “tinh thần”, thành khái niệm lặp thừa gồm một yếu tố là “môi trường tinh thần” với nghĩa là “bối cảnh tinh thần” để nhầm lẫn phê bình sinh thái tinh thần với phê bình văn hóa học.

NGUYỄN VĂN DÂN
Nguồn: VNQĐ

________________

1. Spiritual ecology, https://en.wikipedia.org.
2. The Golden Sufi Center, https://goldensufi.org.
3. Tomonobu Imamichi, “The Concept of an Eco-ethics and the Development of Moral Thought” (Khái niệm đạo đức học sinh thái và sự phát triển tư tưởng đạo đức), Revue internationale de philosophie moderne (Tạp chí quốc tế về triết học hiện đại), Tokyo, Japan, 2003, pp. 1-9.
4. Spiritual ecology, nguồn đã dẫn.


TIN LIÊN QUAN:



Chủ Nhật, 6 tháng 1, 2019

Phan Hoàng - chùm thơ II

     Nhà thơ Phan Hoàng

Con trâu thiêng

Ở phía ấy chiều chiều
ông tôi ngồi trầm tư nhìn
rít từng hơi thuốc rê dài hơn tuổi tác
khói xoắn tóc râu bay trắng cõi nhớ mông lung

Ở phía ấy chiều chiều
bà tôi ngồi mòn mỏi nhìn
miệng mỏm mẻm đỏ lửa nhai trầu
mùi trầu chạm khoé mắt sắc mặn lặn vào cõi nhớ xa xăm

Ở phía ấy chiều chiều
mẹ tôi ngồi thất thần nhìn
nén từng hơi thở dài quay mặt khóc
những giọt nước mắt xói mòn đôi vai gầy guộc cô đơn

Ở phía ấy chiều chiều
lũ trẻ làng tôi dung dăng ngắm nhìn
hòn núi lẻ như con trâu thần khổng lồ canh giữ ruộng nương
đàn chim xếp đội hình chữ V bay về treo giấc mơ trên hốc đá

Lũ trẻ làng lần lượt lớn lên
người già rủ nhau về đất
đàn chim càng chiều càng đông
con trâu thiêng vẫn nằm yên góc trời riêng bí mật
những bí mật lóng lánh xót xa như nước mắt mẹ tôi lặng lẽ gầy

Ở phía ấy một chiều
cổ họng tôi bỗng dưng có bàn tay vô hình siết chặt
sau những loạt bom thảng thốt xóm làng
con trâu thiêng từ biệt ruộng nương mãi mãi bay vào cổ tích
(như ngày xưa dưới mưa bom bao người lính bám trụ nơi đây biến mất)
từng tảng đá xanh giống khối thịt trâu bị chém, chặt, đục, đẽo áp tải bán buôn khắp mọi ngả đường…

10.10.2008


Khi người nông dân để lại cánh đồng

Người nông dân
                           lần lữa
                                       rời cánh đồng
bước chân nặng nề chậm chạp
như con bò già kéo cày giữa trưa đứng bóng
sau lưng thời gian sấm chớp

không còn nữa những tối lai rai bàn giống lúa mới
không còn nữa những khuya bồn chồn tỉnh giấc đợi tiếng gà
không còn nữa những trưa thiêm thiếp chiêm bao giữa bầy tu hú
không còn nữa những chiều hỉ hả đốt đồng mùa gặt bội thu…

Người nông dân
                           lững đững
                                             ngoảnh lại cánh đồng
bước chân nặng nề chậm chạp
như làn mây xám mệt mỏi trôi qua rặng núi chiều đông
sau lưng đất đai sấm chớp

màu cỏ sân gôn sẽ thay màu lúa tình tự ngàn đời
dãy dãy tường cao sẽ thay bờ vùng bờ thửa
từng dải khói đen sẽ thay những đàn cò trắng
tiếng máy buốt đêm sẽ thay tiếng nhạc côn trùng…

Người nông dân
                           lầm lũi
                                         để lại cánh đồng
bước chân nặng nề chậm chạp
như người lính bị tước vũ khí cúi mặt rời khỏi chiến trường
sau lưng rền vang sấm chớp

10.10.2007


Tôi đang ở đâu?

Tôi đang ở đâu mảnh vườn trĩu nặng lời ru của mẹ?
Tiếng hát nhép người đẹp cởi truồng đuổi mất cánh cò cánh vạc!

Tôi đang ở đâu dòng sông thẳm xanh tắm gội tuổi thơ?
Dòng sông bị bắn trọng thương bởi những viên đạn bọc đường lén lút!

Tôi đang ở đâu trái tim thôn nữ rụt rè bước khỏi cổng làng?
Trái tim lạc nhịp đánh vật xứ người trả lãi từng đồng đô la nhan sắc!

Tôi đang ở đâu trong lòng bạn bè xuống biển lên rừng?
Bè bạn chạy đua cơn khát sữa con thơ giữa phiên chợ đời lạm phát!

Tôi đang ở đâu phố phường lưu dấu tổ tiên mở đất dựng đình?
Láng giềng không nhớ nổi mặt nhau giữa siêu thị mặt người chen chúc!

Tôi đang ở đâu đất nước sinh từ hồn thiêng nghĩa sĩ vô danh?
Đất nước dãi dầu hạt gạo anh hùng, xảo quyệt đám rầy nâu chưa bị hành quyết!

Tôi đang ở đâu cây bút mang đầy danh hiệu sứ mệnh?
Cây bút vô cảm trước thân phận dân nghèo, im lặng trước lãnh thổ đe doạ ngoại xâm, bất lực trước cái ác trá hình nhũng nhiễu!

Tôi đang ở đâu cây bút mang đầy danh hiệu sứ mệnh?
Tôi đang ở đâu?
Ở đâu?


Ly hương gió

Đường cao tốc
dựng
tường bê tông
đồng vắng
gió nội ngoại tình mất trắng mùa xanh

Đất ly nông đất
người ly quê người
gió ly hương gió
tôi ly thân tôi

Người tái vết xước
tôi rước vết thương
gió nông nỗi nổi
lòng lênh lan buồn

Chiều ăn phố sực mùi khoai lang nướng
Gió hú nhớ đồng thơm dậy giấc cố hương

15.5.2005
PHAN HOÀNG
(Trích từ tập Chất vấn thói quen)


TIN LIÊN QUAN:




Thứ Bảy, 5 tháng 1, 2019

Đoàn Giỏi & những áng văn của đất của rừng phương Nam

Đất rừng Phương Nam (1957) của Đoàn Giỏi không chỉ là tác phẩm phổ biến trong giới học sinh - sinh viên. Đối với độc giả khắp nơi trên mọi miền đất nước, họ xem tác phẩm ấy như một áng văn về con người, về vùng đất Nam bộ khá điển hình. Cho nên, Đất rừng phương Nam càng phổ biến khi được dịch ra nhiều thứ tiếng: Nga, Ba Lan, Trung Quốc, Đức, Tây Ban Nha…
Nhà văn Đoàn Giỏi

Được biết, tác giả của tác phẩm ấy xuất thân từ một gia đình địa chủ lớn, có hàng trăm héc ta ruộng vườn cò bay thẳng cánh, ngôi nhà thênh thang cổ kính và uy nguy như đình làng. Tất cả những tài sản ấy, gia đình ông đã hiến cho kháng chiến trong thời kỳ chống Pháp. Để rồi khi đất nước hòa bình độc lập, Đoàn Giỏi cứ lang thang ngày đây mai đó… Cho đến khi qua đời, bệnh viện Thống Nhất - Thành phố Hồ Chí Minh là nơi ông dừng chân cuối cùng.

I. CUỘC ĐỜI CHÌM NỔI

Nhà văn Đoàn Giỏi sinh ngày 15 tháng 7 năm 1925 tại thị trấn Tân Hiệp - Châu Thành - Tiền Giang. Cùng một huyện Châu Thành, thị trấn Tân Hiệp không mang dáng dấp oai hùng như thị trấn Vĩnh Kim bao lần đánh tan quân xâm lược, nó cũng không phải là vùng địa linh với những nhân tài tên tuổi lừng danh như đất Vĩnh Kim. Thế nhưng ở tại thị trấn Tân Hiệp, người dân Tiền Giang không khỏi tự hào với một Đoàn Giỏi khí phách hiên ngang,với một Đất rừng phương Nam bạt ngàn hào phóng, với một người chiến sĩ cách mạng dũng cảm gan dạ.  
     
