Thứ Hai, 24 tháng 12, 2018

Nguyễn Quang Thiều - chùm thơ I

     Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều

Linh hồn những con bò

Ra đi từ đêm
Và bây giờ, những con bò bóng tối, đã đến
Cánh đồng cuối cùng  

Suốt đêm tiếng rống đàn bò
Rễn rĩ những cánh đồng câm lặng
Suốt đêm hơi thở đàn bò
Phả nóng một đêm mùa hạ

Chúng đã đi hết đường cày cuối cùng
Những chiếc ách biến mất gần sáng
Dấu chân chúng đã điểm chỉ
Trên những cánh đồng thế gian

Trong ban mai đàn bò mỗi lúc vàng rực
Và tan vào ánh sáng
Những tiếng rống vọng lại
Dàn kèn đồng trong xóm đạo nhỏ
đang tập buổi cuối cùng
để đón lễ phục sinh

giờ chỉ còn những đám mây
linh hồn của đàn bò
bay trên cánh đồng
của những con bò khác.


Những cánh bướm

Đâu đấy, một cánh bư­­ớm run rẩy, trong hơi thở tháng Giêng
Một cánh bư­­ớm như­­ không có bởi mỏng hơn cả sự mơ hồ
Như­­ng đã mở ra, ở đâu đó, một cánh bư­­ớm có thật
Không bởi màu sắc rực rỡ mà bởi như­­ hơi nư­­ớc đang tỏa

Chúng ta đổ ra quảng tr­ư­ờng, chen lấn và xô đẩy
Một số ai đó gào thét và nhiều lúc đập phá
Và chúng ta quên đi, đâu đấy, trong những lùm cây bé bỏng
đang rộn rã mùa sinh nở côn trùng

Đâu đấy ánh sáng không bao giờ tắt trong cả những đêm
Và sự chuyển động mỗi lúc một mãnh liệt trong  cái kén bất động
Rồi đột ngột xuất hiện, trong sự chờ đợi của đất đai, của cây cỏ và bầu trời,
một sự sống diệu kỳ với vẻ đẹp mong manh

Đâu đấy, không chỉ một đâu đấy, mà tràn ngập bất tận
Từ bóng tối đến ánh sáng, mở ra những cánh bư­­ớm
Và theo luồng hơi thở ấm áp và rộng lớn của tháng Giêng
Chúng mang vẻ đẹp của đời sống đi khắp thế gian
Mà không để lại một tiếng động nhỏ


Những con cá vàng

Những con cá vàng của đêm
Vây chạm vào bóng tối
Vang lên tiếng khánh ngọc
Và đôi mắt sáng mãi
Những ngọn đèn mùa thu
Không tắt…
Không tắt…
Bơi trên giấc ngủ chúng ta
Như trên bùn đen
Như trên lá mục ao đầm
Giống những bàn tay nhỏ
Vẫy mãi - những con cá
Những con cá toả sáng
Những mảnh lửa rực rỡ bay
Giấc mơ lộng lẫy, rực nóng
Trong rét lạnh thân xác
Khi chúng ta thức dậy
Ngập tràn mọi ngả đường
Những con cá biến mất
Trên mặt chúng ta hai hốc mắt tối
Những cái hang của bầy cá.


Người thổi kèn Rắn

Tựa tường, ngồi ngủ như đã quên thế gian
trên con đường ven biển. Chiếc kèn nằm bên đôi giày rách.
Những gì đã diễn ra khoảng khắc trước đó
giai điệu cây kèn, điệu múa con rắn, sự quyến rũ của nỗi sợ hãi.

Không trí tuệ, không pháp thuật, không phải những đồng xu,
chỉ sự điên rồ chăng? Của cả hai ta, không lời nào để nói.
Không đánh lừa được ai kể cả kẻ đần độn, chỉ đánh lừa chính mình
Ôi hai ta, những kẻ biết được sự trống rỗng trong âm nhạc ấy, trong vũ điệu ấy

Cả nỗi hoảng sợ ấy cũng không có thực
Bi kịch đến quá sớm khi ngày chưa tàn
Trong chiếc giỏ nhiều màu không còn con rắn nào
Nhưng không vì thế mà mọi chuyện kết thúc

Vẫn tựa tường ngồi ngủ, hỡi người thổi kèn rắn, du khách đến rồi đi
Bóng tối phủ lên người tấm vải đen, người vẫn không thức dậy
Phải chăng chính nọc độc của kẻ trong cuộc đã tìm cách giải thoát cả hai
khỏi sự trống rỗng, dối lừa từng nhân danh những điều huyền diệu


Thay lời nguyện cầu

Chúng ta thường chăm sóc những ngôi mộ bằng nỗi sợ hãi và tiếc thương
Nhưng ít người chúng ta nhìn thấy cỗ xe tang lộng lẫy
Trong tiếng trống tưng bừng
Làm thần chết cũng hết phiền muộn
Và tên tuổi chúng ta được khắc trên phiến đá lặng im
Lấp lánh và uy nghiêm
Như tên các vị thánh
Ít hơn nữa những người chúng ta
Tìm thấy âm nhạc tinh khiết trong buổi cầu hồn
Và gương mặt những nhạc công phường bát âm
Đắm say trong thế giới bí ẩn
Và càng ít hơn những người
Sau chén trà buổi tối
Ngồi trên tràng kỷnghe bài điếu văn viết cho mình
Vang lên với một giọng trầm
Trong một tối mùa thu tuyệt đẹp
Và lúc đó ở bên ngoài cửa sổ
Khu vườn giàn giụa trăng
Họ đã nhìn thấy vẻ đẹp diệu kỳ
Trong những gì luôn đe doạ người khác

NGUYỄN QUANG THIỀU
(Trích từ tuyển thơ Châu thổ)


Thứ Năm, 20 tháng 12, 2018

Mùa xuân sinh thái & văn chương

Sự suy thoái hệ sinh thái của một quốc gia không chỉ quy trách nhiệm cho những người quản lý đất nước mà cả cho sự thờ ơ của từng công dân, trong đó có những nhà văn.

