Thứ Hai, 16 tháng 9, 2019

Trường ca Trần Anh Thái dưới góc nhìn văn hóa sinh thái - nhân văn

Khi các trường ca: Đổ bóng xuống mặt trờiTrên đường và Ngày đang mở sáng của nhà thơ Trần Anh Thái lần lượt xuất hiện vào các năm 1999, 2004, 2007 trên thi đàn, nó ngay lập tức thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu, phê bình hàng đầu cùng nhiều độc giả yêu thơ. Mới đây, Trần Anh Thái lại cho ra mắt trường ca Mỗi loài hoa một mặt trời - Một trường ca hiện đại, bề thế bằng một nội lực mạnh mẽ và chiều sâu nhân tính cho thấy, nguồn cảm hứng dồi dào và mối lương duyên của ông với thể loại trường ca ở Việt Nam.
Nhà thơ Trần Anh Thái

Không phải ngẫu nhiên, nhà nghiên cứu phê bình văn học Chu Văn Sơn trong buổi tọa đàm “Trường ca Trần Anh Thái” tại Viện Văn học Việt Nam lại khẳng định: “Trần Anh Thái là cây trường ca số một của thế hệ anh. Hiện nay, Trần Anh Thái là một trong những cây trường ca nổi bật nhất đương đại”. Có thể thấy, ý kiến đánh giá dựa trên những cơ sở xác đáng về người nghệ sĩ này.
     
Đọc các trường ca của Trần Anh Thái dễ nhận thấy ở trong sâu thẳm con người ông luôn tiềm tàng nguồn cảm hứng lớn, dồi dào mang đậm tính nhân sinh sâu sắc, có khả năng tạo đột phá về con người “Kẻ thất trận dưới chân đồi lê bước/Kéo hoàng hôn rã rời/Kẻ thắng trận hai tay ôm mặt khóc/Thương tích tạc vào gió thổi ngàn sau”. Xuyên suốt trong các trường ca là những vấn đề về thân phận con người trong và sau chiến tranh, cuộc nhân sinh, những cảm hứng về cội nguồn văn hóa làng hay cũng chính là văn hóa dân tộc. Trong bài viết này, chúng tôi tiếp cận trường ca Trần Anh Thái ở một khía cạnh khác, khía cạnh “Làng” trong trường ca của ông từ góc nhìn văn hóa sinh thái - nhân văn.
     
Lịch sử thi ca viết về làng quê Việt Nam đã có không ít nhà văn, nhà thơ bằng hình thức này hay hình thức khác đạt được những thành tựu đáng kể. Song, để kiên trì, trọn vẹn, khác biệt và độc đáo như Trần Anh Thái thì có lẽ thật hiếm hoi.
     
Khi nói về “làng”, các nhà nghiên cứu văn hóa thường có nhận định: “Với Việt Nam khoe văn minh ấy là văn minh lúa nước, khoe văn hóa ấy là văn hóa làng quê”. Nếu như sân đình, bến nước, cây đa, lũy tre xanh... là biểu tượng quen thuộc của thơ ca nói chung về những ngôi làng Việt nơi đồng bằng Bắc Bộ, thì biểu tượng ngôi làng Trần Anh Thái là “Làng trước biển trằn lưng che biển”. Làng trước biển, trước dập vùi xô giật giữa bão tố phong ba, nên nó không thể bình yên, thi vị mà ngược lại: nhọc nhằn lam lũ, luôn quằn quại đối đầu để sinh tồn ngay từ lúc nó mới khởi hoang; chấp nhận thách thức, chấp nhận đớn đau để lột xác, để đứng dậy, bước đi... Không chỉ trong Đổ bóng xuống mặt trời, hình tượng làng biển với muôn vàn liên hệ sinh động, phức tạp khác nhau còn được trở đi trở lại, ẩn hiện xuyên suốt trong các trường ca của ông.
Mỗi loài hoa một mặt trời - một trong những trường ca của nhà thơ Trần Anh Thái

Văn hóa xét cho cùng là hệ quả của việc từng cộng đồng thích ứng với môi trường tự nhiên và xung quanh để sinh tồn. Văn hóa làng biển nằm trong nhóm văn hóa sinh thái - nhân văn, là văn hóa được sản sinh trong quá trình con người thích ứng với môi trường sống, từ đó hình thành nên những tri thức, những hành vi ứng xử, những tập tục, nghi lễ, thói quen…

     
Trong các trường ca Trần Anh Thái, dấu ấn làng biển trong văn hóa sinh thái - nhân văn được thể hiện rõ nét. Ngôi làng nhỏ bé nơi biển Đồng Châu quê hương ông được khởi ngay từ “Đoàn người đi lam lũ dưới hoàng hôn” nơi “Thuở hồng hoang mở đất/Sương giá tan tê dại kiếp người”. Ở đó, Trần Anh Thái đưa người đọc đến một không gian rộng lớn, mù mịt mênh mông của biển, nơi chưa có dấu hiệu của sự sống. Đó là thế giới của rối mù, vô định, đầy chướng khí:“Không dấu chân đi qua/Bờ biển đầy chướng khí/Không có cánh buồm về/Gió thừa đầy cửa bể”. Khi ấy, biển là một không gian tự nhiên trong vũ trụ, mịt mùng, hoang vu, cô đơn. Sự xuất hiện của “Những người đàn ông mang theo búa rìu và con dao rựa” thì làng mới “bắt đầu một tiếng hú hoang”. Đây không phải là tiếng hú thông thường mà là một tuyên ngôn, một cuộc thách đấu mở đầu cho tinh thần khai sáng. Công cuộc chinh phục khởi hoang không là những hoan ca mà “Người đàn ông bổ lưỡi rìu vào đất/Giọt máu rơi mây khói chẳng hình thù” là “Người cúi mặt dưới vòm khuya khoắt/Ánh ngày loảng xoảng tiếng dao khuơ”. Và ngay sau khi nhát rìu bổ xuống, một sự nổi loạn đã xẩy ra “Sóng gào biển động”; “Sóng gió bập bùng”; “Sóng đổ dưới chân người tê buốt”. Biển ẩn chứa đầy hiểm họa, bất trắc khôn lường bởi sự ngang tàng bất trị mãi cho đến:“Cơn bão đi qua/Người sực tỉnh giữa vùng tai họa/Ngày câm lặng/Gốc đa già bật rễ đổ đêm”. Khi ấy, cái ngày khởi khoang ấy, mới được phân định rạch ròi trong mối quan hệ giữa con người và môi trường tự nhiên, kẻ chinh phục và đối tượng bị chinh phục. Sự đối lập giữa chiến thắng và khuất phục.
     
Làng biển - nơi nhà thơ sinh ra khác hẳn với mọi ngôi làng từng có trong thơ ca Việt Nam. Nơi đây “Nắng không dựng thành tường cho người tựa/Mây không là nhà che tiếng khóc”, mà sự sống mơ hồ, trần trụi “Trôi giữa bến bờ hư thực/Lô xô mái cỏ túp lều nghèo”. Chính sự khốc liệt của vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa đã tạo nên đặc trưng, chi phối các yếu tố địa lý, thiên nhiên. Những trận bão lụt tràn dâng nước mặn. Những cơn gió độc mang theo chết chóc. Biển trong thơ Trần Anh Thái không bình yên, không là những mơ mộng lãng mạn viển vông, không phải “Rừng vàng biển bạc” như sách vở hay những bức tranh cổ động đã từng có; mà nó còn là hiện thân của nỗi đau, sự hủy diệt: những trận giông bão bất chợt, những chiều gió quái, những cơn giận dữ cuồng lộ: “Giông bão tràn chát mặn ngày qua”; “Quả mướp già cha để dành làm giống/Gió ngược hai chiều vặn rớt mặt ao”“Bão dựng trước nhà/Xác người lạ dạt vào bụi dứa”.
     
Trong thế giới thơ viết về làng quê ở các trường ca Trần Anh Thái luôn hiện lên một vẻ đẹp độc đáo, khác biệt. Đó là vẻ đẹp của sự hoang hoải, khốc liệt. Cái đẹp buồn, ẩn trong đó sự cô đơn và những suy tư sâu sắc về kiếp sống nhân sinh: “Con cóc già vuốt mặt ngồi im lặng/Cỏ đồng xanh nhàm chán kiếp người/Ngày tháng kéo nỗi buồn thả xuống/Nhịp thời gian biền biệt thả trôi”. Hình ảnh làng quê trong trường ca của ông thường u buồn, đớn đau; vừa hoang vu khốc liệt vừa xa xăm thăm thẳm cõi người, tác động mạnh mẽ vào tâm trí người đọc, không cho phép sự giản đơn hời hợt khi tiếp cận tác phẩm của ông:“Cánh buồm trôi nước xiết đục ngầu/Hoang thú chết phương trời xứ lạ/Hóa làm chiều gió ngược đêm thâu/Bao ngổn ngang sóng xiết sông sâu”. Tiếng sóng biển nơi quê hương ông chở nặng tâm sự đến “khàn đêm”, làm cho “Bàn tay héo gió/Mắt người mờ tỏ” chứ không hề nồng nàn dịu êm mơ mộng. Biển còn dự báo bao buồn đau ly biệt:“Biển mất mùa hải âu bay đi mất/Bệnh đậu mùa gõ cửa các căn nhà...”
     
Thiên nhiên trong thơ ông không còn là đối tượng khách thể mà nhập vào sự sống người, thành dòng máu rần rật chảy trong huyết quản, để vượt thoát nỗi khổ đau. “Lửa đốt phiến đá xanh khắc hình vào đá” “Những mầm cây ấm dần hơi thở/Hạt giống/Bật từ bóng tối”.
     
Khi những đau thương, chết chóc ập xuống ngôi làng thì biển chính là “người” bao dung ôm chắn cho làng. Mối quan hệ giữa biển và người là một. Biển đứt từng khúc ruột, réo rắt, rền vang nỗi xót xa: “Biển rền man dại trời bên”. Biển chất chứa, chở nặng nỗi đau con người, chia sẻ với họ những mất mát.Đối với cư dân làng, biển vừa là nguồn sống, vừa chứa đựng niềm tin, ước mơ về tự do; là đấng siêu nhiên nâng đỡ, cứu rỗi con người; mênh mông và bí ẩn:“Tôi soi dọc đời tôi/Con thuyền ẩn đầy bất trắc/Lúc tôi ngã sóng soài biển nâng tôi lên mặt đất/Khi đêm tối bủa vây sao biển sáng soi đường”. Biển từ “bốn mùa sóng đục” “sóng xiết sông sâu” trở thành một không gian tràn ngập  ánh sáng, thứ ánh sáng lung linh, kì ảo chỉ có ở biển.Những tiếng thì thầm của biển, tiếng ru vọng về của những con sóng là lời an ủi hữu hiệu, nhất là với người thi sĩ cô đơn.“Biển vuốt ru đưa tôi đến bến bờ”. Nhà thơ tận hưởng tình yêu trong sự vĩnh cửu của thiên nhiên để tìm niềm hi vọng vượt thoát khỏi nỗi khổ đau:“Tôi bốc cát xây lâu đài trong ngày biển động/Lâu đài vút cao hạt cát đời bé bỏng”. Từ mối quan hệ kẻ đi chinh phục, kẻ bị xâm phạm, biển đã là máu thịt cùng đồng hành với con người đi qua nỗi khổ đau. Thiên nhiên bị khuất phục trước nghị lực phi thường của con người. “Cha vác kheo đi dưới mặt trời/Bóng gẫy trên mặt sóng”, “Bóng cha lồng lộng trùng khơi” - hình ảnh đẹp, uy nghi, kỳ vĩ của trí tưởng tượng, làm cho cách nhìn về người lao động sang một chiều kích khác, chiều kích thánh thần. Không gian biển trong trường ca của ông không chỉ là không gian thực, không gian sống của con người mà còn là không gian tâm linh. Trần Anh Thái viết về biển với nhiều cung bậc sắc thái khác nhau vừa lạ vừa gần gũi quen thuộc. Hành trình hướng ra biển là hành trình “Ký ức sáng trên vầng trán người đạo sĩ già ẩn cư miền cao Yên Tử” “Người đạo sĩ chống cây gậy trúc chỉ tay về phía biển Đông/Mặt trời đang mở sáng”. Ở đây làm ta liên tưởng tới bóng dáng những đoàn quân Vi-kinh hùng mạnh ở châu Âu thuở đi chinh phục, mở mang bờ cõi “Vẳng cơn gió ngàn năm/Mơ hồ những cuộc chinh phạt” để hướng đến chân trời mới…
     