Nhà văn Đoàn Giỏi chính là người con thứ tư (Nam bộ gọi là thứ năm) của ông Đoàn Văn Vàng và bà Nguyễn Thị Kiểu. Ông bà này có tất cả mười người con: Đoàn Văn Mỹ, Đoàn Thị Ba, Đoàn Thị Tư, Đoàn Giỏi, Đoàn Phú, Đoàn Thị Đức, Đoàn Ngọc Hưng, Đoàn Nhân và Đoàn Thị Tuyết.Trong những người con ấy, Đoàn Giỏi, Đoàn Phú, Đoàn Nhân là những người từng tham gia hoạt động cách mạng trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Họ đều là những chiến sĩ bất khuất trung kiên, dũng cảm trên khắp các chiến trường.
     
Cha Đoàn Giỏi, ông Đoàn Văn Vàng là một địa chủ trí thức tiến bộ và yêu nước. Ông từng làm chủ hàng trăm héc ta ruộng vườn. Những năm đó, vùng đất cò bay thẳng cánh ở huyện Châu Thành chính là tài sản riêng của gia đình ông. Rồi sau Cách mạng tháng Tám, ông Đoàn Văn Vàng đã hiến tất cả tài sản ấy cho chính quyền ta. Từ nghĩa cử cao đẹp ấy, ông Đoàn Văn Vàng như tạo điều kiện cho chính mình, một điền chủ lớn đã xích lại gần với cách mạng.
        
Thuở nhỏ, Đoàn Giỏi học ở trường trung học Mỹ Tho. Sau đó, ông theo học trường Cao đẳng Mỹ thuật Gia Định. Cứ tưởng, cuộc đời và số phận của Đoàn Giỏi đã gắn liền với cây cọ, với nét vẽ. Nào ngờ năm 1943, khi Đoàn Giỏi sáng tác được một truyện ngắn đầu tiên thì xem như cuộc đời ông chuyển sang bước ngoặt mới. Truyện ngắn ấy được nhà văn Hồ Biểu Chánh chọn đăng trên tờ Nam kỳ tuần báo. Cũng từ truyện ngắn đó, Đoàn Giỏi xem Hồ Biểu Chánh như một người thầy của mình đối với trong văn chương. Sau đó, những truyện ngắn khác của Đoàn Giỏi viết bao giờ cũng được sự góp ý chân tình từ Hồ Biểu Chánh. Về sau, tác phẩm của Đoàn Giỏi gần gũi với người dân lao động như cách tư duy của Hồ Biểu Chánh. Nhưng phong cách và văn chương của Đoàn Giỏi lại mạnh mẽ, gai góc, cuồng nhiệt như chính cá tính của ông.
     
Mặc dù trong thời kỳ đầu, con đường nghệ thuật đã mở lối chào đón Đoàn Giỏi, nhưng ông lại rẽ lối khác. Công việc mà ông quyết định chọn và tìm đến hoàn toàn không liên quan gì đến nghệ thuật. Hội họa và văn chương, Đoàn Giỏi đã gác sang một bên. Đó là năm 1947, Đoàn Giỏi về làm trưởng công an huyện Châu Thành. Thời gian này, ông phải phụ trách mười xã đang rơi vào thời kỳ khó khăn về mặt kinh tế cũng như tinh thần của người dân do chiến tranh gây ra. Năm 1948, Đoàn Giỏi được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương và giữ chức phó ty tuyên truyền tỉnh Định Tường (nay thuộc tỉnh Tiền Giang). Cùng thời gian này, Đoàn Giỏi kiêm luôn vị trí chủ bút tờ báo Tiền Phong của Mặt trận Việt Minh Mỹ Tho. Được hai năm, Đoàn Giỏi chuyển công tác đến nơi khác, đó là năm 1950, ông chuyển sang làm phó ty công an tỉnh Rạch Giá (nay thuộc tỉnh Kiên Giang).
    
Năm 1951, Đoàn Giỏi về công tác tại thường vụ Hội Văn nghệ Nam bộ và là thành viên của Hội đồng biên tập tạp chí Lá Lúa. Công việc này đã nung nấu và khơi dậy vốn văn chương tiềm ẩn nơi Đoàn Giỏi. Ông đã cầm bút trở lại. Đề tài về con người và đất Tiền Giang luôn được Đoàn Giỏi chú ý và quan tâm. Những công việc thuộc về ngành hành chính, Đoàn Giỏi gần như không mấy mặn mà nữa. Công việc viết lách luôn thúc giục ông gần gũi với người dân lao động, với hoàn cảnh xã hội thời ấy.      
     
Năm 1954, Đoàn Giỏi tập kết ra Bắc. Tác phẩm Đất rừng phương Namđã thai nghén và ra đời tại miền Bắc. Dân gian thường bảo văn là người. Phải chăng vì lẽ đó, những áng văn chương của Đoàn Giỏi như chính cá tính của ông. Một Đoàn Giỏi phóng khoáng, hào hiệp và luôn luôn sâu nặng với miền đất phương Nam. Tác phẩm của Đoàn Giỏi thường đậm chất nghĩa khí và hào hùng. Dù có sinh sống, công tác, hoạt động ở đâu, ông cũng luôn luôn hướng về vùng đất Nam bộ. Bản chất Đoàn Giỏi lại là người rất chịu khó tìm tòi và hay nghiên cứu mọi chuyện một cách ngọn ngành. Cho nên, văn của ông thường rất góc cạnh, gồ ghề nhưng cũng chân tình và hồn nhiên như chính miền đất hoang sơ và hào phóng của miền Tây Nam bộ. Nhà thơ Chế Lan Viên đã nhận xét: Đoàn Giỏi là một trong những người đầu tiên truyền bá ngôn ngữ Nam bộ hiện đại qua những tác phẩm của mình… [1]
    
Không riêng gì giọng văn, cuộc đời thường của Đoàn Giỏi cũng vậy, rất Nam bộ và đặc sệt miền Tây Nam bộ. Mọi thói quen hàng ngày, Đoàn Giỏi vẫn giữ đúng phong cách Nam bộ, dù sống trên mảnh đất miền Bắc hay ở đất trời châu Âu. Năm Kỷ Tỵ 1989, Đoàn Giỏi qua đời với bao giấc mộng chưa hoàn tất tại bệnh viện Thống Nhất, Thành phố Hồ Chí Minh.
     
Hiện nay ở Châu Thành - Tiền Giang, tên tuổi của nhà văn Đoàn Giỏi đã gắn liền với trường Trung học cơ sở Tân Lý Tây – huyện Châu Thành – tỉnh Tiền Giang. Còn về cuộc đời riêng, Đoàn Giỏi đã trải qua hai cuộc hôn nhân. Thế nhưng ông chỉ có một người con duy nhất với người vợ đầu tiên, đó là Đoàn Quang Viễn. Đoàn Quang Viễn sinh năm 1958, sinh sống tại Tân Hiệp - Châu Thành - Tiền Giang, bên cạnh nền nhà mà ông nội Đoàn Văn Vàng đã hiến cho cách mạng. Ông Đoàn Văn Viễn cũng có một người con trai duy nhất đó chính là Đoàn Quang Minh, sinh năm 1980. Rất tiếc là số phận của Đoàn Quang Viễn cũng rất ngắn ngủi như cha mình, ông đã ra đi vào một ngày cuối năm của năm 2005 tại bệnh viện đa khoa thành phố Mỹ Tho – tỉnh Tiền Giang, do tai biến mạch máu não.