Một ngày mùa Xuân, ông Diểu mang súng vào rừng đi săn. Ông chê những con chim xanh, những con gà rừng, chỉ mong bắn được sơn dương hay con khỉ đầu đàn. Cuối cùng thì ông đành bằng lòng với chiến lợi phẩm là một con khỉ đực. Nhưng không may cho ông: khỉ cái cứu khỉ đực, khỉ con thì kéo khẩu súng của ông cùng rơi xuống vực thẳm.
 GS. Huỳnh Như Phương

Ðúng lúc ông cởi trần leo lên mỏm đá bắt khỉ đực thì núi lở, áo quần ông bị vùi lấp trong đống mối. Ông Diểu ôm con khỉ bị thương trở về nhưng giữa đường đành bỏ lại vì đuối sức. Mình ông trần truồng, hai tay không, đi giữa màn mưa bụi, bên những khóm hoa tử huyền nở trắng như muối của rừng.

Ðó là tóm tắt truyện ngắn Muối của rừng mà Nguyễn Huy Thiệp viết cách nay đã hơn 25 năm. Dẫu biết thiên truyện nói những điều sâu rộng hơn rất nhiều, không hiểu sao tôi lại nhớ đến nó khi nghe chuyện những người đã nhẫn tâm giết hai con voọc chà vá chân xám ở Tây Nguyên hồi tháng 7 vừa qua. Cái ác của con người có điểm dừng hay không và thiên nhiên bao dung có ngăn được cái ác hay không?

Từ câu chuyện hai con voọc bị giết đến dự án thủy điện Ðồng Nai 6 và 6A mà Báo Người Lao Ðộng kiên quyết lên tiếng, những vấn đề về môi trường sinh thái trên đất nước ta chưa bao giờ khẩn thiết và gây bức xúc như bây giờ.

Trong cuộc đấu tranh vì một môi trường sống hòa hợp với con người, văn học đã làm được gì? Phải chăng văn học vẫn còn bàng quan với chuyện sống còn này? Hình như văn học cho đây là một đề tài tầm thường hay ít ra chưa phải là ưu tiên số một so với những vấn đề cao siêu đáng để tâm hơn nhiều?

Thật ra, văn học Việt Nam từng có những tác phẩm rất hay viết về con người giữa thiên nhiên và thiên nhiên bao bọc con người.

Ðất rừng phương NamTiếng gọi ngàn của Ðoàn Giỏi tha thiết một tấm lòng với đất trời, sông nước quê hương.

Nguyễn Minh Châu từng viết Sống mãi với cây xanh, nói lên tâm sự của một người ba đời làm nghề trồng cây cho thủ đô Hà Nội, đau đớn trước cái chết của cây sấu già khi đường phố mở rộng.

Với Rừng hồi, Hoa trái quanh tôi, Ai đã đặt tên cho dòng sông…, thiên nhiên là nhân vật trung tâm mang tâm hồn mẹ trong bút ký Hoàng Phủ Ngọc Tường.

Dù sao, đó mới là những nỗ lực lẻ loi. Một số nhà văn hiện nay hờn tủi với cuộc sống đô thị nhưng vẫn không dứt khỏi cơn say của xã hội tiêu thụ, dè bỉu văn hóa cổ truyền nhưng chưa nhận chân rõ những thảm họa sinh thái xuất phát từ sự quay lưng với truyền thống. Vấn đề không phải là hoài cổ, vì có muốn hoài cổ cũng không được. Vấn đề là thiết lập sự cân bằng sinh thái cần thiết cho cuộc sống của chính con người hiện tại và mọi ý đồ, dù mới manh nha, về việc phá vỡ sự cân bằng này phải bị lên án.

Năm ngoái, trong một bài nói chuyện ở Viện Văn học, nhà nghiên cứu người Mỹ Karen Thornber cho biết trường phái phê bình sinh thái, như một khoa học liên ngành, đã xuất hiện ở phương Tây từ những năm 70 thế kỷ trước. Ðó là trường phái xem sinh thái như một giá trị nhân văn và văn học vì con người phải có tiếng nói về chủ đề này.

Nếu thời cổ đại, nhiên giới là trung tâm; thời trung đại, thần giới là trung tâm; đến thời phục hưng và cận đại, nhân giới là trung tâm thì thời nay, sinh thái là trung tâm. Trong viễn tượng của một "quyết định luận sinh thái", đối lập văn hóa với thiên nhiên là một quan niệm đã lỗi thời.

Ðến năm 1992, Hiệp hội Nghiên cứu Văn chương và Môi trường được thành lập. Văn học tham gia vào việc bảo vệ sức khỏe môi trường cũng là bảo vệ chính con người và những giá trị thuộc về con người. Chủ nghĩa nhân văn mới không còn xem con người là "thước đo của mọi vật", thậm chí là "chúa tể của muôn loài" mà là một thành phần cộng sinh của thiên nhiên nên phải biết coi trọng từng đơn vị sinh thái: một cây thủy tùng, một giống loài sinh vật biển, một cánh rừng nguyên sinh…

Sự suy thoái hệ sinh thái của một quốc gia không chỉ quy trách nhiệm cho những người quản lý đất nước mà cả cho sự thờ ơ của từng công dân, trong đó có những nhà văn.

Vấn đề môi trường gắn liền với số phận nhân loại có thể nhận thấy qua tình trạng bất công về sinh thái: Tại sao một vùng cư dân này phải chịu đựng nguồn nước bị ô nhiễm do nước bẩn thải ra từ các nhà máy phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa của quốc gia?

Tại sao một tộc người thiểu số này lại phải hy sinh đất đai, xa lìa quê cha đất tổ để nhường chỗ làm thủy điện hay nhà máy điện hạt nhân vì quyền lợi của một cộng đồng lớn hơn?

Tại sao những dân tộc nhỏ chậm phát triển phải chịu đựng tình trạng hiệu ứng nhà kính và ô nhiễm môi trường do những nước công nghiệp phát triển thải ra?

Nếu văn chương là tiếng nói của số phận con người thì những hiện tượng như vậy đều không xa lạ với văn chương. Ðó vừa là vấn đề đạo đức vừa là vấn đề thẩm mỹ.

Sự tương tác giữa con người và thiên nhiên cũng như giữa những yếu tố của môi trường với nhau dẫn đến khái niệm "chỉnh thể sinh thái": Sinh thái là một "dây chuyền sống", phá vỡ một mắt xích là phá hủy cả chỉnh thể đó.