Trong văn hóa nhân loại, đất đai được mệnh danh là vị thần có sức mạnh lớn lao, phương Tây gọi đó là Đất Mẹ - nữ thần Gaia, tượng trưng cho sức mạnh tái sinh, vẻ đẹp phồn sinh của tự nhiên. Phương Đông quan niệm đất là hành Thổ, một trong ngũ hành cấu thành nên thế giới. Đất đai, cánh đồng làng biển hiện lên trong thơ Trần Anh Thái khác thường: “Bao ngổn ngang sóng xiết sông sâu/Người làng ngậm buồn thả vào trời biếc” là “Mưa ướt mặt vầng trăng tháng Tám/Ngày ba bề tiếng ếch rạc bên sông”, “Hoa ngô rụng xác mặt người/Chiêng trống gõ trời bay mất”. Nơi làng biển quanh năm trầm hùng trong tiếng sóng, và “Người đối mặt vào trời khô khốc” nhưng: “Làng tồn sinh sau mỗi sáng mai”“Làng trĩu hình gánh lúa gập trên lưng”. Cơn bão qua, hạn hán đến, những cánh đồng khô nứt nẻ, hành hạ: “Đồng vắng không [Mùa màng mộng mị vòng quanh/Cào cào xác mặt cỏ xanhHoa ngô rụng xước mặt người/Bờ ao sót gốc muống già”. Đến nỗi: “Chiếc vương miện trên cánh đồng cổ tích/Đã bao phen bỏng rát mặt lư đồng”. “Cà chưa thành hoa sương muối chà nẫu ruột”. Nhà thơ tái hiện lại một cánh đồng trống không, tiêu điều, lụi tàn “những hạt giống xác xơ” giữa vùng sống khắc nghiệt trước biển. Vấn đề ở đây, Trần Anh Thái không nhằm hướng người đọc vào sự khổ đau bi lụy, mà ông muốn khẳng định giá trị Người, khẳng định sức sống mãnh liệt và nghị lực phi thường, không khuất phục của con người quê hương ông. Bời vì đó là “cánh đồng mọc ra từ máu thịt ông bà”. Nhà thơ tôn vinh con người “Tên họ cao hơn mọi tôn giáo lễ nghi”. Chính con người mới làm nên sự sống, bóng tối tan ra thì ánh sáng trở về:“Cây ngô đồng không tưới vẫn ra hoa/Lá tre nhỏ mà vòm che rợp mát”; “Hạt giống giấu nụ cười/Những mầm cây ấm dần hơi thở/Hạt giống/Bật từ bóng tối/ Cái chết lửng lơ/Những chiếc rễ từng ngày bám vào lòng đất”.
     
Cánh đồng trong trường ca Trần Anh Thái còn là cánh đồng đầy thương tích chiến tranh. Mảnh đất làng vốn héo mòn do sự sống khắc nghiệt vừa bật dậy thì bất ngờ chiến tranh ập đến “Người đưa thư báo tin chiến trận/Mẹ đánh rơi nia gạo xuống sàn nhà”. Chiến tranh  luôn là khúc quanh nghiệt ngã của lịch sử, là bản bi ca của thời đại. Những đứa con của làng ra đi. Họ ra đi để cho làng còn. Máu, xương của họ chôn vùi trong đất: “Mặt bạn tôi bê bết máu chiến hào”. Mảnh đất quê hương trở thành chứng nhân của những trận đánh khốc liệt, oằn mình đau đớn.Với Trần Anh Thái, đất có linh hồn, có đời sống riêng, đời sống của đất gắn với lịch sử làng. Khi mỗi đứa con chết đi, cả cánh đồng ngân lên bài thánh ca:“Mẹ đưa em về nằm bên mộ bố/Khắp cánh đồng ngọn gió hát ru”. Thi sĩ là người tri ân sâu sắc với mảnh đất thiêng liêng: “Nhọc nhằn, tình yêu và cái chết, hòa điệu cùng bài ca dính đầy máu và mồ hôi của đất”. Nhưng là“mảnh đất nâng tôi qua nồng ấm bình minh vang vọng tiếng người”. Trở về với làng là tìm về bình yên nơi quê cha đất tổ, về cội nguồn văn hóa bao đời. Chính điều đó thúc giục nhà thơ “lang thang khắp cánh đồng tìm dấu chân tổ tiên” tìm những điều bí ẩn sau “mảnh đất im lìm tầng tầng máu đổ/Mảnh đất linh hồn ông cha”. Rồi có ngày “Mảnh đất tổ tiên giờ mang bán đổi”“Mảnh đất ngàn đời linh thiêng vừa mất”... Những dòng thơ viết về cánh đồng làng bằng một tình yêu mãnh liệt, tràn đầy cảm xúc với cuộc đời trong trái tim thi sĩ của ông. Cánh đồng hay cũng chính là mảnh đất tổ tiên ngàn đời để lại, đó chính là linh hồn của con người, của dân tộc. Kẻ nào không có tình yêu đó kẻ đó không tồn tại.
     
Làng trong trường ca Trần Anh Thái cũng chính là cuộc sống con người. Ông đã “làng hóa” để tạo ra không gian rộng lớn với những tầng sâu tâm tưởng về thân phận con người. Con người với tất cả vẻ đẹp sinh ra từ khổ đau, bất hạnh, biệt ly; từ tình yêu đắm say và niềm khao khát yêu thương trên con đường nhọc nhằn, thăm thẳm cô đơn của kiếp nhân sinh mà một nhà thơ đích thực như ông luôn suy tư, dằn vặt. Đọc trường ca của ông, ta thường bắt gặp một không gian xác xơ, hoang vắng, rợn ngợp: “Tiếng quạ kêu rờn rợn dọc bãi bồi/Hoang thú chết phương trời xứ lạ” “Cánh bèo dạt góc trời xô dập/Lặng lẽ vùi trong cát nở hoa”.
     
Bức tranh quê hiện lên khác lạ, độc đáo. Song, nếu chỉ dừng lại ở đó thì bức tranh làng biển chưa thật hoàn hảo, và chưa làm nên diện mạo độc đáo của ngôi làng trong trường ca này. Sinh vật trong trường ca Trần Anh Thái không tràn trề xanh tốt, không có cánh đồng lúa thẳng cánh cò bay, chẳng êm đềm mơ mộng mà chứa trong nó đầy những âu lo, vật vã ưu tư trước nghiệt ngã của cõi sống: “Cây lúa đồng trồng mãi chẳng ra bông/Cây dừa chưa kịp xanh kiến đã ăn trụi lá/Tàu chuối non gió xé rách bươm/Hoa xương rồng cuối đông nở muộn”. Trên cánh đồng ấy chỉ có “cây mào gà đỏ rực” mọc lên bởi khả năng thích nghi. Những thách thức số phận dồn dập đổ xuống khiến: “Bờ ao sót gốc muống già/Giun đất xéo đi cày lại/Ễnh ương ngồi già nua hốc tối”; “Khoai sắn bới non/Cây ngô rụi xuống/Rau muống trổ ngồng/Đồng không dặt dẹo/Cá chết ngày đông”. Biểu tượng “đồng không dặt dẹo” cho thấy sự sống dở chết dở. Chúng giống con người, trút dòng máu, hơi thở cuối cùng xuống đất đaiỞ miền thôn quê, tiếng chim hót, ếch nhái râm ran và tiếng dế trên cánh đồng là những bản đồng ca thanh bình. Nhưng trong trường ca Trần Anh Thái, vẫn tiếng dế kêu nhưng là tiếng kêu duệch doạch, chúng lay lắt trong cõi mơ hồ, ai oán; ngay cả chim chóc cũng véo von lạc giọng:“Chim chích chòe méo giọng ban trưa”. Cây đa, gốc gạo đầu làng là biểu tượng của làng quê giờ đây cũng bật gốc, trút lá trái mùa: “Gốc gạo đầu làng ứa dòng nhựa đỏ/Suốt ngày đêm trút lá trái mùa”. Chưa bao giờ, ta thấy trong thơ ca Việt Nam một cánh đồng quê lại lụi tàn, xơ xác, độc đáo như làng biển thời chiến tranh trong các trường ca Trần Anh Thái.
     
Và chỉ khi mồ hôi con người đổ xuống thì đất tái sinh: “Hạt giống giấu nụ cười/Những mầm cây ấm dần hơi thở”. Một không gian sống rộng lớn và phong phú bật mở “ba mươi mùa bãi sú ngoài đồng đàn sếu tìm đường về sinh nở”, “sú vẹt lầy bùn”;“Bầy cá bay ngang mặt trời lấp lóa thủy tinh”; “Những chú còng tìm về hang sinh nở”.
   
 Cứ như thế bản sắc của làng hiện ra. Nhà thơ gửi gắm sự gắn bó máu thịt của mình vào đó với một tình yêu quê hương đắm say và một trách nhiệm cao cả trước cuộc đời. Những hình ảnh khốc liệt của thiên nhiên tràn ngập trong thơ ông chính là những ẩn dụ cho cuộc sống thực của kiếp người. Nó soi tỏ nhân tính, buộc người đọc phải dừng lại trầm tư suy tưởng.
     
Ở một khía cạnh khác, trong các trường ca Trần Anh Thái, biểu tượng về Mặt trời ở làng không thuần nhất tượng trưng cho đấng tối cao, sự ban phát. Có thể thấy trong nghệ thuật nói chung, hình tượng mặt trời thường lớn lao, kì vĩ, khoáng đạt tràn đầy ánh sáng. Nói đến mặt trời người ta liên tưởng ngay đến điều tốt đẹp nơi thế gian, đó là lý tưởng, chân lý, là sự hướng thiện. Đó là hình ảnh cho sự cao cả, vĩ đại...
     
Khác biệt với quan niệm trên, có thể khẳng định chắc chắn rằng, mặt trời trong trường ca Trần Anh Thái không lẫn với bất kì thứ mặt trời nào trong nền thi ca Việt Nam. Mặt trời nơi làng biển quê ông luôn bao phủ bởi lớp mây u ám, ảm đạm và ẩn chứa nhiều bí ẩn: “Mặt trời tắt đêm vang hỗn độn/Bầu trời xám, mặt đất xám/Bầu trời phăng phắc vắng”. Một không gian hỗn độn, mờ đục, thiếu sức sống. Đây dường như không phải không gian sống của con người, chỉ rặt bóng tối vây bủa. Đó là thứ mặt trời không mang lại sức mạnh hay điều kỳ diệu nào mà ngược lại nó như một tín hiệu về điềm dữ sắp xẩy ra: “Phía trước chân trời/Tối mù giông tố/Ánh sáng nhô lên hổn hển”; “Những vì sao sáng tối mập mờ”; “Mặt trời ngăn ngắt”. Một không gian mù tối bao trùm, ánh sáng nhỏ nhoi lóe lên nhưng nhanh chóng phụt tắt, làm cho sự hỗn loạn gia tăng, cuối cùng bóng tối ngự trị. Một không gian chật hẹp, tù túng, bí bách, thiếu vắng sự sống và tự do cá nhân. Đến nỗi, Chúa trời cũng vô tâm, vô tình trước nỗi cay đắng, cơ cực đang đè nặng kiếp người: “Thượng đế rong chơi/Người thợ cày nhâm nhi giọt máu của mình”.
     