II. SỰ NGHIỆP VĂN CHƯƠNG

Năm 1954, Đoàn Giỏi tập kết ra Bắc. Ông đặt chân lên mảnh đất mới này chưa đầy một năm (1955), độc giả Hà Nội đã biết đến tên tuổi Đoàn Giỏi qua bài ký Đèn tôi bay về Lục Hồ Chí Minh với một phong cách mới lạ, riêng biệt. Rồi chẳng bao lâu sau, bạn bè đồng nghiệp, độc giả xa gần lại chú ý đến Đoàn Giỏi sự chững chạc và phong cách vững vàng trong sáng tác qua nhiều truyện ngắn. Và ông đã tạo một sự ngạc nhiên cho người đọc qua hàng loạt tác phẩm thú vị, ly kỳ về miền đất phương Nam. Bởi những tác phẩm ấy đầy chất Nam bộ, hài hòa dưới ngòi bút tài hoa và sắc sảo. Từ những tác phẩm đầu tay như Cây đước Cà Mau, Ngọn tầm vông…, nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đã đánh giá khá cao về tài năng của Đoàn Giỏi: Thấy có vảy, có cựa, có mã rồi đấy. Đứng được trường chọi, cậu còn phải nỗ lực cố gắng, mất nhiều công sức nữa đấy  [2]. Phải chăng từ những lời động viên đó của Nguyễn Huy Tưởng, Đoàn Giỏi như đã tìm được nguồn đồng cảm, sự chia sẻ từ các bậc đàn anh trong nghề nghiệp của mình. Rồi nhờ những lời động viên của thế hệ đàn anh, Đoàn Giỏi như được chấp cánh, niềm đam mê thúc đẩy ông một cách mạnh mẽ để lao vào con đường văn chương, chọn văn chương để làm điểm tựa. Ông còn tìm đến văn chương như sự chia sẻ, động viên trong những ngày sống xa quê. Và hơn thế nữa, Đoàn Giỏi đã chọn con đường văn chương để làm sự nghiệp trọn đời mình. Khi Nguyễn Huy Tưởng qua đời, trong bài viết Nguyễn Huy Tưởng - một người thầy - một người bạn - một người anh, Đoàn Giỏi đã bộc bạch cảm xúc: Điều anh luôn nhắc nhở tôi là chú trọng sắc thái địa phương nhưng đừng có abusé (lạm dụng) ngôn ngữ, luôn dặn dò tôi phải chịu khó ghi chép hàng ngày và nghiêm túc học tập. Nói chuyện công việc nghề nghiệp, anh phân tích thế nào là cá tính và tính cách nhân vật, thế nào là đột phá
     
Chỉ là những lời động viên của người anh đồng nghiệp, Đoàn Giỏi đã chọn làm hành trang và mang theo suốt quá trình sáng tác. Điều này chính là cái hay của Đoàn Giỏi. Dù là một người mạnh mẽ, bộc trực, quyết đoán nhưng ở Đoàn Giỏi, ông luôn lắng nghe và tự học, tự trau dồi kiến thức cho mình. Đặc biệt, Đoàn Giỏi luôn ghi nhận những lời góp ý của đồng nghiệp và những lời khen chê của độc giả. Nhà thơ Chế Lan Viên đã từng viết về Đoàn Giỏi: Khá may cho Đoàn Giỏi là sau ba mươi năm, nhiều bài của anh đọc lại, vẫn chịu được kỹ thuật chăng? Tài năng chăng? Chớ về thông tin, về chất liệu thì quả là vừa vậy vừa không phải vậy. Năm Căn tôi đã đến rồi, cây đước tôi đã thấy rồi, bà má Năm Căn và hàng ngàn bà má khác tôi đã gặp rồi, thế sao đọc các bài văn kia tôi vẫn xúc động. Có gì ở đằng sau chất liệu kia, trên hay dưới, hay bạt ngàn chung quanh chất liệu kia, vừa là nó vừa không phải nó. Cái gì vậy? Tôi muốn nói đó là tâm hồn, đó là tấm lòng, đó là sự xúc động chân thành của tác giả. Cái đó giúp cho chất liệu đi qua mà không chìm, không tan rã trong thời gian. Ba mươi năm! Cố nhiên là người đọc ngây thơ, cả tin ngày ấy là tôi nay đã tinh khôn, láu lĩnh, láu cá nữa, không ai dễ lừa mình như trước. Nhưng khi tác giả đã chân thành lúc viết thì tất cả sự láu khôn của người đọc hóa thành không có chỗ đứng. Họ viết bằng trái tim trần và mình phải đọc bằng trái tim trần. Những đọc giả trí tuệ ở các đô thị hiện đại ngày nay xúc động trước các câu dân ca trên núi cao thời xưa là theo quy luật đó… [3]
     
Không riêng giới chuyên môn, bất cứ một ai khi đọc văn của Đoàn Giỏi, họ đều như rơi vào tâm trạng đọc những trang lịch sử mang đậm chất văn hóa đặc trưng của một vùng đất. Bởi văn của Đoàn Giỏi thường ngồn ngộn nguồn tư liệu và vốn sống có được từ tác giả. Cũng điều đó, nhà thơ Xuân Diệu đã dâng trào cảm xúc khi đọc truyện ngắn Cây đước Cà Mau của Đoàn Giỏi. Dù chưa đến Năm Căn bao giờ, nhưng Xuân Diệu làm bài thơ Bà má Năm Căn rất hay, rất cảm động là do những hình ảnh ấy có sẵn trong bức tranh của truyện ngắn Cây đước Cà Mau  của Đoàn Giỏi. Cái hay ở đây là nguồn cảm xúc rất thật, rất sống động từ Đoàn Giỏi đã tạo nên một nguồn cảm xúc mới cho Xuân Diệu, để có thêm tác phẩm mới một cách độc đáo, dù ở một thể loại văn học khác.
     
Những năm tháng đất nước ta vừa chiến thắng Điện Biên Phủ, vừa đuổi xong giặc Pháp, lập lại hòa bình với một nửa Tổ quốc là miền Bắc sống trong độc lập tự do. Những người con ưu tú của miền Nam đã tập kết ra Bắc, trong đó có Đoàn Giỏi. Ông ra Bắc không chỉ mang theo lý tưởng của người thanh niên miền Nam mà còn mang theo cả sông núi, con người, cây cỏ, chim muông, khí hậu, ngôn ngữ miền Nam để góp phần vào kho tàng văn chương của cả nước. Ở truyện ngắn Cây đước Cà Mau của Đoàn Giỏi, những chi tiết về bà má Năm Căn định gửi mắm tép ra cho cụ Hồ, gửi cây đước miền Nam ra trồng giữa hồ Hoàn Kiếm rất sắc sảo. Phải chăng từ những câu chuyện trên, Đoàn Giỏi như gửi gắm tình cảm của mình đến con người và mảnh đất phương Bắc. Bởi tất cả hình ảnh trong Cây đước Cà Mau đều rất sống động,  chân tình như người dân Nam bộ. Điển hình như đoạn văn mà Đoàn Giỏi đã viết về bà má Năm Căn chuyện trò với một đồng chí giao liên:

Tôm cá thì đủ thứ, thiếu gì! Tôm càng xanh bằng cườm tay, tép xà búi bằng ngón chân cái, tép bạc lưới về, đổ đống như đống lúa cả trăm giạ. Cá dứa thì có mùa, thuộc loại ngon nhất ở đây. Thịt mềm ngọn xớt. Nấu canh chua ngon lắm. Mỗi tháng có hai ngày ba khía hội. Nước rong, ba khía leo bám đầy lên rễ, lên thân cây đước, cây vẹt. Ba khía làm mắm, chở lên tới Mỹ Tho, Sài Gòn. Cua biển cũng nhiều lắm. Các trại đáy kéo lên, chỉ lấy cá tép. Cua cho ai bắt thì bắt. Thường thường thì đổ xuống sông lúc không có người mua. Cua lột tháng tám mới ngon, và thịt chắc nhất. Bụng đầy gạch son. Lớp luộc, lớp chiên bột, lớp làm mắm nhận trong muối hột. Chừng nào ăn, lấy ra rửa sạch tán nhuyễn, trộn với đường, mỡ, tỏi ớt, chấm với tôm nướng, thịt luộc, ăn rau sống bánh tráng không gì bằng. Tao nhắc còn nhểu nước miếng đó thì bây biết. Còn nói gì sò huyết, vọp, nghêu, cứ nước kém chèo thuyền ra lấy bồ cào, cào đổ lên chớ hơi nào mà bắt… [4]
     
Những truyện ngắn khác, Đoàn Giỏi vẫn thể hiện theo cách riêng của mình như vậy. Cốt truyện của ông thường sâu lắng, sinh động. Những truyện Người tù chính trị năm tuổiVượt tuyến… Dù là những câu chuyện sâu nặng về hình ảnh người lính, nhưng thấp thoáng đâu đó, người đọc vẫn nhận ra phong cách riêng của một nhà văn, của rừng, của đất phương Nam. Ở ông, phong cách ấy luôn mang đậm chất tư liệu, vốn sống, sự từng trải của người cầm bút. Cũng giống như những nhà văn khác, Đoàn Giỏi luôn đi tìm cái mới trong sáng tác. Vì vậy, những tác phẩm Đoàn Giỏi bao giờ cũng mới lạ, hấp dẫn và độc đáo đối với người đọc. Cho dù những tác phẩm ấy thường là những nỗi khát vọng, hoài bão, ý chí của những con người đang sống trong chiến tranh. Nhưng ở tận chiều sâu tư tưởng của mỗi tác phẩm, sự giải thoát của nhân vật do chiến tranh tạo ra đều được ông chú trọng và đặt lên hàng đầu.
        