Nhà nghiên cứu người Pháp Jacques Vernier cho biết số lượng cá voi xanh trên thế giới trước đây là 250.000 con, nay chỉ còn khoảng dưới 500 con! Trước kia, số bồ câu di trú ở Bắc Mỹ có đến hàng tỉ, thế mà con chim cuối cùng loài này đã chết ở vườn thú Cincinnati năm 1914!

Vào thế kỷ XVI, ước tính cứ 100 năm thì có một loài động vật biến mất; đầu thế kỷ XX, mỗi năm mất đi một loài; còn ngày nay thì mỗi ngày mất đi một loài! Chưa bao giờ nhân loại chứng kiến sự đa dạng sinh học bị xâm hại khủng khiếp như hiện nay. Ðây thực sự là một nguy cơ có quy mô toàn thế giới.

Bây giờ vẫn còn nhiều những ông Diểu mùa Xuân mang súng vào rừng, thậm chí vào ngay dưới những vòm cây bên rìa thành phố để mà tận diệt chim muông, cầm thú. Những ông Diểu hãnh tiến và thành đạt bây giờ chắc sẽ chẳng ai đi về hai tay không như ông Diểu trong Muối của rừng. Và cũng sẽ chẳng có khóm hoa tử huyền nào chờ đợi họ. Mưa Xuân cũng không còn rắc trên đầu họ. Chỉ có một bầu trời mù xám màu chì dành cho họ mà thôi.

HUỲNH NHƯ PHƯƠNG
Nguồn: NLĐ



Thứ Năm, 29 tháng 11, 2018

Khai ngộ với thiên nhiên: Bashô và Octavio Paz

(Awakening to the nature)

Bây giờ, trong thời đại phê bình sinh thái (ecocritical age), đọc lại thơ Bashô, ta cảm thấy như đang thở hít trong một sinh quyển đầy mê diệu. Đó là thứ thơ ca đưa ta vào sâu thẳm thiên nhiên. Không chỉ là thiên nhiên. Đó còn là tâm linh sinh thái, nơi mọi thứ luôn luôn sáng tạo và chuyển hóa, nơi mọi sinh linh bước đi trong ánh sáng của bình đẳng và vô sai biệt, không có chủ nhân và sở hữu chủ, nơi mọi thứ phản chiếu nhau như những hạt châu.
Thi hào Bashô của Nhật Bản

Là nhà thơ, Bashô cảm thấy mình có quyền kêu gọi mọi người trở thành “người bạn của bốn mùa” và “quay về với tạo hóa” để gặp gỡ cái mê diệu và sáng tạo cái mê diệu. Hướng theo con đường thơ ca sâu thẳm của Bashô là tạo nên khả thể cho cuộc “tái mê diệu hiện thực của thế giới này” (a realistic reenchantment of the world)(1), nói theo Patrick H. Dust.

Lắng nghe Matsuo Bashô là lắng nghe những vần thơ của hơn ba thế kỷ trước. Đọc Bashô giữa thế kỷ hai mươi, Octavio Paz, nhà thơ lớn Mexico cho rằng kiệt tác Con đường sâu thẳm (Oku no hosomichi) là cuộc hành hương tâm linh (a spiritual pilgrimage) khi ông tham gia chuyển ngữ nó sang tiếng Tây Ban Nha(2). Bản thân Paz cũng từng sáng tác thơ theo thể renga và haiku (liên ca và haiku) trong phong cách hội tụ và hiện đại.

Cũng như Bashô, thơ Octavio Paz thể hiện hành trình tâm linh và cái đồng cảm vũ trụ rất gần tinh thần “thiên nhân tương cảm” của Đông phương mà ông rất quen thuộc. “Tương cảm và tương ứng chỉ là cách gọi cho nhịp điệu vũ trụ”, Paz đã nói như thế (3). Sự tương cảm đó có thể xem là mặc khải thơ ca (Poetic revelation) một thứ mặc khải không cần tới một quyền lực siêu hình nào, “đó là mặc khải về chính mình mà con người tạo ra cho mình” (4). Đó là mặc khải với thiên nhiên. Vì hiền minh thơ ca cũng là hiền minh thiên nhiên (natural wisdom).

Đó là khi thơ ca học cách sáng tạo và chuyển hóa của bốn mùa, của tứ đại (đất, nước, gió, lửa) trong tĩnh lặng cũng như trong khi đối diện với sự tàn phá thiên nhiên:

“Phản chiếu cái tương thân vũ trụ, thơ ca là biểu tượng của những gì xã hội con người cần hướng tới. Trong khi đối mặt với tàn phá thiên nhiên, thơ ca cống hiến bằng chứng sống động về cái tương thân của các vì sao và các phân tử, của hóa học và ý thức… mỗi bài thơ là một bài học thực tiễn trong hài hòa và tương hợp… Bài thơ hình thành qua cái tương thân của các yếu tố, hình thức và tạo vật của vũ trụ là biểu tượng cho sự tồn sinh trên đời…

Sinh ra từ tưởng tượng của con người, thơ ca có thể chết đi nếu tưởng tượng chết đi hay tàn bại. Nếu con người quên lãng thơ ca, họ lãng quên chính mình, niềm lãng quên con người. Và quay về với hỗn mang nguyên thủy”(5). Paz đã nói như thế.

Và như thế, Paz từ cái nhìn hiện đại, Paz đã vô hình trung kế tục và phóng mở tư tưởng Bashô. Chống lại sự lãng quên thơ ca và lãng quên thiên nhiên, thi hào Nhật Bản kêu gọi “làm bạn với bốn mùa” và “đón nhận thiên nhiên, quay về với tạo hóa”.