Trần Anh Thái phủ nhận sức mạnh của mặt trời “Làng trước biển sóng rền bão tố/Người đứng lên đổ bóng xuống mặt trời”. Và qua sự đối lập giữa hình ảnh “mặt trời rong chơi”, “đám mây lơ đễnh” với cuộc sống thiếu vắng tự do, nỗi đau khổ và cõi sống nhọc nhằn lam lũ của người nông dân Việt... Nhà thơ mơ đến một vòm trời khác, một vòm trời tràn đầy ánh sáng, thứ ánh sáng rực rỡ mà không gay gắt, không nắng cháy cũng không phải ánh trăng mờ xuyên qua ngọn tre “ánh trăng côi cút đêm rằm”. Nhà thơ luôn đặt ra những câu hỏi truy vấn về ý nghĩa của cuộc sống: “Có rạng một vòm trời khác?”. Một mặt trời giúp đoàn người lam lũ bước sang thế giới khác tốt đẹp hơn, chứ không phải thứ mặt trời như thực tại. Bầu trời mơ ước đó hiện lên huyền ảo, rực rỡ, trong câu thơ “Ánh sớm trong suốt ban mai mặt trời màu hồng ngọc sáng trên mặt nước”. Nhưng làm cách nào, con đường nào giúp thay đổi thế giới, đưa cuộc sống con người đến một thế giới tràn ngập ánh sáng? Nhà thơ tìm thấy ở thực tại một sức mạnh khác, một mặt trời khác, đó chính là những Con Người. Con Người của tư duy và hành động, con người của những cá nhân trong quá trình vươn tới tự do sáng tạo, để tạo ra những gía trị mới. Chính họ chứ không phải ai khác, bằng trí tuệ, bàn tay, mồ hôi đổ xuống thì ánh sáng sinh ra. Họ giản dị là những nông dân sống trên đất làng “làng là nơi cho ánh sáng tìm về, cho mặt trời nương tựa”, còn cái “mặt trời vô tích sự mặc mây che” kia thì...
     
Bằng quan niệm này, nhà thơ Trần Anh Thái đem đến cho độc giả một nhận thức mới về hạnh phúc, về ngọn nguồn sự sống. Ông đề cao Con Người, những nông dân Việt, những cư dân làng biển. Với nhà thơ, con người chính là mặt trời của mặt trời. Hình ảnh vời vợi uy nghiêm của đoàn người đi dưới hoàng hôn kỳ vĩ khắc sâu vào tâm trí người đọc: “Làng trước biển sóng rền bão tố/Người đứng lên đổ bóng xuống mặt trời”...
     
Trong các trường ca Ngày đang mở sáng, Trên Đường, Mỗi loài hoa một mặt trời khi viết về làng, Trần Anh Thái dường như chìm đắm vào nỗi buồn triền miên không dứt. Có người nói “Thơ Trần Anh Thái là thơ lấy tâm trạng để miêu tả tâm trạng”. Nhận xét này có lý nhưng theo chúng tôi, trong thế giới thơ ông còn luôn hiện lên một vẻ đẹp khác, vẻ đẹp của cô đơn trong suốt. Những hình ảnh thánh thiện nội tâm mang màu sắc tôn giáo và triết học làm xao xuyến bâng khuâng: “Dòng người, sương mờ buổi sáng, nỗi ngờ vực vang lên. Con đường chênh vênh gió. Cái chết của thời gian, sự sống của thời gian âm u, xao xuyến. Trong khoảng hỗn dộn của vô cùng, ý nghĩ rối rời chật chội. Ngày trôi qua giấc mơ. Những dấu chân ngơ ngác rời xa ký ức”.
     
Nỗi buồn xa vắng mênh mang trong cõi thẳm sâu mơ hồ đưa con người vào thế giới trầm tư suy tưởng: “Không ai đốt lửa trước con đường, chỉ có niềm hy vọng cháy lên. Sức mạnh bàn chân ở nơi thẳm sâu miền trắc ẩn, ngân nga nơi dấu chân tổ tiên, nơi những câu chuyện buồn không dứt. Đi! Dừng lại là đắm chìm, là hoang mang cay đắng, là tiếng vọng xa xăm lạnh buốt cõi người. Không có bờ sóng vỗ vào đâu?”
     
Ở một khía cạnh khác, nhà thơ phản ánh hiện thực bi thương qua việc dựng lên một thế giới tâm linh đầy ám ảnh. Những câu thơ viết về vấn đề này có thể xếp vào hạng những câu thơ hay trong thơ ca Việt Nam: “Giỗ Tết người ta mua hương hoa viếng người thân trong nghĩa trang liệt sĩ/Nén hương chị thắp trời không”, “Chị héo hon lẫn vào dòng người đi tìm hài cốt/Ca cút kêu thảng thốt bên trời”. Những ban thờ, những nén hương, những tàn nhang rơi lạnh, nấm mồ không tên không địa chỉ... “Cây vàng mã mua cất vào góc tủ/Chị sợ đốt rồi hương khói biết bay đâu?” Lấy chuyện âm để soi sáng thế gian, lấy cõi ma để nói cõi người. Qua đó, người đọc thấm thía những bi kịch của kiếp sống nhỏ nhoi, mong manh. Nói gọn: Trường ca trần Anh Thái là những trường cảm xúc mạnh mẽ, dồi dào về các giá trị nhân bản.Trái tim nhân bản của ông hiện lên rõ rệt sâu sắc qua từng con chữ. Ông thấu hiểu thân phận người, đồng cảm với nỗi đau của họ. Từ đó lên tiếng tố cáo tội ác chiến tranh, tội ác của thói vô cảm và đạo đức giả. Nó chính là nguyên nhân của mọi nỗi thống khổ. Mỗi câu thơ đầy ưu tư, phiền muộn như vắt ra từ máu, trĩu nặng nỗi buồn đau nhân thế của  người nghệ sĩ tài năng và giàu lòng trắc ẩn này, không chỉ dành cho cá nhân ai, mà chính là niềm cảm thương cho cả một dân tộc, cả một thế hệ...
     
Giá trị không thể phủ nhận trong trường ca Trần Anh Thái là tầm vóc tư tưởng và ngôn ngữ. Trong cả bốn trường ca của ông, người đọc có thể thấy ông luôn có ý thức hướng ngòi bút đến tận cùng nỗi đau của con người, đặc biệt là người phụ nữ. Bằng trái tim nhạy cảm và một tình yêu thương sâu sắc con người, nhà thơ không ngần ngại phơi bày bộ mặt thật của chiến tranh “Xác quân thù xác bạn gục vào nhau”... Ông không đứng trên lập trường dân tộc mà hơn thế, là tính nhân văn cao cả, từ góc độ văn hóa nhân loại để lên tiếng phản đối, tố cáo.
     
Hình ảnh nén hương, ban thờ xuất hiện dày đặc trong các trường ca của Trần Anh Thái:“Ngôi đền Thần hoàng tổ tông mười hai đời trước/Máu người hằn khô vách đá lô xô”“Nén nhang thắp âm u sông nước”;“Khu đền thiêng đóng cửa/Người canh đền đã xưa/Thương tích hằn thế kỉ/Chiếc đỉnh thờ u uất khói hương”. “Tôi thắp một nén hương/Tàn nhang quẩn một vòng tròn trống”; “Chiếc đỉnh đồng mất lửa/Những tàn nhang đã tắt”“Trên bàn thờ tàn nhang đã tắtKhói hương ngơ ngẩn trần nhà”. Hương lửa tượng trưng cho sự hủy diệt, nhưng đồng thời  cũng tượng trưng cho sự sống, biểu tượng của ý chí, của khát vọng đẩy lùi cái hữu hạn, bóng tối để sinh sôi, khởi phátNgọn lửa trong trường ca Trần Anh Thái là ngọn lửa của văn hóa, đầy sức sống, thiêu rụi tối tăm, mở ra một thế giới mới.
     
Nói đến văn hóa sinh thái nhân văn không thể không đề cập đến cuộc sống thường nhật của làng: “Người thợ cày đêm đêm ngồi uống nước chè trước hiên nhà nhìn sao tua rua tính vụ/Cơn gió nam vơ vất chòm râu/Ông gieo cuộc đời xuống vài ba thước đất/Khói thuốc lào chậm rãi thả vào trăng”. Một hình đẹp, xuất sắc về gía trị của người lao động gắn với thiên nhiên huyền diệu. Đây nữa: “Hình người gẫy khúc/Đàn ông gò lưng vác đất/Tảng đất buông ra nắng vỡ ngang đầu/Đồng mở tới đâu/Bàn tay héo gió/Cơn khát giày vò/Mắt người mờ tỏ...”. Tôi thích những câu thơ văn xuôi rực rỡ, đẹp một cách huyền bí, lung linh xuất hiện phổ biến trong trường ca Trần Anh Thái: “Mùa đông lén lút giấu sau làn sương mỏng manh bay ngang mặt nước/Những người đàn bà mải miết tìm hang bắt cá cầy cầy bên thong nước đỏ ngầu màu đất phù sa”; “Những người đàn bà nhẹ nhàng đặt cây đèn cầy bên thong nước khéo léo lùa bầy cá vào ô lưới giăng cửa đợi chờ”.
     
Khả năng tưởng tượng rộng mở, bay bổng tới không giới hạn; nhịp thơ khỏe khoắn, rắn chắc, cảm xúc mạnh mẽ tự nhiên, lôi cuốn là thế mạnh trong thơ Trần Anh Thái: “Những người đàn ông ngực trần lực lưỡng sải cánh tay cuồn cuộn tung tấm lưới về phía hừng đông rực sáng/Ngày mới rộn vang cuộc sống hào phóng tự do đôi cánh hải âu chao trên ngọn sóng”.“Niềm hạnh phúc giản đơn thầm lặng/Sân phơi cá trắng nắng thu vàng”. “Trai làng ra đi biển bốn mặt mịt mờ bão tố/Những thiếu phụ đêm đêm nhẩm tính lịch nước ròng/Một cơn gió đổi chiều một tiếng chim khác lạ/Bỗng giật mình nỗi sợ thót tim”.
   
Vừa cụ thể vừa huyền ảo, cái hùng vĩ hòa trộn với trầm lắng nội tâm tạo đột biến bất ngờ đáng nể: “Mặt trời lướt qua lớp sóng bạc đầu đoàn thuyền căng buồm về bến/Bóng cha lồng lộng trùng khơi…Những người ngư dân vạm vỡ ngực trần bước đi rạng rỡ/Giọt nước mắt người đàn bà sau vạt áo lặng  rơi”. Những trang thơ Trần Anh Thái, hình tượng người lao động được tôn vinh như những vị thần. Bóng họ uy nghi lồng lộng nhưng lại trầm tư sâu thẳm, có khả năng đánh động trái tim người đọc: “giọt nước mắt người đàn bà sau vạt áo lặng rơi”. Nhà thơ nhìn vấn đề ở một chiều kích khác - chiều của linh giác. Ở đây không chỉ thấy hào quang mà còn thấu suốt được những góc khuất của kiếp người, góc chìm của hiện thực đời sống. Những mất mát, trả giá trong cuộc mưu sinh không chỉ đè nặng lên vai người đàn ông mà còn âm thầm trĩu nặng trong trái tim người thiếu phụ... 
     
Viết về đời sống lao động của người dân làng biển trong trường ca, chính là viết về ký ức, về ý nghĩa hình thành nền văn hóa - văn minh biển. Nhà thơ khẳng định họ là chủ thể duy nhất của chính bản thân họ, với ý nghĩa trung thực nhất của từ này. Là quá trình tự hoàn thiện con người, của lịch sử dân tộc, qua khả năng chinh phục và sáng tạo. Bằng suy nghĩ thấu đáo, nhà thơ dự phóng về  một thế giới mới, một vị thế mới cho con người:

“Bóng người đánh cá già lồng lộng in vào trời đất. Đôi mắt sáng tiên tri chỉ tay về phía mặt trời đang tan trong làn sương...”.

  NGUYỄN THỊ THUẤN
(VHNA)





Thứ Tư, 11 tháng 9, 2019

Chữ và nghĩa: 'Khôn cho người ta...'

Dạng đầy đủ của câu tục ngữ này là "khôn cho người dái, dại cho người thương, dở dở ương ương chỉ tổ người ghét". “Từ điển tục ngữ Việt” (Nguyễn Đức Dương, NXB Tổng hợp TP.HCM) giải nghĩa câu này là: "(Đã tinh khôn) hãy tinh khôn cho ai cũng phải e nể; (đã khờ dại thì) hãy khờ dại cho ai cũng phải cảm thương; chứ hành xử vừa chẳng ra dại, vừa chẳng ra khôn thì chỉ khiến cho mọi người ghét bỏ mà thôi".
Tác giả Nguyễn Đức Dương còn thống kê thêm 3 biến thể chuyển chú nữa:“Khôn cho người rái, dại cho người thương, dở dở ương ương chỉ tổ người ghét”; “Khôn cho người ta dái, dại cho người ta thương, dở dở ương ương chỉ tổ người ta ghét”; “Khôn cho người ta rái, dại cho người ta thương, dở dở ương ương chỉ tổ người ta ghét”. Chúng chỉ khác về số câu chữ và thêm trường hợp chính tả viết khác (dái và rái) còn nội dung ngữ nghĩa như nhau.