Riêng tác phẩm Cuộc truy tìm kho vũ khí (1962) của Đoàn Giỏi đã được dịch sang tiếng Hungary. Tác phẩm đã được Đoàn thanh niên Hugary tổ chức "Cuộc thi tìm hiểu và phân tích những nhân vật trong tác phẩm". Từ cuộc thi ấy, tên tuổi Đoàn Giỏi được nhắc đến như một tác giả của những câu chuyện dành riêng cho lứa tuổi mới lớn ở nước ngoài.
     
Những tác phẩm trước đây của Đoàn Giỏi gần như có cùng một chủ đề. Bởi chiến tranh là nỗi đau tột cùng của người dân cũng như của tác giả. Cho dù ra đời trong hoàn cảnh chiến tranh, nhưng những tác phẩm ấy đã để lại khá nhiều ấn tượng về cuộc sống, về con người, về quê hương đất nước cho bạn đọc qua nhiều thế hệ: Cá bống mú (1956), Hoa hướng dương (1960)… Ở Ngọn tầm vông lại là một ngôn ngữ và như chính giọng điệu của Đoàn Giỏi. Ông viết văn như kể chuyện bằng ngôn từ văn viết. Chính vì vậy, tiến sĩ Phạm Văn Tình - tác giả bài viết Mái đình - nét đẹp trong hồn quê Việt Nam đã cảm nhận rằng: Nhà văn Đoàn Giỏi, trong bài tùy bút Ngọn tầm vông đã có những dòng thật cảm động, mô tả người miền Nam tập kết ra Bắc, ngồi trên thuyền nhìn lại xóm làng của mình, đứng mãi trên boong chờ đợi phút qua ngang nhà. Làng tôi xanh ngắt những vườn chuối. Mái đình cháy hơn một nửa, nhô ra khỏi ngọn cây. Bờ tầm vông thấp thoáng, hoa tầm vông hoe vàng trong ánh nắng một chiều thu...
      
Tiểu thuyết Người thủy thủ trên hòn đảo lưu đày, Đoàn Giỏi đã viết về vị cố Chủ tịch Tôn Đức Thắng trong những tháng ngày bị giam giữ ở Côn Lôn. Cũng với một nguồn tư liệu dồi dào, một nguồn cảm xúc tột đỉnh, Đoàn Giỏi đã viết rất tài tình và chân thật. Được biết khi đặt bút viết tác phẩm này, Đoàn Giỏi đã nhiều lần gặp Bác Tôn. Những lần gặp gỡ ấy là những lần thu thập tư liệu một cách thuyết phục, kính nể, thận trọng trước một vị Chủ tịch nước kiên trung, anh dũng nhưng cũng rất chan hòa và nhân ái. Ngoài ra, Đoàn Giỏi còn viết thêm quyển hồi ký Từ đất Tiền Giang. Tác phẩm này lại nói về một khía cạnh khác. Đoàn Giỏi gần như ghi chép lại một cách chính xác về hình ảnh người phụ nữ bất khuất kiên trung ở đất Tiền Giang. Bà đã giành nhiều thắng lợi trong những lần chỉ huy chiến đấu với giặc. Người phụ nữ ấy chính là bà Nguyễn Thị Thập, một người đã có công lớn đối với những chiến công trong cuộc Nam kỳ khởi nghĩa. Nhưng tiếc thay, hai tác phẩm Người thủy thủ trên hỏa đảo lưu đày và Từ đất Tiền Giang rất hay và giá trị như vậy đã thất lạc. Ngày nay, độc giả gần như không biết đến hai tác phẩm này. Một phần do trước đây việc in ấn ở các tỉnh lẻ không phổ biến, một phần do chiến tranh nên đã thất lạc bản thảo.
      
Tiểu thuyết Đất rừng phương Nam chính là tác phẩm nổi bật nhất trong quá trình sáng tác của Đoàn Giỏi. Bởi, bối cảnh câu chuyện rất đặc trưng của vùng Tây Nam bộ. Với rừng tràm bạt ngàn, dòng sông mênh mông, con đò bập bềnh, tôm cá đầy đàn, Đoàn Giỏi như gửi trọn vào tác phẩm của mình. Đất rừng phương Nam đã mang đến người đọc nhiều thú vị về bối cảnh, con người, tập tục văn hóa của vùng nông thôn Nam bộ. Nội dung câu chuyện cũng vậy, Đoàn Giỏi chỉ xoay quanh ở vùng đất Nam bộ. Ông mượn hình ảnh một cậu bé bị lưu lạc trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp ở Nam bộ để giới thiệu Đất rừng Phương Nam. Nơi đó, một vùng đất vô cùng giàu có, hào phóng và hùng vĩ với những con người trung hậu, trí dũng, một lòng một dạ theo kháng chiến. Tác phẩm gần như tập hợp tất cả đất rừng và người phương Nam. Có thể nói, Đất rừng phương Nam của Đoàn Giỏi như một xã hội của miền sông nước Tây Nam bộ thu nhỏ. Bởi ở nơi đó, người đọc đã tìm thấy hình ảnh người dân của vùng đất phương Nam từ sông Tiền, sông Hậu trải dài đến Kiên Giang - Rạch Giá, rồi xuống tận rừng U Minh, sau đó dừng lại ở Năm Căn Cà Mau. Bối cảnh trong Đất rừng phương Nam là cả một đất trời thiên nhiên ưu đãi, cánh đồng bát ngát mênh mông, sóng nước rì rầm, rừng rậm bạt ngàn trù phú, thú rừng hoang dã muôn loài… Sự tài tình của Đoàn Giỏi là như tái tạo lại bối cảnh sông nước, con người của thuở ông cha ta còn mang gươm mở cõi.
        
Từ tiểu thuyết Đất rừng phương Nam, hãng phim truyền hình thành phố Hồ Chí Minh (TFS) đã sản xuất thành bộ phim Đất phương Nam dài 11 tập. Nguyễn Vinh Sơn viết kịch bản và đạo diễn. Hội Điện ảnh Việt Nam đã trao giải A cho đạo diễn vào năm 1997. Rồi không dừng lại ở sự đón nhận của khán giả Việt Nam, bộ phim Đất phương Nam  đã xuất khẩu sang Mỹ và được đông đảo khán giả Mỹ đón nhận.
       
Bộ phim Đất phương Nam  được xem là một sự kiện hiếm hoi đối với các nhà làm phim ở nước ta. Vì bộ phim này là phim truyện Việt Nam lần đầu tiên được xuất khẩu ra nước ngoài. Trong tập tiểu luận - phê bình Tiếng vọng những mùa qua, nhà lý luận phê bình Nguyễn Thị Thanh Xuân đã nhận định về Đoàn Giỏi qua Đất rừng phương NamCó mảnh đất sinh ra những nhà văn, và có những nhà văn từ trang viết đã biến miền quê riêng của mình thành miền quê chung trong tâm tưởng bao người… Với Đoàn Giỏi, tôi nghĩ rằng ông đã đón nhận được cái hay từ nơi đó… Ông đã đem đến cho bạn đọc cả nước những hiểu biết và tình cảm về một vùng đất trước đó xa ngái, hoang sơ trong hình dung của mọi người… Ông đã xây dựng lên những nhân vật lòng đầy nghĩa khí mà tinh tế và giàu chất văn hóa
     
Những truyện ngắn Chuyến xe thổ mộTiếng gọi ngàn… là một trong những tác phẩm Đoàn Giỏi viết sau giải phóng. Người đọc càng dễ dàng nhận ra sự thay đổi trong sáng tác của ông. So với những ngày đầu trên trang viết của Đoàn Giỏi, những tác phẩm ra đời sau giải phóng lại có phần mạnh mẽ hơn, điêu luyện hơn, ngập tràn cảm xúc hơn. Những truyện ngắn:Những chuyện lạ về cá (1981), Tê giác trong ngàn xanh (1982)… cũng thế. Nó luôn tạo cho người đọc một sự day dứt, suy nghĩ,
chiêm nghiệm về những gì mà tác giả đã viết, đã bộc bạch qua từng câu chữ.
     