Khi lang thang từ Edo đến bờ biển Suma, Bashô tự thấy mình như là một hành giả lang thang theo gió, tựa hồ tấm lụa tả tơi phiêu lãng. Đó là ông tự xếp mình vào hàng ngũ những tâm hồn phong nhã (fuga: phong nhã, hồn thơ, bản thân nghệ thuật thơ ca) như Saigyô của thơ tanka, Sesshu của hội ca, Rikyu của trà đạo và Sôgi của thơ renga. Cảm nghiệm đó Bashô ghi lại trong tác phẩm Oi no kobun (Cập chi tiểu văn: Ghi chép nhỏ trong túi hành hương):

“Một linh hồn đã hoạt hóa tất cả tác phẩm của những người này. Đó là tâm hồn của fuga (phong nhã), kẻ nào ấp ủ nó đều đón nhận thiên nhiên và trở nên người bạn của bốn mùa. Nhìn thấy gì, người ấy đều nhớ đến hoa; nghĩ điều chi người ấy cũng liên tưởng tới trăng. Nếu nhìn vật mà không nhớ hoa là kẻ man rợ, nếu tư tưởng mà không quay về trăng thì có khác chi loài thú. Thế nên tôi kêu gọi: Hãy vượt qua man rợ mà đón nhận tạo hóa, quay về với tạo hóa.”

Đoạn văn lộng lẫy mà uyên áo này cho thấy cái nhìn hiền minh của Bashô về thiên nhiên. Thiên nhiên không đối lập với văn hóa. Chính vì có văn hóa, có nghệ thuật, có hồn thơ (phong nhã) thì con người mới là bạn tình của thiên nhiên. Hơn nữa, tư tưởng Bashô còn sâu hơn những gì mà trích dịch bất toàn trên cho thấy.

Cái tưởng tượng thơ ca của Paz có khác gì với tâm hồn phong nhã của Bashô. Tưởng tượng ấy chết đi thì cũng là phong nhã chết đi.

Kẻ man rợ của Bashô thì khác gì niềm quên lãng con người của Paz.
Cái tương thân vũ trụ của Paz cũng rất gần với bạn bốn mùa của Bashô.

Khỏi phải nói, cả hai nhà thơ lớn đều ca ngợi cái thiên nhân tương cảm, cái sáng tạo và chuyển hóa thể hiện trong con người và thiên nhiên.

Cả hai đều hướng tới sự tồn sinh của con người trong nhịp điệu thiên nhiên, cái không khác với nhịp điệu thơ ca.

Để nói về tính sáng tạo của thiên nhiên, Bashô thường dùng từ zôka (tạo hóa). Cho nên ông nói “quay về với tạo hóa”, tức là quay về với cái huyền diệu của vũ trụ.

Trong kiệt tác Con đường sâu thẳm (Oku no hosomichi), đến thăm Matsushima (Tùng Đảo) tuyệt đẹp, Bashô đã viết: “Tạo hóa thiên công, có bút mực nào, lời thơ nào vẽ nổi và tả xiết đây?”(6).

“Tạo hóa thiên công” (zôka no tenkô) chính là tính sáng tạo huyền diệu mà Bashô muốn bắt chước trong thơ, muốn quay về với cái đó, chơi với nó (zôka zuijun: tạo hóa tùy thuận).

Cũng như thế, Octavio Paz cho rằng thiên nhiên là ngôn ngữ, là thơ ca. Mở ra ngôn ngữ chính là trở về với thiên nhiên (es volver a la naturaleza). Nhưng thiên nhiên ở đây không phải là vật chất hay tâm linh mà là năng lượng, là từ trường, rất gần ý nghĩa sinh thái. “Chúng ta ra khỏi thiên nhiên và trở về với nó” là điều ông nhận thấy khi đọc Lévi-Strauss.

Paz cho rằng vũ trụ có từ tính, là từ trường hóa. Vũ trụ là “một loại nhịp điệu đan dệt thời gian và không gian”.

Đứng trước thiên nhiên và vũ trụ mê diệu như thế, hơn ai hết các nhà thơ muốn cuộc tồn sinh của con người yêu thương nó, kết một khối tình với nó. Như Hồ Xuân Hương cho thấy trong bài thơ tuyệt diệu Đá Ông Chồng Bà Chồng:

Khéo khéo bày trò tạo hóa công
Ông Chồng đã vậy lại Bà Chng
Gan nghĩa giãi ra cùng nhật nguyệt
Khối tình cọ mãi với non sông.

Trò chơi của Tạo hóa thiên công, trò chơi của từ trường mà các nhà thơ nói ở đây là cái kỳ diệu, huyền bí, tinh tế, thiện xảo, công phu, tài hoa, ẩn tú trong sáng tạo và chuyển hóa của tự nhiên.

Trở về ở đây là về với cái linh thiêng của sáng tạo chứ không phải về với đồng quê hay chốn lâm tuyền để hái cúc, trồng lan ở ẩn mà nêu cao tư cách “quân tử”.

Bashô và các nhà thơ chỉ muốn học cái cách mà thiên nhiên hay sinh thái đã sáng tạo. Như Goethe ở Đức đã nói: “Tác phẩm vĩ đại của Nghệ thuật là tác phẩm vĩ đại của Thiên nhiên”.

Thơ ca và nghệ thuật không phản ánh thiên nhiên mà là vận động trong tinh thần sáng tạo của thiên nhiên. Họa sĩ kỳ tài Paul Klee trong thế kỷ hai mươi trong tinh thần đó mà nói với một người bạn đang dạy nghệ thuật:

“Hãy dẫn sinh viên đến Thiên nhiên, vào trong Thiên nhiên! Để họ học cảm nghiệm một nụ hoa hiện thành thế nào, một cái cây mọc thế nào, một con bướm mở cánh thế nào, làm sao cho các bạn ấy sẽ trở nên phong phú, biến đổi, hào hứng như bản thân Thiên nhiên. Đón nhận đường lối sáng tạo tự nhiên mà biến tạo hình thức. Đó là trường học tuyệt nhất.”

Đối với Bashô, Paz cũng như họa sĩ Klee, phải là văn hóa, phải là thơ ca nghệ thuật mới có thể là thiên nhiên, rất khác với quan niệm nhị đối thường có giữa thiên nhiên và văn hóa, cũng như thiên nhiên và con người.

Phê bình sinh thái đương nhiên đồng tình với những nghệ sĩ thượng thặng ấy và dị ứng với loại tư tưởng “làm chủ và sở hữu thiên nhiên” kiểu Descartes.

Con người dường như không muốn hiểu rằng Thiên nhiên làm ra con người chứ làm gì có con người làm ra Thiên nhiên. Và chỉ có thể con người cần Thiên nhiên chứ Thiên nhiên cần chi con người.