Có một chữ "dái" cần làm rõ trước khi giải nghĩa toàn bộ câu tục ngữ này.

"Dái" (hay còn viết là "rái") là một từ cổ. “Từ điển Việt - Bồ - La” (A. de Rhodes 1651) giải nghĩa là "sợ"; “Đại Nam quấc âm tự vị” (Huình Tịnh Paulus Của, 1896) giải nghĩa là "kiêng nể"; “Từ điển Từ cổ” (Vương Lộc, NXB Đà Nẵng, 2001) và “Từ điển tiếng Việt” (Hoàng Phê chủ biên, Trung tâm Từ điển học, 2017) cho từ này là từ cũ, ít dùng và cùng giải nghĩa là "kiêng nể".

Từ "dái" này lại đồng âm với một "dái" khác, hay dùng hơn, có nghĩa thông dụng, chỉ "bìu dái" (khẩu ngữ, tức "âm nang" - là "bọc chứa hai tinh hoàn của người (hay động vật có 4 chi, như trâu, bò, chó, lợn, dê, cừu..."). "Dái" trong thành ngữ "Chạy như chó dái" hay tục ngữ "To đầu mà dại, bé dái mà khôn" chính là "dái" này).

"Dái" có nghĩa cổ còn xuất hiện trong một số tục ngữ khác nữa. Chẳng hạn: 1. “Quen dái dạ, lạ dái áo” (Với người quen biết, sống với nhau lâu thì cái mà người ta tôn trọng, kính nể chính là lòng dạ (gồm tư cách, sự hiểu biết, cách ứng xử...); còn với người lần đầu mới quen thì hình thức bề ngoài (trước hết là trang phục, quần áo, bộ dạng..) lại làm cho người ta thấy coi trọng. Câu này cũng ngầm chuyển tới một thông điệp "tốt gỗ hơn tốt nước sơn", cái thực chất của mỗi người quan trọng, giữ vai trò quyết định trong việc định giá trị. 2. “Yêu nhau chị em gái, dái nhau chị em dâu, đánh nhau vỡ đầu anh em rể” (chị em gái - chị em ruột - thường thương yêu, đùm bọc nhau; chị em dâu - có sự cách biệt về quan hệ - thường hay e dè, giữ ý, không thân mật; anh em rể - thứ anh em hình thức - thường hay xích mích, va chạm, không thân thiện, tới mức có thể choảng nhau "vỡ đầu" như chơi - kể cũng hơi quá chứ anh em rể đâu đến nỗi tệ thế?).

Từ "dái", hiểu sâu xa hơn, không chỉ là "kiêng nể", mà còn là "tôn trọng, khâm phục, đáng học hỏi". Đó là một cách ứng xử mà người đời lựa chọn trong quan hệ nói chung. Vậy, tục ngữ "Khôn cho người ta dái, dại cho người ta thương, dở dở ương ương chỉ tổ người ta ghét" cần giải thích chính xác là: "Mỗi người ở đời, có ba cách thể hiện tư cách (cũng như tư chất) và sẽ nhận được ba thái độ ứng xử khác nhau của cộng đồng:

1. Nếu (thực sự) tỏ ra khôn ngoan, giỏi giang, khéo léo sẽ được người khác nể trọng; 2. Nếu tỏ ra còn non kém, dại khờ (một cách chân thành, hồn nhiên) thì sẽ được người khác thông cảm, chia sẻ, quý mến (kém cỏi, thua chị kém em đâu có sao, miễn là ta biết mình biết người); 3. Còn ai đó có biểu hiện không rõ ràng, chả ra khôn chả ra dại, tinh tướng ta đây lên mặt với đời dễ bị người khác "đọc vị" tẩy chay, không nhận được sự tôn trọng và sẽ bị phân biệt đối xử".

“Cái gì cũng phải rõ ràng
Dở dơi dở chuột cả làng không chơi...”.
PGS-TS PHẠM VĂN TÌNH
Nguồn: TTVH



Thứ Ba, 10 tháng 9, 2019

Triết gia, nhà văn Nga A. Zinoviev: Người tới từ tương lai

Chưa bao giờ thỏa mãn với hiện tại, nhưng Alexander Zinoviev cũng không khi nào tỏ ra bi quan đối với nền văn minh trần thế. Có thể trong một thời điểm nào đó, những lập luận của ông chưa được hiểu đúng chiều và đúng hướng nhưng trong nhận thức của xã hội Nga và cả trong tâm thế của nhiều trí thức trên thế giới, di sản triết học và văn chương của Zinoviev luôn đồng nghĩa với tiến bộ và phát triển.
Nhà văn Alexander Zinoviev

Đêm 10/5 tại Moskva, ở tuổi 84, nhà văn kiêm triết gia nổi tiếng thế giới Alexander Zinoviev đã trút hơi thở cuối cùng sau một thời gian dài lâm trọng bệnh (ung thư não). Có lẽ đó cũng là một kết cục tất yếu đối với một trí thức suốt đời mê mải tư duy về số phận nước Nga và thế giới đã không có được phút nào bình an trong tâm tưởng như Zinoviev. Tuy nhiên, dẫu người đã về cùng cát bụi nhưng những suy nghĩ của ông chắc chắn sẽ còn giúp nhân loại tiếp tục quá trình nhận thức gian khó và không mệt mỏi về tương lai của mình.

Con đường trăn trở

Cuộc đời của Zinoviev không bằng phẳng và rất phong phú sự kiện. Ông sinh năm 1922 tại tỉnh Kostroma trong một gia đình nông dân Nga đông con nhiều cái. Học giỏi từ nhỏ, năm 1939, Zinoviev thi vào Trường Đại học Triết, văn và sử Moskva (MIFLI), học đường đã đóng vai trò thay thế các khoa xã hội nhân văn của Trường Đại học quốc gia Moskva mang tên Lomonosov (MGU) trong 10 năm, từ 1931 tới 1941. Khi cuộc chiến tranh Vệ quốc vĩ đại bùng nổ, Zinoviev gia nhập quân đội, trải qua mọi cảnh lửa, nước và ống đồng trong đạn bom, bắt đầu là một chiến sĩ lái xe tăng và cuối cùng trở thành một phi công lái máy bay tiêm kích, tham dự tới 31 chuyến bay chiến đấu. Đảng và Nhà nước Xôviết đã trao tặng người lính Zinoviev nhiều huân và huy chương...

Năm 1946, Zinoviev lại vào học tiếp ở Khoa triết MGU và tốt nghiệp vào năm 1951. Năm 1954, Zinoviev bảo vệ rất thành công luận án phó tiến sĩ về phép lôgích trong bộ sách "Tư bản" của Karl Marx. Năm 1960, Zinoviev bảo vệ thành công luận án tiến sĩ và trở thành người phụ trách bộ môn toán lôgích tại Khoa triết MGU. Hàng loạt những tác phẩm triết học có giá trị đã xuất hiện dưới ngòi bút ưu thời mẫn thế và đầy trách nhiệm với cuộc sống của Zinoviev.

Là một triết gia có cách nhìn hiện thực phê phán đối với những gì còn chưa hoàn thiện, Zinoviev đã không mấy quan tâm tới việc giữ mồm giữ miệng khi phát ngôn quan điểm của mình. Trên phương diện này, có lẽ ông là người gần gũi với nhà văn Nga nổi tiếng từ thế kỷ XIX, Saltykov-Shedrin (1826-1889). Trong tâm thức của hai nhân vật khác thời nhưng cùng kiệt xuất này, tình yêu tổ quốc vô bờ bến trước sau như một luôn gắn liền với thái độ đấu tranh không khoan nhượng và trung thực với những khoảng tối đang còn ám ảnh dân tộc Nga. Chính vì thế nên ngay cả khi do hoàn cảnh phải tạm thời sang cư trú ở nước ngoài (tại Munich từ năm 1978 tới 1999), Zinoviev vẫn nhất mực chối từ xã hội tư bản. Về sau, ông đã rất tự hào là trong gần 20 năm ở xa nước Nga, ông đã hoàn toàn sống bằng tiền nhuận bút và các bài giảng chứ không hề nhận bất cứ một xu nào từ phía những kẻ muốn ông phát ngôn theo chúng để chỉ trích chế độ Xôviết. Những tác phẩm của ông xuất hiện trong thời gian này cũng đầy trăn trở và tâm huyết đối với nước Nga và nhân loại...

Có lần, ông đã tâm sự: "Tôi là người Nga, tôi thuộc về dân tộc Nga. Tôi biết thế nào là dân tộc Nga. Nhưng tôi không phải là kẻ theo chủ nghĩa dân tộc...". Ngay cả trong lúc tưởng như sa cơ, tưởng như bị quê hương ruồng bỏ, ông vẫn còn nói được một câu nổi tiếng làm "tẽn tò" một số thế lực muốn kích động ông chống lại nước Nga: "Tôi không coi phương Tây là vương quốc tự do, tôi cũng không coi Liên Xô là vương quốc nô lệ...".

Zinoviev tự gọi mình là "người tới từ tương lai" bởi lẽ, với trí tuệ siêu việt của mình, ông muốn giúp nhân loại tỉnh táo và hiện thực hơn khi lựa chọn con đường phát triển. Không phải mọi điều ông nói đều hiển nhiên đúng, nhưng dẫu sao đó cũng là những thông tin tham khảo hữu ích đối với những ai muốn tạo dựng một tương lai bớt u ám hơn những gì đã có.

Công bằng với lịch sử

Trong cách nhìn nhận của Zinoviev ở đầu thế kỷ XXI, xã hội Xôviết đã là đỉnh cao của lịch sử nước Nga, mặc dầu chưa chắc đã là điều tốt nhất mà nhân loại mơ ước: "Tôi không viết sách giáo huấn, tôi không đưa ra những nhận định mang tính chủ quan nhưng tôi biết: trong lịch sử Xôviết của chúng ta đã mở ra một dạng thức mới của tiến hóa xã hội. Khác hẳn tất cả những gì đã có và những gì đang hiện hữu. Xét về ý nghĩa này thì đấy là một thí nghiệm xã hội vĩ đại, có ảnh hưởng vô cùng to lớn đối với nhân loại, và toàn bộ quá trình tiến hoá của nhân loại đã và đang diễn ra dưới ảnh hưởng của mô hình ấy. Quý vị nghĩ rằng Liên bang Xôviết đã không có ảnh hưởng tới lịch sử thế giới ư? Thật là nực cười nếu ta phủ nhận ảnh hưởng đó. Tại phương Tây, người ta đã vay mượn từ kinh nghiệm Xôviết vô số những thành tựu và những thành tựu này đã trở thành máu thịt của nhân loại".--PageBreak--

Xã hội Xôviết, theo cách lý giải của Zinoviev, đã là một hệ thống tổ chức xã hội khác hẳn: "Liên Xô lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại đã bắt tay vào việc thành lập những liên hiệp tầm cao hơn hẳn so với các mô hình xã hội khác... Trong cuốn sách "Siêu xã hội" tôi đã mô tả tỉ mỉ cái đó là như thế nào. Siêu xã hội - đó là mức độ tổ chức xã hội cao hơn hẳn. Chúng ta hãy thử xem xét toàn bộ quá trình tiến hóa của nhân loại - một thí dụ kinh điển: có những quốc gia mang tính dân tộc của các nước Tây Âu, nhưng cũng có những liên hiệp thô sơ hơn. Liên bang Xôviết chỉ tồn tại 70 năm. Nhưng tại Liên Xô lần đầu tiên đã phát minh ra một hình thức tổ chức cao hơn hẳn...".