Ở Đoàn Giỏi còn có đặc điểm độc đáo khác nữa là hay hoài niệm về quê hương Tiền Giang – nơi chôn rau cắt rốn của mình. Cho dù sinh sống ở đâu, Đoàn Giỏi cũng luôn hướng về quê hương. Rồi từ những nỗi nhớ quê hương da diết ấy, Đoàn Giỏi như gửi tâm trạng mình vào văn chương, biến thành những tác phẩm mộc mạc, gần gũi nhưng cũng rất trau chuốt và ly kỳ. Sự tài tình ở Đoàn Giỏi là đã biến những cái hay, cái đẹp về con người trên mảnh đất Tiền Giang của mình thành tác phẩm đặc sắc chuyên biệt, cụ thể đến sắc bén. Trong bài Ký Nhớ Tiền Giang, Đoàn Giỏi đã viết:
      
… Những năm xa nhà, nhớ quê hương, nhiều khi tôi giở sách cố xem ngày xưa các cụ đánh giá thế nào về những con người trên vùng đất mình sinh trưởng? Nói chung là dân Nam bộ, dân đồng bằng sông Cửu Long vốn phóng khoáng, hào hiệp, trọng nghĩa, khinh tài… Tất cả những đức tính ấy đều do thiên nhiên vô cùng phong phú ưu đãi, hun đúc nên.
     
Tuy nhiên, dân Định Tường còn có những đặc điểm khác những nơi khác. Là đàn ông sính văn thơ, đàn bà con gái chăm chỉ khéo léo mà thích chưng diện, thích đi coi hát, còn thanh niên thì ưa đàn ca, thích luận đàm nơi quán tiệm. Lắm lúc tôi nghĩ lớp trẻ bây giờ mà thích thú, bật cười một mình. Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh! Là nói cho vui vậy, chứ không vậy, không có cái tính nghệ sĩ gốc của ông bà đó, không phải là đất phát tích của cải lương thì làm gì bật lên ở Nam kỳ và cả nước các dĩa hát với các giọng ca Phùng Há, Năm Phỉ, Ba Du, Tư Xe, Bảy Nam… Thì làm gì có một soạn giả Trần Hữu Trang ở Phú Kiết - Con người nho nhã như thư sinh, ra Hà Nội cũng mặt bộ quần áo bà ba trắng, trước khi viết Đời Cô Lựu, Tô Ánh Nguyệt  đã sáng tác những bài ca quốc sự, truyền cho dân tài tử "chơi" ở các đám giỗ, các tiệm hớt tóc trong những năm thập niên ba mươi khắp Mỹ Tho và các tỉnh lân cận…Đâu phải ngẫu nhiên mà có Trần Văn Khê - con ông Bái Ba ở chợ Giữa - Vĩnh Kim một gia đình từ cha con, anh em đều giỏi nhạc… Và cũng tại đó, đầu tiên trên toàn quốc, thành lập gánh hát toàn con gái - gánh Đồng Nữ của cô ba Diện, chuyên trình diễn những tấm gương ái quốc, nhữngtuồng lịch sử chống xâm lang… Mỹ Tho còn có nhạc sĩ Hoàng Việt ở An Hữu, với nhiều ca khúc đầy tính lạc quan yêu đời… Nhạc sĩ Việt Nam đầu tiên sáng tác nhạc giao hưởng ở Bun-ga-ri về, anh hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ tại Cái Bè… Qua Tân Mỹ Chánh không thể nào không nhớ "Vành mâm xôi, đề thằng Lạc!" cùng với những bài thơ nhạo báng hội tề nổi tiếng của Học Lạc… Xưa thợ khắc, thợ chạm Mỹ Tho lên cốt Phật trứ danh, ngày nay ta có Nguyễn Hải - nghệ sĩ điêu khắc trẻ tài năng, đầy triển vọng của cả nước, gốc Cái Bè… Ta lại có họa sĩ Nguyễn Sáng - người Chợ Gạo, một nghệ sĩ tài hoa, sáng tạo nhiều tác phẩm hiện đại đầy tính dân tộc, đã vượt tầm cỡ quốc gia, lấp lánh giữa trời sao tài năng hội họa thế giới…[5]
      
Đoàn Giỏi cũng yêu cả mảnh đất nơi mình chân đến, nơi mình đang sống như chính mảnh đất nơi mình chào đời. Ông từng bộc bạch với bạn bè về tâm trạng của mình: Những ngày ở Hà Nội, tôi rất nhớ Tiền Giang, Sài Gòn.  Khi về Sài Gòn, tôi lại nhớ Hà Nội. Một nửa đời tôi gần như đã gắn bó với Hà Nội…
         
Trong truyện ký Chim bay trên trời Hà Nội  của Đoàn Giỏi, ông đã viết:

… Chiều nay, giữa thủ đô Hà Nội, ngẩng trông những bầy chim vần vũ như những đám mây nối nhau bay về phương Nam, tôi lại nghĩ và nhớ đến bạn. Phải nói rằng năm nào cũng vậy, lúc Hà Nội sắp vào đông, hồ như thấy những bầy chim sáo từ Xi-bê-ri bay tránh rét về qua trên bầu trời thủ đô, nghe tiếng chim rộn rã và tiếng quạt cánh vù vù của chúng là tôi cứ nghĩ ngay rằng những con chím này nay mai, trên đường còn tiến mãi vào Nam rồi chúng sẽ bay qua Sài Gòn, qua nơi mái nhà bạn ở… [6]
     
Yêu quý và tự hào về quê hương của mình đã đành, Đoàn Giỏi còn yêu thiết tha cả những nơi mình đã đặt chân đến. Phải chăng với Đoàn Giỏi, nơi nào cưu mang ông, nơi nào thú vị trong lòng ông thì nơi đó là quê hương, nỗi nhớ và những kỷ niệm khó quên của ông. Cho nên, những ngày đặt chân sang đất Nga, Đoàn Giỏi lại sống trong ngập tràn ngàn cảm xúc của một đất nước vừa thoát khỏi chiến tranh. Từ nguồn cảm xúc ấy, ông đã viết thành truyện ký Mùa thu Nga - thăm một vài nơi kỷ niệm của Đoàn Giỏi:
     
Năm 1957, tôi đã sang thăm Liên Xô. Mười lăm năm, giờ đây trở lại, tôi có cảm giác như mình đã gặp lại ở đây một người yêu cũ…

… Cổ thành Bơ-rêtx một chiều xám mây mù. Trời lạnh. Vượt quảng trường, chúng tôi lần lượt qua con sân rộng có hai lối dẫn vào khu lưu niệm. Mặt sân và cả hai lối đi đều trải bằng một thứ vôi vữa cát màu hồng đỏ! 823 chiến sĩ bảo vệ thành Bơ-rêtx chỉ còn biết tên được có 201 người đã tử thủ, bảo vệ đồn biên phòng này trong ngày tháng khi bọn phát xít Hít-le bất ngờ từ Ban Lan tấn công vào Liên Xô. Máu các chiến sĩ đã đổ xuống nhuộm đỏ đất này. Chúng tôi kính cẩn đặt vòng hoa dưới tượng đài lưu niệm và cúi đầu mặc niệm trước ngọn lửa bất diệt vẫn cháy mãi ngày đêm nơi này. Hai nam nữ thiếu niên quàng khăn đỏ, những thanh thiếu niên Côm-xô-môn, những học sinh giỏi được danh dự thay nhau hứa đảm đương lấy trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc ngày mai như cha anh đã kiên cường bất khuất chống giữ nơi đây. Chúng tôi hi sinh nhưng không bán lương tâm. Đó là dòng chữ khắc trên viên gạch tìm thấy trong lâu đài đổ nát. Ngày 20 tháng 4 năm 1941 một chiến sĩ vô danh đã viết Tôi hy sinh mà không đầu hàng! Kính chào Tổ quốc! … [7]
      
Qua ba truyện ký mà Đoàn Giỏi đã viết về Tiền Giang quê hương,  về Hà Nội - vùng đất mà ông đã từng sinh sống sau những ngày tập kết, về đất nước Nga vừa thoát khỏi chiến tranh đều khắc một dấu ấn chung. Cái chung ấy chính là nét nhân bản ở con người. Hình ảnh con người luôn là niềm tự hào và nỗi nhớ trong từng tác phẩm của Đoàn Giỏi. Ở mỗi nơi, mỗi hoàn cảnh, con người đều hình thành và tạo nên sự vẻ vang cho từng vùng đất.  
     