Trong thiên nhiên, vai trò của con người không phải là chủ nhân. Đó phải là người bạn như Bashô đòi hỏi, “bạn của bốn mùa”. Đó phải là người tình, như Paz gợi ý.

Tương quan với thiên nhiên như thế có thể là một tương quan mật thiết, sắc dục hay từ tính (a magnetic relationship) nghĩa là thu hút nhau, mơn trớn nhau và có thể xuyên thấm nhau.

Như bài haiku của Bashô về đầm Kisagata:

                Đầm Kisagata
                Nàng Tây Thi nằm ngủ
                Hoa buồn ngủ trong mưa.

                                (Kisagata ya
                                ame ni Seishi ga
                                nebu no hana).

Dưới mưa, đầm Kisagata, nàng Tây Thi và hoa buồn ngủ (hoa hợp hoan) như cùng nhau thiếp ngủ. Cảnh ấy “ngập đầy đôi mắt” nhà thơ, mơn trớn nhà thơ.

Và khổ thơ về quẻ Hằng của Paz:

                Như rừng nằm trong giường lá
                Em nằm ngủ trong giường mưa
                Em hát ca trong giường gió
                Em hôn trong giường những tia lửa ngời.

                                (Como el bosque en su lecho de hojas
                                tú duermes en tu lecho de lluvia
                                tú cantas en tu lecho de viento
                                tú besas en tu lecho de chispas)

Nhà thơ Paz muốn “sờ nắn bằng tư tưởng và suy tư bằng thân xác” và vần thơ trên cho thấy điều đó. Nằm ngủ, hát ca và hôn trong mưa, trong gió, trong lửa. Tư tưởng thật sự biết sờ nắn và thân xác thật sự biết suy tư.

Với Bashô, tiếp xúc và hiểu biết thiên nhiên là nguồn cảm hứng vô tận: “Muốn biết cây tùng, hãy đi tới cây tùng”. Đi tới là tiếp xúc, là mơn trớn, là thâm nhập vào sự vật, vào thiên nhiên. Và cảm nghiệm Nước, Đất, Gió, Lửa bên ngoài ta cũng như bên trong ta.

Nước, cổ mẫu đầu tiên, trải nghiệm đầu đời của ta. Lòng mẹ, máu, sữa, mưa, sông, biển, nước mắt,…

Haiku mùa thu của Bashô:

                Chén trăng đầy
                sóng thơm mùi rượu
                biển xanh say.

                                (Sokai no
                                nami sake kusashi
                                kyo no tsuki)

Trăng có thể được dùng làm chén mà múc rượu từ biển mùa thu ngát hương: rượu tình.

Với Paz, thơ ca là nước, nước chảy tràn.

                Cuối cùng hãy là một Lời…
                một giọt nước trên khao khát môi.
                …
                nước, nước cuối cùng trôi,
                lời của người dành cho người.

                                (Ser al fin una Palabra…
                                un poco de agua en unos labios ávidos.
                                …
                                Agua, agua al fin
                                palabra del hombre para el hombre).

Nước kết nối con người với cội nguồn, con người với con người. Nước là thơ ca, là tình yêu cuộc sống.

Đất thì phong nhiêu, là mẹ đất. Theo Paz, mẹ đất luôn luôn trinh nguyên. Nhưng sinh sản vô tận hoa trái trần gian.

Một bài haiku của Bashô trình bày một cuộc chơi: hoa rụng về cội.

                Xuống đất ư
                cánh hoa về cội rễ
                dường như giã từ.

                                (chi ni taore
                                ne ni yori hana no
                                wakare kana)

Bài thơ thuộc mùa xuân cho dù nói về giã từ và cái chết. Vì hoa lại tan mình vào đất, một lúc nào đó lại tái sinh thành hoa mới trên cây. Cây đã nhập hoa trở lại vào thân mình. Vòng luân hồi của sinh thái là thế.

Đất thì lặng lẽ và cây cũng thế. Paz nói lên cái vô ngôn đó trong một bài haiku của mình:

                Cây tần bì
                đêm qua dường sắp nói
                nhưng rồi không nói ra.

                                (Anoche un fresno
                                a punto de decirme
                                algo -callóse)

Có nhiều cách nói. Và không nói cũng là một cách nói. Do đó ta có thể nghe đất và nghe cây. Không thể nghe bài ca im lặng của đất và cây có thể là một cách mất gốc, không còn là hoa của đất.

Đất có thể kết hợp với trời trong mưa và lúc ấy mọi sinh linh trông khác đi, như một bài haiku của Bashô cho thấy:

                Mưa mùa hạ trôi
                kìa chân chim hạc
                ngắn lên lần hồi.

                                (Samidare ni
                                tsuru no ashi
                                mijikaku nareri).

Chân chim hạc ngắn đi khi nước dâng nhưng nói thế mà không phải. Chim hạc biết rõ chân mình, biết bầu trời và nước, biết mùa hạ và mưa theo cách của nó, theo bản năng sinh thái. Chim hạc đứng một mình nhưng đâu phải một mình. Hiện thời, đất, nước và bầu trời làm ra nó.

Thiên nhiên là một thế giới tương tùy và tùy duyên mà sinh khởi, trong đó bất kỳ một sinh thể nào cũng có mặt trong cái khác trong nguyên lý tương tức (interbeing) không có chi ngoại lệ.

Tư tưởng Phật giáo cũng như hiền minh sinh thái nhìn thấy không có gì là biệt lập, một mình.

Một mình không phải là một mình hiện hữu mà là “một mình với”. Con hạc không bất động. Đứng yên là một cách khác, bay với mưa mùa hạ. Cái đứng yên đó là kết tụ ngàn lần đã bay và ngàn lần sẽ bay.

Trước Bashô, Nguyễn Trãi cũng đã có cái nhìn hiền minh này:

                Lẻ có chim bay cùng cá nhảy
                Mới hay kìa nước nọ hư không.

Nhiều thế kỷ trước, thiền sư Nhật Bản Dôgen cũng đã nói trong Chánh Pháp Nhãn Tạng(Shobogenzo):

“Từ nước, cá làm nên đời sống của mình, và từ trời, chim cũng thế. Đời sống ấy chim cá làm ra. Đồng thời đời sống làm ra chim cá. Bởi thế, cá, nước và đời sống, cả ba sáng tạo lẫn nhau”.