Zinoviev cho rằng, xã hội Xôviết đã có rất nhiều ưu thế chủ quan bất chấp vô số những khó khăn khách quan. Và sự tan vỡ của Liên bang Xôviết đã có thể diễn ra, ngoài một số yếu tố nội tại nào đó, chủ yếu là do những "mưu ma chước quỷ" từ bên ngoài cộng hưởng với sự phản bội lại đạo lý và tư tưởng cộng sản từ phía một bộ phận lãnh đạo cấp cao bị tha hóa bởi những "viên đạn bọc đường" từ phương Tây.

"Ông có tiếc về sự tan rã của Liên bang Xôviết không?" - khi nghe câu hỏi này, Zinoviev đã đáp ngay lập tức: "Tôi không bao giờ tiếc nuối cái gì cả. Liên Xô đã tan rã, không còn Liên Xô nữa. Nhưng chính nhờ Liên bang Xôviết mà dân tộc Nga mới có thể tồn tại được và đã đóng được một vai trò nào đó. Sau khi Liên Xô tan rã, dân tộc Nga đang phải đối mặt với nguy cơ suy thoái... Điều này đã được các nhà chiến lược của phương Tây tính toán từ những năm 40 của thế kỷ trước. Chỉ tính riêng tại Hoa Kỳ đã có tới hơn 300 trung tâm chuyên về nghiên cứu chiến tranh lạnh với nước ta. Trong chiến tranh lạnh đã có hàng chục triệu người bị lôi kéo vào những hoạt động chống lại Liên Xô. Đó là một mưu đồ khổng lồ. Chuyện này đã diễn ra không phải là trong ngày một ngày hai...".

Đọc đến đây có thể nhớ tới những lời phát biểu mới nhất của Tổng thống Nga Vladimir Putin trong Thông điệp Liên bang thường niên đọc trước hai viện Quốc hội Nga cũng vào ngày 10/5 vừa qua. Ông Putin đã đề cập tới nhu cầu nước Nga phải trở nên mạnh mẽ hơn, đông dân hơn để bảo vệ quyền tồn tại xứng đáng của mình trên trường quốc tế.

Không lý tưởng hóa xã hội Xôviết, nhưng Zinoviev luôn cố gắng nhất quán gìn giữ thái độ công bằng đối với quá khứ, đặc biệt là với những nhân vật từng đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển Liên Xô trước đây. Về Stalin, Zinoviev nhận xét: "Tôi đánh giá ông ấy là một trong những nhân vật vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại... Bởi lẽ, ông ấy đã tạo lập được một cường quốc vĩ đại". Theo Zinoviev, trong những năm Stalin lãnh đạo quốc gia Xôviết, đặc biệt là những năm cuối thập niên thứ ba đầu thập niên thứ tư của thế kỷ trước, tại Liên Xô đã xảy ra những vụ việc này nọ nhưng cần phải có một lãnh tụ cứng rắn như Stalin thì mới làm bình ổn được tình hình đất nước; khắc họa hình ảnh Stalin chỉ dưới những góc nhìn tiêu cực đều là xuyên tạc sự thật.

Là một triết gia sâu sắc, Zinoviev không bao giờ tư duy theo kiểu "vơ đũa cả nắm". Ông tâm sự, ngay trên chính trường Nga hiện nay, dù luôn bị tác động bởi những xung lực tiêu cực xa và gần vẫn đang tồn tại những nhà chính trị xứng đáng được kính trọng bởi tâm huyết và đạo đức của họ. Khi ông Putin mới vào làm chủ Điện Kremli, Zinoviev đã nhận xét như sau: "Tôi rất kính trọng Tổng thống mới. Tôi nghĩ rằng, trong số những người có tham vọng đối với vị trí đó thì đây là phương án tốt nhất. Tôi có thể nói rằng, trong tình hình hiện nay thì tôi cũng không thể nghĩ ra cách ứng xử nào tốt hơn cách ứng xử như của Tổng thống Putin...".

Vô thần nhưng có tín ngưỡng - đó chính là lời tự nhận xét của Zinoviev về bản thân mình. Tín ngưỡng của ông là tình yêu thật sự vô tư, thật sự xót xa, thật sự chân thành đối với con người theo cái nghĩa chung nhất của từ này. Ông trước tiên là một triết gia lớn đậm đặc tính nhân văn của dân tộc Nga nhưng cũng là một triết gia lớn đậm đặc tính nhân văn của chung nhân loại

PHƯƠNG HÀ
Nguồn: ANTG



Chủ Nhật, 8 tháng 9, 2019

Nguyễn Xuân Sanh - nhà thơ cuối cùng của phong trào thơ mới

Sinh năm 1920. Đến Tết năm nay ông tròn 100 tuổi. Có nhẽ thi sỹ Nguyễn Xuân Sanh là người cuối cùng của phong trào Thơ Mới (1930-1945) còn tại vị trên thế gian này.
Nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh

Trong số 44 người được Hoài Thanh chọn thơ vào Thi Nhân Việt Nam 1941 không có Nguyễn Xuân Sanh. Cũng không có tên Nguyễn Xuân Sanh khi xếp 3 dòng thơ. Dòng Pháp. Dòng Đường. Dòng Việt. Cũng không thấy tên ông trong các xóm thơ. Xóm sông Thương. Xóm Huế. Xóm Bình Định. Xóm Hà Tiên... Mặc dầu vậy, bài tổng luận ở đầu sách - Một thời đại trong thi ca, Hoài Thanh đã không quên vị trí của Xuân Sanh, nói về ông đến hai lần trong dòng chảy phát triển của Thơ Mới. Hoài Thanh viết. Từ Xuân Diệu, Huy Cận, thơ Việt Nam đã có tính cách của thơ Pháp lối tượng trưng nhưng còn dè dặt. Bích Khê và ít nhiều nữa như Xuân Sanh muốn đi đến chỗ người ta thường cho là cao nhất trong thơ tượng trưng: Mallarme, Valéry ... Thơ tượng trưng được người ta thích hơn nhất là Baudelaire. Có thể nói hầu hết các nhà thơ vừa kể trên, không ít thì nhiều, đều bị ám ảnh vì Baudelaire. Sau nhận định này về Xuân Sanh, Hoài Thanh có một chú thích nhỏ dành cho riêng Nguyễn Xuân Sanh rằng tác phẩm chưa xuất bản nhưng làng thơ thường nhắc đến. Như thể một lời thanh minh của Thi Nhân Việt Nam đã không chọn bài thơ nào của Nguyễn. Kỳ thực, theo Hồi ký Song đôi của Huy Cận thì vào hè năm 1935, chàng Huy và Xuân Sanh đã viết tay được một tập thơ chung khoảng 50 bài gửi cho nhà xuất bản Mai Lĩnh ở Hải Phòng. Khi ấy Xuân Sanh chừng độ 15 tuổi. NXB đã không in tập thơ và theo Huy Cận - Người sau này tự họa thơ mình là Thơ ơi, chiếc võng ta treo, Đầu theo vũ trụ đầu theo loài người, rằng họ đã không thèm trả lời. Nguyễn Xuân Sanh trước khi nổi tiếng với Buồn xưa và Bình Tàn Thu trong Xuân thu nhã tập 1942, Ông đã có một số bài thơ đăng báo như Xuân ngày - Bút Mới - Sài Gòn 1938. Giường bệnh mùa thu - Bút mới - 9/1938. Xây Mơ - Tiếng Địch - số 1 - 1938. Buồn Mơ, Đường Xuân - Thanh Nghị số tết 1942 v.v... Trong đó bài thơ Xây Mơ viết tặng Chế Lan Viên và được nhạc sỹ Nguyễn Xuân Khoát phổ nhạc vào năm 1940 là đáng kể hơn cả. Khuynh hướng siêu thực, tượng trưng đã đậm nét trong bài thơ ấy. Tay sương lam mờ đường buông tơ. Nghe sương lam mờ đường dăng mơ... Chưa thả bờ yêu ra đón má. Môi xa vây người nơi xa xôi.

Hoài Thanh viết Một thời đại trong thi ca tháng 11-1941. Tháng 6 -1942 Xuân thu nhã tập in thơ của Nguyễn Xuân Sanh mới được ấn hành. Nhưng lý do chính Hoài Thanh không chọn thơ Nguyễn Xuân Sanh vì ông không ủng hộ khuynh hướng đổi mới tìm tòi thi ca của tác giả này. Sau khi nói gần nói xa một chặp, Hoài Thanh bộc lộ Các ông Bích Khê và Xuân Sanh noi theo gương Mallarmé, Valéry không thèm giữ gìn gì hết. Đôi khi hình như họ đã diễn tả được những điều sâu kín. Nhưng lời thơ rắc rối quá… Rồi dư ba ấy cứ kéo dài mãi. Cho đến gần hết thế kỷ 20.

Bây giờ nhìn lại, Xuân thu nhã tập dội lên như một hướng tìm tòi mới được giới văn chương đương thời coi là một hiện tượng văn học độc đáo, sự tiếp nối của phong trào Thơ Mới ở chặng đường cuối cùng của nó. Ở đây tình yêu, sự cô đơn, nỗi buồn với mọi cung bậc màu sắc đã được khai thác đến vỉa cuối cùng. Hai bài thơ Buồn Xưa và Bình Tàn Thu, Buồn Xưa nổi bật nhất. Nó hiện ra vẻ đẹp toàn bích và kỳ ảo của chủ nghĩa tượng trưng.

Lẵng xuân
Bờ giũ trái xuân sa
Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà
          ... Tỳ bà sương cũ đựng rừng xa
           ... Ngàn mây tràng giang buồn muôn đời.

Buồn Xưa như tiếng nhạc trầm buồn của hoa lá cỏ cây, của nhịp hải hà đầy quyến rũ đưa đẩy người ta vào thế giới của siêu thực trong sáng mà say đắm. Để cuối cùng chợt nhận ra rằng sau những quỳnh hoa và ngọc quế ảo não trong nỗi buồn không sao giũ được, không thể thiếu được bóng dáng của người xưa yêu dấu. Đó là chàng hoàng tử nghiêng mái tóc buồn đượm một làn mưa giữa ngàn mây tràng giang buồn muôn thuở. Tôi mường tượng chàng hoàng tử đó chính là Nguyễn Xuân Sanh. Khi viết bài thơ này ông mới 19 tuổi. Tôi đã xem thủ bút của Nguyễn Xuân Sanh viết cho ông Đỗ Lai Thúy hồi mùa hạ năm 2012. Cách đây 7 năm bài Bình Tàn Thu. Bình Tàn Thu hay không kém Buồn xưa. Ở đấy mùa thu thật đẹp không chỉ bởi sương mù héo lệ dặm đường hương mà còn là vẻ đẹp kỳ ảo của cung phi dăng bướm buồn nghê thường. Nhưng tôi cứ lấy làm tiếc sao Xuân Sanh không viết bài thơ thần của mình để người đời nhìn ngắm cái run rẩy đầy kiêu sa trong nét chữ của thi nhân một thời vang bóng và tiếng đời u huyền trực tiếp ẩn trong những ký tự mơ hồ của Buồn xưa. Xây mơ, Buồn xưa, Bình Tàn thu có lẽ là 3 bài thơ nổi trội nhất của thơ tượng trưng Nguyễn Xuân Sanh.

Trong Xuân thu nhã tập 1942 có một bài viết của 3 người. Đoàn Phú Tứ. Phạm Văn Hạnh. Nguyễn Xuân Sanh. Đến bây giờ vẫn còn để ta suy ngẫm về sự làm thơ. Thơ như giai nhân. Như đẹp. Như trời - Có rung động là có thơ - Thơ có thể có trong âm nhạc, hội họa, kiến trúc... và cả trong đạo lý -. Thơ = Trong = đẹp = thật.  Thơ là đạo: Đạo - âm + dương - Sáng tạo - rung động - thơ - đạo.  Thơ không cấm lúc nào cũng rõ nghĩa v.v...