Một điều đáng buồn, Đoàn Giỏi đã để tác phẩm của mình thất lạc quá nhiều. Và chính khi còn sống, Đoàn Giỏi cũng nhìn nhận ra khiếm khuyết này, nhiều lúc tác phẩm của ông, bạn bè và độc giả nhớ nhiều hơn là chính ông.

III. TÁC PHẨM DANG DỞ
      
Cuộc sống đôi lúc bế tắc do hoàn cảnh khó khăn, do bệnh tật, nhưng Đoàn Giỏi vẫn viết và vẫn buông nguồn cảm xúc tràn đầy trên từng trang giấy, trong từng tác phẩm của mình.
      
Những ngày cuối đời, sức khỏe của Đoàn Giỏi rất kém. Nhưng nhà văn thường luôn mang theo bên mình đề cương tiểu thuyết Núi cả cây ngàn mà ông đã ấp ủ từ lâu. Ở Đoàn Giỏi bao giờ cũng vậy, ý tưởng, nguồn cảm xúc luôn vây quanh và ở mãi bên cạnh. Chắc chắn ngoài quyển đề cương tiểu thuyết ấy ra, Đoàn Giỏi còn có nhiều vấn đề khác cần phải đưa vào tác phẩm, khi đó nỗi lòng ông cứ luôn trăn trở với cuộc sống, với bao con người luôn trắc trở với số phận.
      
Nội dung tiểu thuyết Núi cả cây ngàn bắt đầu từ cuộc đời của một cô gái bị bỏ rơi trong rừng sâu. Cuộc sống nơi rừng rú hoang sơ hiểm trở đã tạo cho cô gái một tính cách đặc biệt. Cô gái ấy chính là hình tượng tiêu biểu của những con người ở vùng đất hoang sơ này. Bên cạnh nội dung câu chuyện ly kỳ độc đáo ấy, bối cảnh diễn ra trong tác phẩm Núi cả cây ngàn của Đoàn Giỏi còn là một cái nhìn khác. Đan xen những tình tiết ly kỳ hấp dẫn của rừng núi, của động vật hoang dã, Đoàn Giỏi còn phản ảnh lại thời kỳ thực dân Pháp bắt đầu xâm lược nước ta. Nơi rừng sâu núi thẳm ấy chính là khu căn cứ cho cách mạng, hình ảnh cô gái ấy lại tượng trưng cho nhân dân miền Tây Nam bộ đứng lên chống giặc ngoại xâm.
     
Ở Núi cả cây ngàn không chỉ phảng phất hình ảnh người dân của miền Tây Nam bộ trong thời kỳ khai hoang mở cõi. Không chỉ là sự độc đáo về nghĩa khí, lòng hào hiệp và khí phách của người dân miền Tây Nam bộ trong thời kỳ đầu chống thực dân Pháp. Mà Đoàn Giỏi còn đưa độc giả vào những cuộc phiêu lưu đến nhiều nơi, nhiều vùng của vùng đất Nam bộ trong thời kỳ hoang sơ. Chuyến phiêu lưu ấy như một cuộc hành trình xuôi về Đồng bằng sông Cửu Long với vùng đất trời hoang vu trù phú, với cánh đồng hoang sơ bạt ngàn, với những khu rừng âm u tĩnh mịch, với những dòng sông mênh mông phẳng lặng.
     
Thế nhưng do bệnh tật, do chứng bệnh gan hành hạ nên Đoàn Giỏi chưa kịp hoàn thành tác phẩm ấy. Chính vì vậy, mãi đến giờ phút tận cùng của cuộc đời, Núi cả cây ngàn vẫn còn ở dạng đề cương phác thảo. Cho đến lúc ra đi, Núi cả cây ngàn cũng chỉ là những ý tưởng, những tình tiết, những câu chuyện đã được xâu chuỗi nhưng không thể thành hình.
     
Cả cuộc đời của Đoàn Giỏi, ông cứ đi và cứ viết. Những trang viết của Đoàn Giỏi bao giờ cũng mang đậm chất hoang sơ và tính sáng tạo dựa trên vốn sống và cảm nhận tinh tế. Năm 1989, Đoàn Giỏi – một trong những nhà văn xuất sắc, tiêu biểu của Nam bộ đã vĩnh biệt độc giả. Ông ra đi trong sự tiếc thương vô hạn của đồng đội, đồng nghiệp và của độc giả khắp nơi.      

HUỲNH MẪN CHI
    Nguồn: NVTPHCM

______________

1.  Trích từ “Lời bạt của Chế Lan Viên” qua tác phẩm “Rừng đêm xào xạc” của Đoàn Giỏi – Nhà xuất bản Trẻ – Năm 1987.
2 . Trích tài liệu từ truyện ký “Nguyễn Huy Tưởng, một người thầy, một người bạn, một người anh…” của Đoàn Giỏi.
3 . Trích từ bài giới thiệu của Chế Lan Viên qua tác phẩm “Rừng đêm xào xạc” của Đoàn Giỏi – Nhà xuất bản Tiền Giang – năm 1987.
4 . Trích nguyên văn truyện ngắn “Cây đước Cà Mau” của Đoàn Giỏi.
5 . Tài liệu trích nguyên văn từ truyện ký “Nhớ Tiền Giang” của Đoàn Giỏi.
6 . Tài liệu trích nguyên văn từ truyện ký “Chim bay trên trời Hà Nội” của Đoàn Giỏi.
7 . Tài liệu trích nguyên văn từ truyện ký “Mùa thu Nga – thăm một vài nơi kỷ niệm


TIN LIÊN QUAN:



Thứ Năm, 3 tháng 1, 2019

Nguyễn Quang Thiều - chùm thơ II

     Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều



0h17 phút

1. nhớ con chuột tri kỷ của những đêm hoang tàn và trống rỗng
chạy men theo hè phố lúc một giờ sáng
kẻ lạ mặt dùng ánh mắt thích dòng chữ vô hình lên trán
và tôi trở thành kẻ bị lưu đày trong giấc mộng chính mình

2. đứa trẻ đái ướt sũng tóc tôi rồi bỏ đi
vẽ vào bóng tối một vệt trắng nguệch ngoạc

3. Phấn ngồi bất động dưới bóng của một cái cây ngôn từ
một đám mây những con bướm lấp lánh bay quanh
Như một cậu học sinh trốn lại lớp sau giờ tan học
Phấn đang xoá hết những chữ quen thuộc trên tấm bảng đen
để tìm một từ vựng
Có khả năng làm trống rỗng tất cả

4. Hải Phòng đang chìm. Ôi Hải Phòng…

5. H khóc ở đâu đấy. không làm sao tìm được đôi mắt của H
Như những hạt giống chứa chiếc mầm ánh sáng
Gieo trên cánh đồng mù
Đang tìm cách phá vỡ những cái vỏ

6. Một tiếng gọi từ vùng thẳm sâu không có những cái miệng
Phấn từ từ đứng dậy vươn hai cành cây
Treo đầy những chùm quả tinh khiết

7. Một tấm lưới khổng lồ trôi trên những nóc nhà
Và một con Sơn ca đánh mất giọng nói
rúc sâu trong da thịt chúng ta.


17h 43’

Khi  ngước lên thời gian đã biến mất
Nhưng tên bài thơ vẫn còn
Chẳng ghi lại điều gì trọng đại
Cả một ký ức buồn cũng không
Chỉ cảm giác một quen thuộc trôi nhẹ
Trên chiếc xe đẩy tróc sơn

H không thể nào rút chân ra nổi chiếc giày ám ảnh của mình
Một thói quen kích động H
Chiếc kim giây vừa chém một đường
Làm đứt buổi chiều này
Và một giọt máu
Từ từ đầy tròn
Như một nụ hoa sắp nở


nhật ký ghi dưới gốc cây gần quảng trường

Có một bài thơ tôi viết
Trong bóng tối
Của thành phố này

Đấy không phải là đêm
Tôi vẫn nhìn thấy những đám mây nặng
Bò trên những mái nhà thành phố
Và vẫn nhìn thấy
Một người đàn bà
Tắm trong một toilet không có rèm che
Kỳ cọ như tuốt hết da thịt mình
Và vẫn nhìn thấy
Cuộc làm tình ban ngày
Của những kẻ thất nghiệp
Trong chính công sở của họ
Và vẫn nhìn thấy
Nơi ngã tư một chiếc xe tải
Cán nát một cô gái
Nhưng bó hoa cô cầm trên tay
Vẫn nở nốt bông cuối cùng
Và vẫn nhìn thấy
Linh hồn những người đã chết
Xếp hàng trước cổng trụ sở Tòa án thành phố
Và vẫn nhìn thấy phía khuất con đường
Một người đàn bà băng qua
Với một cái bụng lớn
Chứa một đứa trẻ không rõ mặt
Và vẫn nghe rõ
Một tiếng nổ
Và nhìn thấy viên đạn
Chầm chậm khoan thủng một cái đầu
Bên cạnh


những con mồi

Đêm qua những con cá bơi quanh chiếc giường
Ngửi chúng ta rồi bỏ đi
Và bực dọc nói:
Chúng ta không bao giờ ăn những con  mồi  chết