Và hình ảnh cánh hạc biển của Nguyễn Du:

                Hải hạc diệc hội vũ
                Bất dữ thế nhân tri.

                                (Biển xanh cánh hạc múa chơi
                                Cần chi hạc múa cho người đời hay.)

Cái quan trọng là mọi hiện tượng đời sống sáng tạo lẫn nhau, chứ không có ưu quyền đặc lợi cho riêng cái nào. Đất và nước, đất và trời tương phản mà tương hợp.

Như lời trong sách Thái Căn Đàm: “Nếu chân tính của ta có sức mạnh sáng tạo của bản thân Thiên nhiên tạo hóa thì dù cho đi đâu, ta đều thấy cá nhảy và nhạn bay”.

Đất, trời, nước, chim, cá… và ta thở cùng hơi thở, tương tùy, tương duyên, tương hợp, tương tức,…

Đất tự nó là một sinh thể. Con người không chỉ sống trên đất mà còn là đất. Thế nên Paz viết:

                Chỉ có đất
                mà tôi biết và biết tôi.

                                (Única tierra
                                que conozco y me conoce).

Với Octavio Paz, gió được xem là “hơi thở sáng tạo của đời sống. Gió có thể ném ta ra khỏi chính mình hay ném ta vào chính mình”.

Lang thang trong gió thu gió đông, Bashô cảm thấy:

                Xơ xác dãi dầu
                gió xuyên thân xác
                vào tận hồn sâu.

                                (Nozarashi o
                                kokoro ni kaze no
                                shimu mi kana).

Cùng diễn tả hơi thở dữ dội của gió, đến giữa thế kỷ hai mươi, nữ sĩ Setsuko viết:

                Đất trời
                rung chuyển cùng hơi thở
                bày trận tuyết rơi.

                                (ame-tsuchi no
                                iki aite hagheshi
                                yuki furasu).

Gió vừa sáng tạo vừa tàn phá, vừa là sắc vừa là không, vừa đến vừa đi đồng chơi, vừa chơi vừa chết đồng thời.

Gió thổi mây bay. Nhưng chính là gió bay. Yếu tính của gió là bay và bay và nó có thể giải thoát từ đã đến thơ ca ra khỏi trọng lực, như những vần thơ của Paz cho thấy:

                Thế giới cũ của đá
                cất mình lên và bay

                                (El viejo mundo de las piedras
                                se levanta y vuela).
                …
                Ngày mở bàn tay
                bay ra ba áng mây
                và những vần thơ này.

                                (El día abre la mano
                                tres nubes
                                y estas pocas palabras).

Mây bay gió thổi. Nhưng ngày thật sự mở ra với lửa. Với Paz, thơ ca là “ngôn ngữ của lửa” (lenguaje de incendios) và lửa cũng là tâm linh, như có thể thấy qua vần thơ sau đây của ông:

                linh hồn không sống trong hình thể nào,
                nhưng làm cho mọi hình sắc cháy
                với một ngọn lửa bất diệt huyền linh.

                                 (espíritu que no vive en ninguna forma,
                                mas hace arder todas las formas
                                con un secreto fuego indestructible).

Lời thơ của Bashô trong một đêm mùa xuân ẩn giấu một ánh lửa vô hình của nến, của hương và của u huyền:

                Một đêm mùa xuân
                trong góc Phật đường
                bóng ai quỳ mông lung.

                                (Haru no yo ya
                                komoribito yukashi
                                dô no sumi).

Một hình ảnh lửa có thể nhìn thấy trong nước qua bài haiku khác của Bashô:

                Dòng Mogami ấy
                dìm mặt trời đang cháy
                vào trong biển xanh.

                                (Atsuki hi o
                                umi ni iretari
                                Mogamigawa).

Lửa mặt trời vẫn cháy trong dòng sông ấy, trong biển cả ấy và vẫn cháy trong thơ ca, trong đá, trong cỏ, trong gió, trong đất và trong con người.

Thơ ca đã kết buộc thế giới bên ngoài và thế giới bên trong của con người, ôm ấp đất, nước, gió, lửa bằng tình yêu nồng nàn.

Mỗi ngày của chúng ta được kết dệt bằng vũ điệu của các nguyên tố ấy như lời thơ của Paz:

                Những nguyên tố quấn quít nhau
                đan dệt y trang của một ngày chưa biết.

                                (Los elementos enlazados tejen
                                la vestidura de un día desconocido).

Cái ngày chưa biết đó, cái ẩn giấu đó chính là cái mê diệu mà thiên nhiên mặc khải cho thơ ca, sự mặc khải mà Bashô và Paz lắng nghe không ngừng. Lắng nghe hình sắc và lắng nghe cả hư không. Thơ Bashô:

                Từ cành cao
                hư không rơi xuống
                trong vỏ ve sầu (7).

                                (Kozue yori
                                adani ochi keri
                                semi no kara).

NHẬT CHIÊU
Nguồn: NVTPHCM

Chú thích:

(1) Patrick H. Dust, Editor: Ortega y Gasset and the Question of Modernity, The Prisma Institute, Minneapolis, 1989, p.51
(2) Octavio Paz: Covergences, Trans. Helen Lane. HBJ, New York, 1987, p.248
(3) Octavio Paz: Children of the Mire, Trans. Rachel Phillips, Harvard University Press, Cambridge, 1974, p.63.
(4) Octavio Paz: The Bow and the Lyre, Trans. Ruth Simns, McGraw-Hill, New York, 1975, p.121
(5) Octavio Paz: The other voice, Trans. Helen Lane, HBJ, New York, 1992, p.159,160.
(6) Matsuo Bashô: Oku no hosomichi/ The Narrow Road to Oku, Song ngữ Nhật Anh, Trans. Donald Keene, Kodansha, Tokyo, 1996, p.78,79.
(7) Những trích dịch không đánh số trong bài viết chúng tôi thực hiện khi dựa vào các tài liệu sau đây:
- Jason Wilson: Octavio Paz, A study of his poetics, Cambridge University Press, London, 1979
- The Poems of Octavio Paz, Sách song ngữ Tây Ban Nha – Anh, Trans. E. Weinberger, New Directions, 1998
- Octavio Paz, Selected Poem, Sách song ngữ Tây Ban Nha – Anh, Trans. Tomlinson, Penguin Books, 1979
- Bashô The Complete Haiku, Sách song ngữ Nhật – Anh, Trans. Jane Reichhold.