Vào năm 1940-1941, Nguyễn Xuân Sanh viết tập Đất Thơm - theo thể thơ văn xuôi đã trích đăng trên báo Thanh Nghị số 37 ngày 16-5-1943, thể hiện cách tổ chức đặc sắc một bài thơ văn xuôi với những tiêu đề nhỏ và những suy tưởng thơ rộng mở của tác giả. Đây là một buổi chiều giữa xuân: Chiều nay ta chỉ yêu đồng xanh. Ta mộng cánh đồng vàng ... Đồng mọi nơi sắp chín. Sắp gặt vụ mùa. Chùm bông nặng chưa chín nghiêng nhành lúa trong hạt đã gần căng. Hương đặc lùa ra bờ ruộng cỏ... Ta dành buổi chiều nhớ cánh đồng vĩnh viễn. Những vần thơ tươi sáng và mới lạ. Bằng Đất Thơm, Xuân Sanh là nhà thơ đi tiên phong về thơ văn xuôi trên thi đàn Việt Nam hiện đại. Sau này, các nhà thơ tiếp tục con đường khai mở của Nguyễn Xuân Sanh. Năm 1964 ở miền Nam Thanh Tâm Tuyền đã cho ra đời tập thơ văn xuôi: Liên - Đêm - Mặt trời nhìn thấy. Thập niên cuối thế kỷ 20 và đầu 21, một số nhà thơ trẻ cũng sáng tác thơ văn xuôi như Nguyễn Quang Thiều, Dương Kiều Minh v.v... Thơ văn xuôi tiếp tục hành trình đi tìm cái mới.

Các nhà văn đương thời như Tế Hanh, Trinh Đường, Nguyễn Bao, Mã Giang Lân, Đỗ Lai Thúy v.v... không chỉ một lần cho rằng Nguyễn Xuân Sanh là người bắc nhịp cầu đầu tiên từ Thơ Mới sang thơ hiện đại, một hướng đi mới của Thơ Mới ở chặng cuối con đường của nó. Có người tỏ ý nuối tiếc rằng chàng thi sỹ của Buồn Xưa lại không đi tiếp con đường đổi mới thi ca vừa mới bắt đầu mà nhường việc ấy cho những người trẻ hơn tiếp tục như Nguyễn Đình Thi. Hồng Nguyên. Chính Hữu... Tôi cho rằng điều ấy cũng phù hợp với logic của sáng tạo văn chương. Sau Cách mạng Tháng 8/1945, Xuân Sanh làm chủ bút tuần báo Gió Mới của Tổng hội sinh viên cứu quốc. Sau tham gia lãnh đạo văn nghệ kháng chiến liên khu 4. Đến giữa năm 1949 về công tác ở Trung ương Hội Văn nghệ Việt Nam tại Việt Bắc. Từ 1954 đến 1989 liên tục tham gia Ban chấp hành Hội nhà văn Việt Nam. Có khi được giao làm Tổng thư ký. Sự thay đổi nghiệp đời như thế lẽ dĩ nhiên thế giới quan phải thay đổi, có lẽ làm cho ông chuyển từ siêu thực vốn đã bị phê bình sang phản ánh hiện thực cho an toàn hơn. Chuyện hay dở trong văn chương là chuyện của cả một đời người, đôi khi còn chưa dứt. Các tập thơ Tiếng hát quê ta (1947-1954). Sáng Thơ (1956-1960). Nghe bước vào xuân (1956-1960). Đất nước và lời ca (1970-1977). Tuyển tập Nguyễn Xuân Sanh (1936-1990) v.v... cả một đường thơ được nhẫn nại đắp nên để đi tới. Rất đáng được người đời trân trọng.

Vậy mà, khi đọc lời giới thiệu Con đường nửa thế kỷ thơ của Nguyễn Xuân Sanh do Tế Hanh viết từ 1987 đến 1991, tôi không sao tránh khỏi bị ngậm ngùi. Nhớ lại hồi 1941, Hoài Thanh đã nhắc nhở Tế Hanh như sau: Tệ hơn nữa, người muốn hưởng cái thú tàn nhẫn được thấy người yêu "đau đớn quằn quại"... sự thành thực của thi nhân không thể ngờ được... Tế Hanh có khắt khe lắm không khi vào năm 1991 rồi còn hạ một câu: có một số cái gì dường như còn chưa nhập cuộc, hay có thể nói đúng hơn chưa nhập cuộc hoàn toàn... Có một đôi cái gì do hoàn cảnh nào đó chưa nở rộ hẳn ra đón chúng ta. Thời bao cấp bảo gì thì bảo mà bảo nhà văn chưa nhập cuộc thì ... thôi rồi! Chừng ấy của cả đời thơ Nguyễn Xuân Sanh mà bảo chưa nhập cuộc được chăng?

Nhận xét của Tế Hanh chỉ nên dành cho một số bài thơ đã thuộc về dĩ vãng như Trong sương đêm (1947), Ghi câu chuyện nhỏ (1948), Rừng vui (1949). Từ siêu thực trầm mặc thơ và đạo kết liền nhau đến con đường thơ phản ánh hiện thực là một sự quặn đau dữ dội để phục sinh không dễ dàng chút nào. Dường như đó là con đường chung của nhiều nhà thơ có thành tựu trong phong trào Thơ Mới đi theo Cách mạng, kể cả những thi tài như Huy Cận, Chế Lan Viên. Họ phải mất hàng chục năm để phục sinh. Cả hai người ấy, nhất là với Chế Lan Viên, đến lúc phục sinh thì lập tức nở rộ. Như cuộc diễu hành chiến thắng của nhiều tập thơ hay. Nguyễn Xuân Sanh không có được cái may mắn ấy. Chặng đường phục sinh của thơ ông dài đằng đẵng đến hết thế kỷ 20. Thơ ông không chín lại theo mùa như các bạn thơ cùng thời mà chín từng bài. Đôi khi từng câu một. Đôi khi khoảng cách giữa sự chín ấy lại thật là dài…

Bao nhiêu tình ý của một cuộc đời. Nhưng tôi nhận thấy hễ khi nào Nguyễn Xuân Sanh viết về hoài niệm, về kỷ niệm đã qua, thường có được những câu thơ hay nhất. Và số đó cũng không phải là nhiều, nếu không muốn nói là ít ỏi của lao động vất vả một đời người. Dòng thơ về hoài niệm, kỷ niệm đựng nhiều thơm thảo nhất trong thế giới thơ Nguyễn Xuân Sanh.

Đó là hoài niệm về biển miền Trung sóng vỗ bạc đầu, rạt rào nỗi nhớ quê hương, nghe như bức tranh thiên nhiên đã để lại lâu lắm rồi bên trời Thu.

Mũi Én như bàn tay hứng trăng
Trút ánh đêm Thu bãi cát bằng
Sóng vỗ bạc đầu quanh mỏm đá
Rạt rào nghe rõ tiếng đêm chăng?

                           Nhớ biển 2-1961.

Đó là cảnh mùa xuân bâng khuâng ở chùa Hương Tích.

Xuân chưa về, núi chưa mưa
Nhưng bên ta khắp rừng mơ nở rồi.

                    Trước xuân thăm chùa Hương Tích 12-1962.

Đó là kỷ niệm trên Nậm Tà Lê ở Trường Sơn. Rừng, sông, núi như nói hộ lòng người ra trận mà vằng vặc nỗi niềm với đất nước quê hương.

Tôi cầm dăm cánh lá bay
Thả xuôi con nước rừng ngây ngất chiều
Con sông vằng vặc nhìn ai
Nhìn khuya ngọn núi, nhìn mai con đường.

               Trên một ngả đường đất nước 9/1973.

Đó là ngọn đồi Mái Nhà ở miền Trung nơi con trai nhà thơ đã ngã xuống thời chiến tranh. Khi hòa bình ông đến đây chỉ gặp được gió không gặp được người.

Đá hiện lên gương đồi xanh
Nghe như ngan ngát hương lành cỏ tơ
Ta đi cho đến bao giờ
Mà trời cứ mở gió trưa, gió chiều

          Thăm ngọn đồi nơi con từng chiến đấu 6/1/1976.

Đó là trở lại đường cũ tuổi thơ ở thành phố biển Quy Nhơn khi ông đã  về già, những kỷ niệm của đời người tưởng đã rất xa mà lại sẫm màu hiện tại.

Về đây cả một cuộc đời
Tim ta tìm lại bồi hồi ngõ đêm
Trên kí ức một hiên thềm
Biển vui thở sóng dãy đèn ngã tư

          Thăm đường cũ ngày tuổi nhỏ, quãng sau 1980.

Nguyễn Xuân Sanh còn nổi tiếng là một dịch giả thơ có uy tín. Cùng với Xuân Diệu, Huy Cận, Tế Hanh, Hoàng Trung Thông, Đào Xuân Quý... Một thế hệ vàng trong việc chuyển ngữ từ tiếng Pháp sang tiếng Việt thơ của các nhà thơ nổi tiếng cả ở 5 châu lục, nhất là các nhà thơ phương Tây. Heinrich Heiner, G.Apollinaire, Paul Éluard, Adam Mikiewicz, Petofi Sándor... Hai trăm bài thơ dịch của Nguyễn Xuân Sanh góp phần vào việc xây dựng nền tảng cho văn học dịch ở lĩnh vực thơ ca. Ông dịch thơ tây mà bình di dễ hiểu. Nhớ mãi cảnh mùa thu thân thuộc chẳng khác gì làng quê Việt Nam trong thơ Apollinaire, khi người nông dân dắt bò đi trong sương mù buổi sớm, nó che nỗi thẹn thùng của thôn xóm nhỏ. Người nông dân vừa bước đi vừa ngâm nga bài ca về tình yêu và lòng bội bạc để kết thúc bằng một câu cảm thán. Ôi! mùa thu đã giết chết mùa hè. Giữa sương mù hai bóng xám ra đi.

Nghề làm văn, làm thơ là nghề của ân tình. Nếu không thế thì làm để làm gì nữa. Tôi biết Nguyễn Xuân Sanh là nhờ học thuộc lòng bài thơ Vườn dừa của ông trong sách tập đọc lớp 4 hồi năm 1960. Khi vào đại học năm 1968 biết thêm Buồn xưa. Một trong số ít bài thơ được nhớ vì quá đặc biệt, không giống một ai. Thơ đã đành rằng quý một đằng vì hồn người ở đấy. Nhưng khi tuổi càng già đi với bao trải nghiệm nhiều khi đắng cay ở cuộc đời này thì càng quý trọng tình người, tình đời, tình bạn bè... Càng yêu quý và trân trọng, đồng cảm với Nguyễn Xuân Sanh. Ông quê gốc ở Quảng Bình nhưng sinh ra ở Đà Lạt. Thời đầu những năm 1930, Cụ thân sinh làm thừa phái ở Quy Nhơn. Vì vậy Nguyễn Xuân Sanh học ở trường Quốc học Quy Nhơn. Trường có thầy Tú Thọ, thân phụ nhà thơ Xuân Diệu. Thầy Tú dạy chữ nho vào thứ 5 hàng tuần. Xuân Diệu cũng học ở trường đó trước Nguyễn Xuân Sanh mấy năm. Tình bạn giữa Chế Lan Viên và Nguyễn Xuân Sanh thật cảm động. Trong thư Chế Lan Viên gửi ông ngày 20-4-1988 có viết: "Sanh à, mình có về Bình Định, tìm ra cái nền nhà mình, tức là nhà Sanh bên cạnh". Nguyễn Xuân Sanh và Chế Lan Viên khi ở Quy Nhơn cũng như khi về nhà bố mẹ ở sát bên nhau, ngoài cửa đông thành cổ Bình Định, thị trấn An Nhơn, thường nói chuyện với nhau về Hàn Mạc Tử. Nhớ lại việc in Điêu Tàn, hồi 1957, Chế Lan Viên viết. Hồi đó Sanh đứng ra xem in Điêu Tàn, và lo cho cả việc đòi nợ của Thái... Thất Lang Nam kỳ bây giờ. Sanh có nhớ bữa hai đứa đi đòi được 20 đồng, Sanh dẫn Hoan đi may brique?.

Năm 1937, Chế Lan Viên gửi Điêu Tàn từ Quy Nhơn ra Hà Nội cho Nguyễn Xuân Sanh. Một buổi chiều, Xuân Sanh liều mạng xông bừa vào nhà in Thụy Ký ở phố Hàng Gai. Vì cái liều ấy mà được nhận in Điêu Tàn với giá 50đ. Nguyễn Xuân Sanh đã lo sốt vó vì số tiền thật là quá to. Xuân Diệu nhận sắp xếp lại trật tự các bài thơ trong Điêu Tàn. In xong, Xuân Sanh gói ghém Điêu Tàn gửi vào Quy Nhơn cho Chế Lan Viên để phát hành ở trong Nam, còn ông tự đi phát hành ngoài Hà Nội để có tiền trả cho Thụy Ký. Điêu Tàn, một trong những tập thơ nổi tiếng nhất thế kỷ 20 đã bước ra cuộc đời một phần nhờ tình bạn như vậy đấy.