Chúng ta có chết không ?
Một người thức giấc hỏi.
Nhưng chẳng có câu trả lời nào.
Ngoài bóng một bác sỹ tâm thần ghi bệnh án
In trên bức tường phía đông

Trên đầu chúng ta những con cá
Bơi lùi về qúa khứ
Chúng muốn xem lại hồ sơ những chiếc lưỡi câu
Nhưng chỉ còn lại một nhà kho mục nát
Trong đó một chiếc đồng hồ
Chạy từ lúc chúng ta chưa biết đền thời gian

Giữa bất tận những con mồi
Bầy cá nhắm mắt
Chỉ mở ra khi nghe lệnh
Nhưng một con không chịu nhắm mắt
Trong suốt cuộc săn tìm
Rời bỏ bầy quay lại
Và nói với một con mồi :
-  Ngươi đã hết thời gian chết


0h7’

Chạy kiệt sức không ra khỏi cơn đau đầu
Tôi mơ trở về khu vườn ở Dedham tôi mơ chìm trong cỏ
những con bướm tháng Tư bay rợp mặt

Luôn luôn một hơi thở gấp phía sau
Nhưng không bao giờ lên tiếng
Đúng giờ phút này áp chặt vào ô kính một tấm thân trần truồng
Như ai đó dán một tờ giấy trang trí
Một tấm rèm bằng da người

Một ngôi sao phía xa
mặt chiếc nhẫn của H
Không. Đốm lửa đầu điếu thuốc
Tôi đang hút in trên kính.

Nhận ra không phải cơn đau đầu
Ai đó đặt một cái đầu nặng hơn
Vào trong đầu tôi
Và một cái đầu khác nặng hơn nữa
Vào trong cái đầu vừa đặt

NGUYỄN QUANG THIỀU
(Trích từ tập thơ Cây ánh sáng)


TIN LIÊN QUAN:



Thứ Tư, 2 tháng 1, 2019

Vấn đề sinh thái trong thơ Việt

Nhờ có nhiều nét tiến bộ ưu trội, mang tính thời sự cao, lại phù hợp với nhiều nền văn hóa nên khuynh hướng phê bình sinh thái đang được hưởng ứng rộng rãi trên thế giới. Vì còn mới mẻ nên giới khoa học vẫn chưa thống nhất thuật ngữ, ở Anh hiện gọi là “nghiên cứu xanh” (Green study), ở Mỹ gọi là “phê bình sinh thái” (Ecocriticism), Úc gọi là “phê bình văn học môi trường” (Environmental literary criticism)…
Nhà phê bình Nguyễn Thanh Tú

Tôn trọng Trái đất tức tôn trọng con người, phá hủy Trái đất tức phá hủy căn nhà con người sống, tàn phá môi trường tức làm thui chột tính người. Đó là tinh thần nhân văn đáng quý của hướng nghiên cứu này… Nó kêu gọi con người phải hòa hợp, giữ gìn, tôn trọng tự nhiên, sống chung với tự nhiên.

Một nội dung cơ bản của triết học văn hóa đương đại là đối thoại, mà căn cứ để đối thoại là hiểu biết (tự nhiên); bình đẳng (với tự nhiên); tôn trọng, và biết lắng nghe (tự nhiên). Ngay Thế vận hội mùa Hè Rio de Janeiro 2016 vừa diễn ra tại Brazil nổi tiếng môi trường xanh cũng kêu gọi toàn thế giới bảo vệ môi trường và bầu không khí.

Phê bình sinh thái, hiểu một cách giản dị là nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và môi trường, đề xuất quan niệm lấy “trái đất làm trung tâm” nhằm gắn kết và gắn nối môi trường tự nhiên và văn hóa để kiến tạo văn bản văn hóa về môi trường.

Như một tất yếu, phê bình sinh thái đương đại kêu gọi quay trở về với giá trị văn hóa phương Đông, mà từ hàng ngàn năm nay với thuyết “thiên nhân hợp nhất” luôn quan niệm con người thống nhất, hài hòa với tự nhiên, là một phần của tự nhiên: “Đạo sinh ra một, một sinh ra hai, hai sinh ra ba, ba sinh ra vạn vật” (Lão Tử).

Khổng Tử còn dạy học trò thuận theo tự nhiên thì phải tôn trọng nó, không được đốn cây lớn trong mùa xuân, không được bắt cá nhỏ. Trong truyền thống văn hóa Ấn Độ, trước khi làm nhiệm vụ trị vì quốc gia, các vị anh hùng đều phải có thời gian tu thân trên núi cao, trong rừng thẳm để hòa mình vào thiên nhiên, tu trí, tĩnh tâm.

Là một cộng đồng dân tộc nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm cây cối hoa lá quanh năm tươi tốt nên cảm quan của người Việt Nam là cảm quan của thiên nhiên cây cỏ. Từ hàng ngàn năm nay, người Việt chung sống hài hòa với thiên nhiên, thiên nhiên luôn là đối tượng thẩm mỹ để họ sáng tạo nghệ thuật, nhất là với thơ ca.

Hôm nay, soi lý thuyết phê bình sinh thái hiện đại vào thơ Nguyễn Trãi, thật ngạc nhiên và tự hào khi thấy trong thế giới thơ ông gần như là sự chứng minh cho các luận điểm cơ bản của lý thuyết này. Có thể khẳng định, vĩ nhân ấy là con người của nhân loại, mang tầm văn hóa nhân loại, đi trước thời đại hơn 600 năm.

Thiên nhiên tràn ngập trong thơ Nguyễn Trãi, hầu như bài nào cũng có sự xuất hiện của thiên nhiên, nhất là cái đẹp nơi thiên nhiên luôn gần gũi gắn bó với con người. Vì tôn trọng cái đẹp, yêu cái đẹp mà đau xót, tiếc nuối cho cái đẹp không có người thưởng thức. Xuân đi, hè đến, cả chủ thể và nhân vật trữ tình (cô gái) trong bài thơ này đều tiếc xuân: “Vì ai cho cái đỗ quyên kêu/ Tay ngọc dùng dằng chỉ biếng thêu/ Lại có hòe hoa chen bóng lục/ Thức xuân một điểm não lòng nhau” (Cảnh hè, Thơ Nôm). Một tứ thơ hay, một sự tinh tế chỉ có được khi tác giả lắng nghe bước đi của tạo vật: mùa hè lại có hoa hòe đem đến vẻ xuân gợi ở người sự “não lòng” tiếc xuân.

Nhà thơ cảm nhận cái đẹp luôn trong trạng thái non tơ đang cựa quậy chứ không tròn trịa đã vào thời viên mãn, thậm chí ở thời điểm khởi đầu: “Xuân chầy liễu thấy chưa hay mặt/ Vườn kín hoa truyền mới lọt tin/ Cành có tinh thần ong chửa thấy/Tính quen khinh bạc bướm chăng gìn/ Lạc Dương khách ắt thăm thinh nhọc/ Sá mựa cho ai quẩy đến bên” (Đầu Xuân đắc ý, Thơ Nôm).

Vì xuân đến chậm nên liễu chưa thấy mặt. “Vườn kín hoa truyền mới lọt tin” tức hoa mới chớm nụ, hương hoa mới chớm bay ra khỏi vườn kín nên “ong chửa thấy” mà tìm đến nhưng bướm thì chẳng biết giữ gìn gì cứ vô tư đậu vào cành. Đúng là thế giới của cái đẹp “non tơ phong nhụy”, tất cả như đang phập phồng xuân khí.

Đất Lạc Dương là kinh đô Trung Quốc thời Ngũ đại vốn rất đẹp, từng là nơi tụ hội các thi nhân. Lạc Dương đẹp thế nhưng nơi này đẹp không kém nên ta chẳng cho (sá mựa) ai quẩy xuân này đến đó mà đem cái đẹp của ta đi. Cũng chỉ mạo muội “diễn nôm” câu thơ để thấy phần nào cái đẹp của ý thơ phải nói là tuyệt bút này. Nhưng có thể hiểu một triết lý của triết gia Nguyễn Trãi: Cái đẹp, đẹp nhất là ở buổi ban đầu… Đặc sắc hơn là nói bằng hình tượng thơ.