TIN LIÊN QUAN:



Thứ Tư, 28 tháng 11, 2018

Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp: Muối của rừng

     Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp

Sau Tết Nguyên đán một tháng là thời gian thích nhất ở rừng. Cây cối đều nhú lộc non. Rừng xanh ngắt và ẩm ướt. Thiên nhiên vừa trang trọng, vừa tình cảm. Điều ấy một phần là do mưa xuân.

Khoảng thời gian này mà đi trong rừng, chân dẫm lên lớp lá ải mục, hít thở không khí trong lọc, thỉnh thoảng lại được thót mình bởi một giọt nước trên cây rỏ xuống vai trần thì thật tuyệt thú. Tất cả những trò nhố nhăng đê tiện vấp phải hàng ngày hoàn toàn có thể rũ sạch bởi một cú nhảy của con sóc nhỏ trên cành dâu da.

Chính dịp đó ông Diểu đi săn.

Ý nghĩ đi săn nảy sinh khi thằng con học ở nước ngoài gửi về biếu ông khẩu súng hai nòng. Khẩu súng tuyệt vời, nhẹ bỗng, hệt như một thứ đồ chơi, thật nằm mơ cũng không thấy được. Ở tuổi sáu mươi, với khẩu súng mới, đi săn trong rừng vào một ngày xuân kể cũng đáng sống.

Ông Diểu nai nịt, mặc quần áo ấm, đội mũ lông và dận đôi giày cao cổ. Để cho cẩn thận, ông còn mang theo cả nắm xôi nếp. Ông đi men theo suối cạn, cứ thế ngược lên mó nước đầu nguồn. Cách mó nước một dặm là vương quốc của hang động đá vôi.

Ông Diểu rẽ sang lối mòn ngoằn ngoèo đi miết. Chim xanh đầy trên rặng gắm hai bên lối mòn nhưng ông không bắn. Với khẩu súng này mà bắn chim xanh thì thật phí đạn. Chim xanh ông chén chán rồi. Ngon thì ngon nhưng có vị tanh. Nhà ông thiếu gì chim. Chim bồ câu nhà ông có đầy. Đến chỗ ngoặt, ông Diểu giật mình bởi một tiếng soạt trong lùm dẻ gai.

Một chùm dây màu sặc sỡ tung trước mắt ông. Ông nín thở: một đôi gà rừng ton tón lao về phía trước, đầu chúi xuống, kêu quang quác. Ông Diểu rê nòng súng theo. "Bắn sẽ trượt thôi!". Ông nghĩ bụng và ngồi bất động ở trong tư thế như vậy rất lâu. Ông muốn chờ rừng yên tĩnh lại. Đôi gà rừng sẽ nghĩ là chưa gặp người. Như thế tốt cho chúng nó. Cũng tốt cho ông.

Dãy núi đá cao ngất hùng vĩ. Ông Diểu ngắm nhìn để lượng sức mình. Nã được một chú khỉ hoặc chú sơn dương thì thật đã đời. Sơn dương thì khó, ông Diểu biết thế. Giống này bắn được chỉ nhờ ở ngẫu nhiên thôi. Ông Diểu không tin vận may sẽ đến.

Cân nhắc kỹ, ông tính đi men chân núi đá vôi sang rừng dâu da săn khỉ. Chắc ăn hơn mà đỡ tốn sức. Đây là Hoa Quả Sơn, Thủy Liêm Động của thung lũng này.

Ở rừng dâu da, khỉ có hàng bầy. Việc bắn được một chú khỉ với ông không khó. Ông Diểu dừng lại mô đất có cây dây leo. Không biết thứ cây này là thứ cây gì, lá bạc phếch giống như lá nhót, những bông hoa vàng như hoa tai rủ xuống tận đất.

Ông ngồi đấy lặng lẽ quan sát. Cần xem bọn khỉ có ở đây không? Loài thú này khôn tựa người, khi kiếm ăn bao giờ cũng có canh gác. Con gác rất thính. Không thấy nó, đừng có hòng cuộc săn thắng lợi, đừng có hòng bắn được con át chủ bài. Con át chủ bài cũng là khỉ thôi. Nhưng đây là con khỉ của ông, là con ấy chứ không con khác. Vì vậy ông phải chờ, phải có cách thì mới bắn được.

Ông Diểu ngồi im dễ đến nửa giờ. Mưa xuân mỏng và mịn. Thời tiết ấm. Dễ đến rất lâu ông Diểu mới lại có dịp ngồi yên thế này, không nghĩ gì không buồn không vui, không lo lắng, cũng không tính toán. Sự tĩnh lặng bình thản của rừng xuyên suốt qua ông. Ào một cái, từ trong rừng dâu da bỗng như có tiếng quẫy động của một con vật khổng lồ. Ông Diểu biết là con đầu đàn đã đến. Con khỉ này cũng gớm lắm đây. Nó xuất hiện với một nghi lễ vương chủ. Tự tin đến thô bạo. Ông Diểu mỉm cười và chăm chú nhìn.

Sau tiếng động vài phút thì con đầu đàn đến thật. Nó văng mình rất nhanh đến nỗi gần như không có phút nghỉ ở mỗi chặng dừng. Ông Diểu thán phục vì sự nhanh nhẹn dẻo dai của nó. Thoắt một cái, nó biến mất. Một nỗi xót xa khiến ông nhói lòng: số phận của bậc đế vương không trùng với số phận ông. Niềm vui nhen lên từ khi ở nhà ra đi trong ông vơi đi một nửa. Khi con khỉ đầu đàn biến mất thì ào ra một đàn khỉ đến hai chục con từ rất nhiều hướng.