Huy Cận trong Hồi ký song đôi có kể một kỷ niệm đáng nhớ của ông và Xuân Sanh, khi họ mới chập chững bước vào nghề văn. Hồi mùa hè 1936, Huy Cận có mấy bài bình văn được đăng báo Sông Hương do Phan Khôi làm chủ bút, Hoài Thanh làm biên tập. Xuân Sanh khuyên Huy Cận đến thăm tòa báo. Vào một buổi chiều, hai người tìm đến trụ sở báo ở phố Gia Hội. Hoài Thanh tiếp họ. Nói chuyện văn học hợp gu lắm. Cả hai người rào trước đón sau quanh co mãi rồi cũng hé ra cái chủ ý muốn tiền nhuận bút. Nhưng cả hai ông phải về tay không, vì những bài của Cận chỉ là những bài lai cảo không được trả tiền.

Cuối tháng 5-2019, tôi đi tìm gặp Nguyễn Xuân Sanh, với cái vinh hạnh một kẻ hậu thế được trực tiếp kiến diện người cuối cùng của phong trào Thơ Mới. Nguyễn Xuân Sanh mấy năm nay về nương tựa tại nhà con gái ông ở phường Khương Trung, đường Tô Vĩnh Diện. Tôi đã xem nhiều sách của các cụ nhà ta ngày xưa cũng như các học giả thời hiện đại về kinh thành Thăng Long thấy rất ít nói về làng Khương lắm! Khương Hạ, Khương Trung, Khương Thượng xưa là đất trồng rau, đặc biệt là trồng gừng để phục vụ cho việc làm thuốc trong Hoàng Thành. Ở đây có cả một xóm người Chăm theo quan quân triều đình ra đây lập nghiệp từ hồi thế kỷ 13, 14. Sau này thời thực dân, phát sinh một số gia đình làng Khương làm nghề thợ nguội ở trên phố hàng Thiếc... Cư dân cả 3 làng đều là tầng lớp bình dân cả. Khác với bên kia sông Tô Lịch - bên làng Mọc, làng Quan Nhân... toàn là đất học và đất làm quan. Có nhiều danh sỹ người gốc vùng đấy... Trong cuốn Hà Nội Chỉ Nam có phụ đề bằng tiếng Pháp Guide de Hanoi được Nghiêm Hàm ấn quán in 1923 thì nếu đi xe điện từ Bờ Hồ qua Hàng Gai, Hàng Bông rồi Thái Hà ấp (sào quật của các cô đào) đến Ngã Tư Sở vào Hà Đông cả hai đường giá vé hạng ngồi đệm da người lớn 7 xu, trẻ con 3 xu. Đến Ngã Tư Sở xuống tàu đi bộ vào Khương Trung. Còn nếu đi xe ngựa cao xu thì phải thuê nửa ngày tại tiệm Maison Tricolore ở 46 Hàng Lọng hết 6 đồng bạc Đông Dương. Xa xôi quá. Tôi làm một tour taxi đến đường Tô Vĩnh Diện thì dừng lại xuống xe đi bộ. Đoạn đường không phải thật là dài. Nhưng cũng đủ để tôi ôn lại đường đời đường thơ qua một thế kỷ mà gió mưa đã đưa chàng hoàng tử trong Buồn xưa đến cư ngụ tại nơi xa xôi và hẻo lánh nhất của kinh thành xưa. Tôi đã đi theo chàng qua nhiều địa chỉ ở cuối bài thơ. Đà Lạt. Quy Nhơn. Huế. Hà Nội. Vùng than Quảng Ninh. Việt Bắc. Bungari. Rumani. Paris. Mascơva. Bắc Kinh... và sáng hôm nay tôi đi tiếp đoạn đường có lẽ là đoạn đường cuối cùng của chàng. Đời người ta sao phiêu diêu thế nhỉ? Đến nhà rồi. Đó là một tòa nhà hai tầng. Vẻ bề ngoài nhỏ mà yên tĩnh và thanh lịch. Ở tầng trệt hình thành 5 không gian sống không có vách ngăn đầy đủ. Bước vào nơi để xe đạp, xe máy và giày dép. Tiếp theo bên trái là nơi đặt 4 chiếc ghế giả da đã cũ dùng để tiếp khách. Một bên là tường. Một bên dựa vào chiếc tủ đứng bằng ván công nghiệp. Trong khung kính phía trên tủ có đặt ảnh chân dung của Vũ Tú Nam và Nguyễn Xuân Sanh. Đằng sau cái tủ ấy rộng chừng hơn 1m bề ngang đủ kê một chiếc giường và bàn làm việc cho nhà văn Nguyễn Cẩm Thạnh. Sinh 1927. Phu nhân của nhà thơ. May mắn diện tích nhỏ này có 1 khung cửa sổ đón ánh sáng từ bên ngoài vào. Tôi xin phép chị Nguyễn Thị Việt Triều, người con gái hiếu thảo thay mặt cả gia đình chăm sóc nhà thơ và vợ ông lúc cuối đời, cho tôi được vào kiến diện ông. Đi qua một khu bếp nhỏ chừng vài m2 nhiều đồ đạc bước vào ngăn thứ 5 với một khoảng sân trời nhỏ để đón ánh sáng tự nhiên. Kế đến là diện tích vừa đủ đặt chiếc giường. Màn buông kín và có nhiều cặp nhựa nhỏ kẹp theo mép đỉnh màn. Trong màn là một cụ già đầu tròn, tóc cắt sát da đầu, mắt nhắm, phía trên một góc màn là dây tiếp thuốc. Có 1 dây đưa thẳng vào bụng để truyền thức ăn. Tự dưng tôi ứa nước mắt. Đó là nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh - chàng hoàng tử của Buồn xưa, người tôi đã thấy đẹp trai, hào hoa phong nhã trong những bức ảnh hồi kháng chiến chống Pháp ở chiến khu Việt Bắc và những năm sau hòa bình của nhà nhiếp ảnh Trần Văn Lưu. Im lặng choán chỗ không gian sống. Tôi không nhớ khi ngồi ở chỗ ghế khách bên ngoài hay ở đây, hay ở ngoài ngõ vắng 102, tôi đã đọc thật to: Em nhớ trái dừa tròn, Của quê em Bình Định, Lấy ngón tay em tính, Ngày trở lại vườn dừa. Mắt nhà thơ đương nhắm nghiền chợt mở ra ở phía bên trái. Tôi đọc tiếp thật to: Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà bật ra từ vô thức. Tôi như thấy khóe miệng của người trăm tuổi ấy nở ra một nụ cười khô héo mà thật phong nhã, kiêu sa. Vâng! Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà. Và trong góc chật hẹp của gian phòng nhỏ bé này như vang lên khúc Dạo chơi của Paul Éluard qua lời của người đang im lặng nằm bất động trong cái màn mà đỉnh của nó đính đầy kẹp nhựa định mệnh kia.

Bé hơn một quốc gia
Nhưng đất rộng vô song
Đất thuộc về tôi nơi đây và nơi đó
Ở bất cứ nơi đâu khác nữa...

Hà Nội, tháng 5 đến tháng 8 -2019
  KHUẤT BÌNH NGUYÊN

Nguồn: Văn Nghệ





Thứ Sáu, 6 tháng 9, 2019

Nỗi oan của môn Văn

Tôi hay đọc sách từ nhỏ, nhưng những năm ở cấp I, vẫn sợ nhất là văn miêu tả.

Tôi chỉ bắt đầu yêu những tiết Văn từ lúc vào cấp II. Trường Trung Tự, Hà Nội, hồi ấy còn dáng dấp trường làng, không có thư viện để đọc sách văn học. Cô Hương, giáo viên chủ nhiệm kiêm cô dạy Văn đã cho chúng tôi những giờ học rất khác.

Tiết học Giáo dục công dân được thế bằng những buổi đọc truyện "Những tấm lòng cao cả" của Edmondo De Amicis. Còn trong giờ Văn, cô luôn dành 15 phút cuối đọc từng chương của truyện "Totto-chan, cô bé bên cửa sổ" và nhiều tác phẩm nổi tiếng khác cho cả lớp nghe. Tới bây giờ, dù đã qua một phần tư thế kỷ, tôi vẫn nhớ về các nhân vật của "Những tấm lòng cao cả", từ cậu bé Garone hào hiệp, luôn giúp đỡ mọi người tới Giulio lén thức đêm giúp bố làm việc.

Tôi đã luôn mơ mộng về ngôi trường đặc biệt Tomoe và phong cách giáo dục của thầy hiệu trưởng Kobayashi Sosaku, nơi học sinh luôn được tôn trọng và được tự do phát huy cá tính, khả năng bẩm sinh của mình. Tôi đã ấn tượng với những câu chuyện nhỏ này còn hơn cả các tác phẩm đã học trong 12 năm đèn sách.

Tôi đã sợ văn miêu tả hồi cấp I vì tôi không thích mèo, không thích lợn và cũng không giỏi quan sát cây cối. Trong khi bài tập thường xuyên yêu cầu tả loài vật và các loại cây. May thay lên cấp II, tôi được gặp cô Hương. Nhưng khi hết cấp III, nỗi sợ môn Văn trở lại khi tôi luyện thi khối D vào đại học. "Lò" luyện thi ở khu vực Đại học Bách Khoa nêm cứng học sinh cả ngày đông giá rét hay mùa hè bức bối. Giờ học bắt đầu từ 7h30 sáng. Chủ lò luyện thi đuổi muỗi bằng cách hun những lò than. Chúng tôi ngồi chen chúc trong những phòng học thiếu sáng, ngáp ngắn ngáp dài.

Thầy đi đi lại lại, đọc, phân tích hết tác phẩm này tới tác phẩm khác, mọi người thi nhau chép. Tôi thường xuyên ngủ gật, giật mình tỉnh dậy lại cắm cúi chép một cách vô thức. In vào đầu tôi là công thức "yêu căm chiến lạc" - tức các nhân vật và tác phẩm cần hội tụ đủ bốn phẩm chất: yêu nước, căm thù giặc, tinh thần chiến đấu và lạc quan. Thầy bảo, mỗi tác phẩm sẽ lên án một giai cấp nào đó, ca ngợi một thành tích nào đó. Và cái giỏi của nhà văn là nêu bật được một điển hình, hoặc đề cao chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng.

Cách "luyện thi" Văn ấy rất xa lạ với lối cảm thụ văn chương mà tôi được dạy từ ông nội - nhà văn Bùi Hiển. Qua những cuộc chuyện trò thường ngày với ông, tôi hiểu rằng các nhân vật trước khi là anh hùng, là điển hình, họ phải được, phải là những con người bình thường trước đã. Như cu Tý trong "Ngày công đầu tiên của cu Tý", là em bé vật nhau với cu Tèo, "đú đởn như con hai chó con", "đặt mình là ngủ tít thò lò, chốc chốc lại chép miệng nhai tộp tộp như người lớn" trước khi ngượng nghịu dắt trâu ra đồng.

Có lần tôi nghêu ngao đọc bài thơ nổi tiếng ca ngợi sự hy sinh của một em bé giao liên trong chiến tranh, ông kể cho tôi nghe hồi ở chiến trường Thừa Thiên chống Pháp, bộ đội đã hội ý với nhau cần chấm dứt việc đưa các cháu nhỏ 14, 15 tuổi làm liên lạc trong các trận đánh. Ông cũng chính là người đã nhiều lần góp ý với các đồng nghiệp ở Hội Nhà văn, rằng ông không thích hình tượng chị Út Tịch mang bụng "chang bang" đi đánh giặc. Theo ông, tinh thần của chị rất đáng quý, nhưng đáng lẽ chồng chị hoặc anh em đồng đội phải can ngăn.