Thơ Ức Trai có lúc đậm chất huyền thoại để diễn tả cái đẹp hư ảo mong manh, cũng là để giãi bày tấc lòng say, tiếc, trân trọng cái đẹp: “Một tiếng chày đâu đâm cối nguyệt/ Khoan khoan những lệ thỏ tan vừng” (Thơ tiếc cảnh, Thơ Nôm). Hình tượng thơ kiến tạo trên nền thần thoại: trên mặt trăng có thỏ giã thuốc tiên. Nhưng tất cả là hư ảo nên không biết đó là tiếng chày con thỏ giã thuốc trên mặt trăng hay tiếng chày dưới trần thế, vì vậy mà thi nhân mới thốt lên “khoan khoan” kẻo tiếng chày làm vỡ mất vầng trăng. Đây không phải thơ của người mà là thơ của tiên. Phải là thi tiên mới có những câu như vậy!

Kế thừa quan niệm, thi pháp và thành tựu từ Nguyễn Trãi, thơ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng rất nhiều hình ảnh thiên nhiên, nhiều nhất là hình ảnh mùa xuân. Chỉ tiếc ông làm thơ hầu hết bằng chữ Hán. Mùa xuân trong thơ Trình Quốc Công biểu trưng cho sự sống sinh sôi, nảy nở, ấm áp, tươi vui. Với nhà thơ chữ Xuân đồng nghĩa với chữ Hoà: “Mộ xuân tối ái nhất thiên hòa/ Cuối xuân thích nhất là khí trời luôn hòa dịu” (Mộ xuân); “Thiều quang thục úc kháp giai thần/ Ánh sáng xuân dịu, đúng là tiết tốt lành” (Tân niên hý tác).

Xuân cũng đồng nghĩa với cái đẹp: “Am quán trùng lai hựu nhất xuân/ Tứ thì giai cảnh tối nghi nhân - Lại mùa xuân nữa đến với quán am/ Phong cảnh bốn mùa rất đẹp, hợp với con người” (Hữu bộ hạ tân huyện). Thiên nhiên thiên về tĩnh với gam màu xanh trong: “Thanh phong minh nguyệt vi ngô hữu/ Bích thủy thanh sơn độc tự ngu - Gió mát trăng sáng là bạn của ta/ Nước biếc non xanh vui riêng mình” (Tân quán ngụ hứng 24).

Trước cửa cái lều của thi nhân có cành tre la đà nhìn ra vùng sông nước: “Ngô ái ngô lư thủy trúc thanh/ Ta thích lều ta có cảnh tre nước trong xanh”. Thiên nhiên vừa là bạn hữu vừa là đối tượng sáng tác, lại là nơi để sống thanh sạch nhất, theo đúng nghĩa của từ này: “Thi tá oanh hoa thiên thủ hữu/ Phong lâm kỉ án nhất trần vô - Thi tứ về hoa và chim, sẵn có nghìn bài/ Gió lọt vào án sách và ghế, không một hạt bụi” (Tân quán ngụ hứng).

Đến thời hiện đại, nhà thơ lớn Hồ Chí Minh rất ưa cuộc sống gần nơi thiên nhiên tự do, tĩnh tại, thanh sạch: “Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh, nước biếc để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu…”.

Khi phải gánh vác nhiệm vụ trọng đại lãnh đạo cuộc kháng chiến Bác Hồ vẫn cố dành thời gian hạnh phúc cùng thiên nhiên, làm thơ cùng “bạn” trăng: “Trăng vào cửa sổ đòi thơ”, dành thời gian hạnh phúc cùng con trẻ, cùng cỏ cây: “Việc quân, việc nước đã bàn/ Xách bương dắt trẻ ra vườn tưới rau”… Bác Hồ đã học tập, tiếp thu, kế thừa, phát triển và nâng cao từ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Khuyến…

Thơ Việt ở ngày hôm nay, nhất là thơ trẻ có một đặc điểm dễ nhận thấy là hay thiên về triết lý, trong khi đó, để có màu sắc trí tuệ không hẳn dễ vì đòi hỏi phải có vốn sống từng trải, vốn văn hóa sâu rộng. Tài năng như Chế Lan Viên cũng phải đợi khi đủ độ chín về hiểu biết và tuổi tác mới có những triết lý về thơ, về đời, về lẽ sống và cách sống. Thế nên, mặc dù có thể thực sự trí tuệ nhưng do còn thiếu sự va đập từng trải nên thơ trẻ triết lý chưa đủ sức thuyết phục bởi sự, khiên cưỡng của hình tượng.

Từ góc độ tiếp nhận cũng cho thấy khi xã hội ngày một văn minh, vật chất ngày thêm nhiều thì con người lại phải đối phó với bao nỗi bất an, là môi trường ô nhiễm, là tai nạn do thiên tai và do chính con người gây ra như giao thông, văn hóa xuống cấp, ô nhiễm không khí…

Do vậy, khao khát sâu thẳm của nhân loại là được sống cùng thế giới trong lành, yên tĩnh, bình an mà tươi tắn sống động. Thế giới ấy chỉ có thể có được ở nơi thiên nhiên chan hòa ánh sáng của mặt trời và ánh trăng, đầy gió và nắng, đầy cỏ và hoa cùng thế giới loài vật quen thuộc, là cánh chim, là tiếng gà gáy, là âm thanh mõ trâu… Thật tiếc, một thế giới trong trẻo, nguyên sơ, thanh khiết ấy lại thiếu vắng trong thơ trẻ hôm nay!

Khi trở về với thiên nhiên là ta có được một thế giới tính từ lấp lánh sắc màu đời sống, một phẩm chất quan trọng của thơ. Hãy minh họa điều này bằng tác phẩm của các nhà thơ đã được khẳng định, với Dương Kiều Minh sở hữu vốn tính từ đáng khâm phục: tim tím, ngai ngái, lấp lóa, âm âm, dìu dịu, thiêm thiếp, heo heo xanh, mênh mang ánh sáng… và hàng loạt hình ảnh làng quê sinh động mà lạ lẫm: con đường hoa vối, giọt sương, ngồng cải, cỏ may…

Với Ngân Hoa là mùi bùn ngai ngái, làn khói xanh âm ẩm dịu dàng, nhỏ nhoi, chập chững, đo đỏ, rôn rốt, chun chút… Với Bằng Vũ là trăng cào ổ lá, mùa núm áo đơm bông, con bướm vàng dạm ngõ, lá sen nghiêng như mặt người quay lại… Và nhiều nhà thơ khác tên tuổi họ gắn liền với các hình tượng thiên nhiên, đúng hơn thiên nhiên đã nâng tên tuổi họ trong thơ, là Hữu Thỉnh, Ý Nhi, Xuân Quỳnh, Ngô Văn Phú, Nguyễn Duy, Đỗ Trung Lai, Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Quyến…

Những câu thơ hay nhất của Nguyễn Quang Thiều được lấy cảm hứng từ thiên nhiên: “Những xôn xao lùa qua hơi ẩm/ Vọng về từ cánh đồng rộng lớn mù sương/ Tiếng bánh xe trâu lặng lẽ qua đêm/ Chất đầy hương cỏ tươi lăn về nơi hừng sáng… Bài thơ “Sang thu” của Hữu Thỉnh, một trong những bài thơ hay nhất của ông, cũng về đề tài thiên nhiên…

Xã hội ngày một văn minh, khoa học kỹ thuật ngày một phát triển thì con người càng cần đến thơ, để cân bằng với cuộc sống hối hả, nhộn nhịp, để trở về với thế giới đồng thoại đậm màu cổ tích lung linh, lộng lẫy mà nguyên sơ. Vì thế thơ phải tươi mát hơn, hồn nhiên hơn, trong sáng, ấm áp hơn. Có một con đường ngắn nhất là trở về với thiên nhiên, nhất là với các nhà thơ trẻ!

NGUYỄN THANH TÚ
Nguồn: VNCA

TIN LIÊN QUAN:



Nhà văn Thùy Dương: Trăn trở với mỗi thân phận Người

Nếu không biết Thùy Dương sinh ra và lớn lên ở Hải Dương, sẽ đoán   chắc nàng là người Hà Nội gốc. Gọi là nàng v ì nàng không chỉ xinh đẹp, ...