Ông tôi chăm viết nhật ký. Ông ghi chép liên tục hơn 60 năm, từ những năm 1940 khi còn thanh xuân cho tới lúc sức khỏe yếu không thể viết được nữa. Ông rất thích quan sát những con người bình thường nhưng luôn cố gắng vươn lên trong cuộc sống. "Gắng hiểu thêm con người, vấn đề cuối cùng vẫn là ở đó", ông dặn dò các thành viên trong nhà có ý nối nghiệp mình.

Một cách tự nhiên, học Văn, đọc sách đối với tôi là để hiểu thêm về con người, để học cách làm bạn với mọi người, với những niềm vui và cả những uẩn khúc của họ. Thời bao cấp khốn khó, có lần khu nhà tôi bắt được một tên trộm. Các thanh niên nhanh tay trói ngay anh ta và hăm he định đánh. Ông tôi thấy ồn ào liền chạy từ gác tư xuống. "Dừng tay lại. Các cháu không được đánh người ta. Nếu anh này đói quá, mình cho anh ta chút cơm rồi thả người ta đi", ông nói với mọi người. Từ cuộc sống cho tới sáng tác, ông truyền cho tôi và những thành viên trong gia đình tinh thần hướng thiện, hướng bản thân và những người xung quanh về tin yêu và hy vọng.

Bảo, con trai út của tôi tuần trước nhập học lớp năm. Cháu vẫn tự chuẩn bị sách vở cho khai giảng mới, riêng năm nay có ngoại lệ, tôi dành mươi phút ngồi với cháu. Trang 174 trong sách Tiếng Việt lớp năm có bài chính tả "Chợ Ta-sken" của nhà văn Bùi Hiển, ông nội tôi. Tôi chỉ cho cháu và nhắc lại kỷ niệm: "Anh Hai từng viết chính tả bài này của cụ được 9 điểm. Con thi đua với anh nhé". Bảo vui vẻ nhận lời "thách đấu". Thời tôi đi học, sách giáo khoa lớp sáu còn có bài "Ngày công đầu tiên của cu Tý", cũng do ông nội sáng tác. Tôi còn nhớ cảm giác hồi hộp, mong chờ từng ngày cô giáo dạy tới truyện đó.

Đề thi Ngữ Văn của kỳ thi THPT quốc gia vẫn yêu cầu phân tích về thể thơ, cách sử dụng phép điệp, bút pháp, hình tượng văn xuôi, những kỹ năng của các nhà phê bình, lý luận văn học chuyên nghiệp. Không ngạc nhiên khi số thí sinh đạt điểm 1 trở xuống môn Ngữ Văn năm nay cao gấp 2,5 lần năm 2017 và gấp 1,6 lần năm 2018.

Môn Văn sẽ tiếp tục là nỗi khiếp sợ với nhiều thế hệ học sinh khi nó xa rời chức năng chân chính của văn học: giúp ta hướng thiện, giúp khám phá những vấn đề phức tạp của xã hội và những bí ẩn trong tâm hồn con người. Dường như đang có sự lẫn lộn giữa việc học Văn để có kỹ năng viết tốt và học Văn để tưới tắm cho nhận thức, thẩm mỹ và nhân cách của học trò.

Môn Văn không có lỗi. Nó cần được giải oan. Một nền giáo dục còn mơ hồ về mục đích sẽ biến không chỉ môn Văn mà còn nhiều môn học khác thành gánh nặng cho học sinh chứ không phải là hành trang vào đời. Chúng ta có quyền đòi hỏi và chờ đợi những người đang chủ trì việc xây dựng chương trình giáo dục phổ thông mới sẽ nhìn vào những điểm 1 của môn Văn để kịp thời điều chỉnh nội dung và cách học, để mỗi mùa khai giảng lại là một mùa vui.

CẨM HÀ
Theo VNEX


Thứ Năm, 5 tháng 9, 2019

Xuân Quỳnh - Lưu Quang Vũ: Bản lề cánh cửa huyền thoại

Những bài thơ, vở kịch của họ đã không còn là những tác phẩm đơn lẻ. Chúng trở thành một bảo tàng, về một giai đoạn sôi động, khi đất nước bước ra từ cuộc chiến tranh và cho thấy diện mạo mới của xã hội hậu chiến.

29-8-2019 – Hơn 30 năm sau ngày mất vì vụ tai nạn gây chấn động, đôi thi ca kịch nghệ Xuân Quỳnh – Lưu Quang Vũ vẫn tiếp tục tạo ra một lực hấp dẫn cho người yêu văn chương, nghệ thuật. Những bài thơ, vở kịch của họ đã không còn thuần túy là những tác phẩm đơn lẻ. Chúng đã trở thành một bảo tàng, về một giai đoạn sôi động, khi đất nước bước ra từ cuộc chiến tranh và cho thấy diện mạo mới của xã hội hậu chiến.
Vợ chồng Xuân Quỳnh - Lưu Quang Vũ - Ảnh tư liệu gia đình

Bản thân Xuân Quỳnh – Lưu Quang Vũ cũng trở thành biểu tượng cho đời sống tinh thần thời bao cấp. Sự ra đi của họ đúng thời điểm đất nước bắt đầu bước vào đổi mới, giống như một cặp bản lề cho cánh cửa mở vào hiện tại của chúng ta. Ánh hào quang của họ, qua bốn thập niên, gợi đến một huyền thoại trọn vẹn của thời bao cấp.

Đại cảnh và hậu trường

Vào giai đoạn hoàng kim của sân khấu kịch nói thời bao cấp, Lưu Quang Vũ đã tạo ra hào quang của mình bằng khoảng 50 kịch bản sân khấu thuộc các loại hình kịch nói, chèo, cải lương. Chỉ trong vòng 10 năm, các vở kịch của Lưu Quang Vũ trở thành diễn đàn xã hội, thu hút sự quan tâm của đông đảo các giai tầng. Chúng cung cấp một không gian chắt lọc hiện thực đời sống, như các vở Lời nói dối cuối cùng, Điều không thể mất, Tôi và chúng ta… nhưng cũng không thiếu chất thơ bay bổng, thậm chí chứa đầy sự tưởng tượng như Hoa cúc xanh trên đầm lầy, Chết cho điều chưa có… Sự sáng rực ấy chấm dứt đột ngột bằng sự ra đi, tạo ra một huyền thoại về định mệnh, như để đáp ứng quan niệm “chữ tài liền với chữ tai một vần”.

Ở góc độ người bạn đời, Xuân Quỳnh bổ trợ vào hào quang của Lưu Quang Vũ khía cạnh người đồng hành, tri kỷ. Những câu thơ của Xuân Quỳnh giống như các trang nhật ký mang tính chất “câu chuyện hậu trường” cho những lớp diễn sân khấu đại cảnh của Lưu Quang Vũ, tạo ra cảm giác hoàn chỉnh về đời sống một gia đình nghệ thuật. Dù trước khi đến với Xuân Quỳnh, Lưu Quang Vũ đã có những nàng thơ, những tình yêu và “câu chuyện nhỏ” trong những tập thơ đã và chưa được in vào lúc ấy, trong nhiều năm, chân dung Lưu Quang Vũ được mặc nhiên như một mảng dương bên cạnh phần nữ tính của một trái tim “làm sống lại những hồng cầu đã chết” (Tự hát – Xuân Quỳnh). Hai nửa chân dung được xã hội lúc ấy đóng khung thành những huyền thoại công dân và huyền thoại nghệ sĩ.

Những vở kịch và câu thơ nhân hậu thời chiến của họ khắc khoải một ý thức công dân. Chính Lưu Quang Vũ, trong các vở kịch của mình, lại tỏ ra trung thành hơn hết với những định đề về chủ nghĩa dân tộc, về bản sắc Việt Nam được thế hệ cha ông mới tạo ra vào đầu thế kỷ XX. Nhà soạn kịch viết ra các kịch bản đề tài lịch sử theo kiểu sử thi, cài cắm các thông điệp chính trị chính thống trong hoàn cảnh đất nước hậu chiến vẫn ngổn ngang xây dựng và hai cuộc chiến tranh biên giới. Ông hoài vọng quá khứ đầy lãng mạn qua các vở Ngọc Hân công chúa, Sống mãi tuổi 17, Chết cho điều chưa có.

Lưu Quang Vũ không tìm kiếm hiện thực tuyệt đối. Xét cho cùng, ông vẫn nằm trong hệ mỹ cảm của chủ nghĩa lãng mạn mang màu sắc công xã. Điều này cũng dễ dàng nhận thấy trong những bài thơ về thiên chức phụ nữ của Xuân Quỳnh. Dường như các bài thơ đều tràn ngập nỗi băn khoăn, những câu hỏi tác giả tự đặt ra cho bản thân, kiểu “Trái tim buồn sau lần áo mỏng/ Từng đập vì anh qua những trang thơ” (Thời gian trắng), vẫn trau chuốt một thẩm mỹ song trùng.

Sức mạnh của hoài niệm

Bên cạnh các vở kịch chính luận chất chứa những câu thoại mạnh bạo, đậm gắt tính thế sự, kiểu “Chúng ta đã qua thời đại đồ đá, thời đại đồ đồng và bước vào thời kỳ đồ đểu” (Ông không phải là bố tôi), “Cán bộ là đầy tớ của nhân dân. Đầy tớ mà không tốt thì nhân dân sẽ thay đầy tớ khác (Lời thề thứ 9) – không khỏi khiến người xem giật mình vì sự thẳng thắn đến quyết liệt – Lưu Quang Vũ tìm lại nguồn cội dân gian cả Việt Nam lẫn phương Đông, như một cách tung hứng các thông điệp trào phúng hoặc có tính ngụ ngôn như Hồn Trương Ba, da hàng thịt; Nàng Sita; Ông vua hóa hổ…

Có độ lùi thời gian, những chất liệu dân gian lại tỏ ra có sức sống hơn cả. Chúng thể hiện dấu vết của những huyền thoại cộng đồng, bên dưới những phát lộ bề mặt dễ thấy. Người ta chợt nhớ, Lưu Quang Vũ là con của nhà thơ Lưu Quang Thuận – người từng có mặt trong phong trào Thơ Mới, cũng là một phong trào mang dáng vẻ huyền thoại của thời thuộc địa. Tuy nhiên, dấu vết giải thuộc địa lại không diễn ra trực tiếp ở Lưu Quang Vũ, mà đến thơ và kịch của tác giả này, tâm thế hiện đại nổi bật, khiến chúng đĩnh đạc tuyên ngôn một tư cách độc lập. Tứ thơ “Ôi tiếng Việt như bùn và như lụa/ Óng tre ngà và mềm mại như tơ” (Tiếng Việt) từng gây tranh cãi về dị bản ở chữ “như bùn”, lại chính là một cảm thức về “nhãn tự”, dưới cái vỏ vừa mịn màng vừa thô ráp, được khởi từ thơ kháng chiến chống Pháp, đến Lưu Quang Vũ, đã thành một tư duy mang dáng dấp triết lý thế hệ.

Những bài thơ tình của Lưu Quang Vũ viết về “những người đàn bà không có tên” hay những góc đô thị hoang vu “viển vông cay đắng u buồn”, sóng đôi với những đô thị “Đường cuốn bụi bờ đê tràn ngập gió/ Những phố phường lầm lụi với lo toan” của Xuân Quỳnh, thực tế đang cung cấp một phông cảnh cho sự hoài niệm của độc giả hôm nay về Hà Nội gần nửa thế kỷ trước.

Dường như những câu thơ sẽ đọng lại ở những cuốn sổ thơ nho nhỏ, ở những trí nhớ thầm thì, những vở kịch sẽ khó còn tạo ra độ phủ dụ ma mị thuở nào khi cạnh tranh với các thể loại khác hiện nay. Nhưng các huyền thoại là gì, nếu chẳng phải chúng luôn được bồi đắp bằng một nỗi khao khát nồng nhiệt tự thân, “trên ngày tháng, trên cả niềm cay đắng”?

NGUYỄN TRƯƠNG QUÝ




Nhà văn Thùy Dương: Trăn trở với mỗi thân phận Người

Nếu không biết Thùy Dương sinh ra và lớn lên ở Hải Dương, sẽ đoán   chắc nàng là người Hà Nội gốc. Gọi là nàng v ì nàng không chỉ xinh đẹp, ...