Con vắt vẻo trên cao, con đánh đu ngang cành. Có con lại nhảy xuống đất. Ông Diểu thấy ba con khỉ cứ quấn lấy nhau: con khỉ đực, con khỉ cái và đứa con nó. Ý nghĩ con khỉ đực sẽ là con mồi bám lấy ông Diểu tức thì. Cái thằng bố ô trọc ấy! Đồ phong tình phóng đãng! Vị gia trưởng cộc cằn! Nhà lập pháp bẩn thỉu! Tên bạo chúa khốn nạn! Ông Diểu thấy nóng bừng người. Ông bỏ mũ và áo bông ra đặt dưới lùm cây. Ông để cả nắm cơm xuống đất. Ông từ từ dịch chuyển sang chỗ đất trũng thấp hơn.

Ông nhìn kỹ và thấy con khỉ canh gác là con khỉ cái. Thế là thuận lợi rồi. Bởi giống cái bao giờ cũng dễ phân tâm. Đấy, thấy chưa? Đang canh gác mà đi bắt rận ở người thì còn gì nữa? Với giống cái thì thân thể mình là quan trọng nhất. Điều ấy thật giản dị và đẹp. Nhưng điều ấy lại đầy xót xa...

Ông Diểu tính toán rồi luồn theo hướng ngược gió với con khỉ cái canh gác. Phải tiếp cận đàn khỉ đến hai chục mét thì mới bắn được. Ông bò nhanh và rất khéo léo. Xác định được con mồi rồi là ông chắc chắn thành công. Thiên nhiên đã dành cho ông chứ không ai khác chính con khỉ ấy. Thậm chí ông biết dù ông có đi mạnh chân một chút, gây nên một sự bất cẩn nhố nhăng nào đó cũng chẳng hề gì. Điều ấy tưởng như phi lý mà thật bình thường.

Tuy nghĩ vậy nhưng mà ông Diểu vẫn cứ tiếp cận đàn khỉ một cách thận trọng. Ông biết thiên nhiên đầy rẫy bất ngờ. Thận trọng chẳng bao giờ thừa. Ông Diểu tỳ súng vào một chạc cây. Cái bộ ba trong gia đình khỉ không hề biết rằng tai họa đến gần. Con khỉ bố vắt vẻo trên cây bứt quả ném xuống dưới đất cho hai mẹ con. Trước khi ném, bao giờ nó cũng chọn quả ngon chén trước. Hành động ấy thật là đê tiện. Ông Diểu bóp cò. Tiếng súng dữ dội đến nỗi đàn khỉ lặng đi dễ đến một phút. Con khỉ đực buông tay ngã nhào xuống đất nặng nề. Sự hỗn loạn của cả đàn khỉ khiến cho ông Diểu sợ hãi run lên. Ông vừa làm điều ác. Chân tay ông rủn ra, giống cảm giác như người vừa mới làm xong việc nặng. Đàn khỉ thoắt biến vào rừng. Con khỉ mẹ và con khỉ con cũng chạy theo đàn. Được một đoạn, con khỉ mẹ bỗng quay trở lại. Con khỉ đực bị đạn vào vai, nó gượng dậy, nhưng lại vật xuống.

Con khỉ cái tiến đến gần con khỉ đực một cách thận trọng, nó nhìn ngó xung quanh. Sự im lặng này thật đáng ngờ. Nhưng rồi con khỉ đực cất tiếng gọi nó, tiếng gọi buồn thảm đau đớn. Nó dừng lại lắng nghe với vẻ khiếp sợ hoảng loạn.

- Chạy đi!

Ông Diểu rên lên khe khẽ. Nhưng con khỉ cái tuồng như muốn liều thí mạng, nó đến gần nâng con khỉ đực nhỏm lên.

Ông Diểu tức giận giương súng. Hành động hy sinh thân mình của con khỉ cái làm ông căm ghét.

Đồ gian dối, mày chứng minh tấm lòng cao thượng hệt như một bà trưởng giả! Sự tan rã đạo đức bắt đầu từ những tấn kịch thế này, lừa ông sao được? Khi ông Diểu chuẩn bị bóp cò thì con khỉ cái quay lại nhìn ông. Đôi mắt nó sợ hãi kinh hoàng. Nó vứt phịch con khỉ đực xuống đất rồi chạy biến đi. Ông Diểu thở phào rồi khẽ bật cười. Ông nhô hẳn người ra khỏi chỗ nấp.

- Sai lầm rồi!

Ông Diểu rủa thầm vì ông vừa bước ra thì con khỉ cái quay lại tức thì. "Nó biết mình là người thì thôi hỏng việc!" Y như rằng, con khỉ cái vừa lén nhìn ông vừa lao đến chỗ con khỉ đực. Nó ghì lấy con khỉ đực vào lòng rất nhanh và khéo. Cả hai lăn tròn trên đất. Bây giờ thì con khỉ cái chắc chắn sẽ điên cuồng như một mụ ngốc. Nó sẽ cuồng nhiệt hy sinh bởi lòng cao thượng của nó sẽ được thiên nhiên tính điểm. Ông đã lộ mặt là tên ám sát! Dù chết nó vẫn nhe răng để cười. Bất luận thế nào ông cũng sẽ đau đớn, sẽ thao thức, thậm chí ông sẽ chết sớm hai năm nếu ông bắn nó lúc này. Tất cả chỉ vì ra khỏi chỗ nấp sớm mất hai phút.

- Thôi Diểu ơi... - ông buồn bã nghĩ, - với đôi chân thấp khớp thế này thì làm sao mày chạy nhanh bằng lòng tận tụy, thủy chung của khỉ? Như trêu ngươi, hai con khỉ vừa chạy vừa dìu lấy nhau, con khỉ cái thỉnh thoảng lại huơ huơ đôi chân vòng kiềng trông vừa tức cười lại vừa đểu cáng. Ông Diểu bực mình lấy đà ném mạnh khẩu súng văng về phía trước. Ông mong muốn con vật hoảng sợ buông mồi.

Từ mô đá, bỗng nhiên con khỉ con xuất hiện. Nó túm lấy dây súng của ông kéo lê trên đất. Ba con khỉ vừa bò vừa chạy cuống cuồng. Ông Diểu ngớ ra một lát rồi phá lên cười: tình thế của ông thật là lố bịch!

Nhặt đất đá ném theo lũ khỉ, ông Diểu vừa đuổi vừa la. Lũ khỉ hết sức kinh hoàng, hai con chạy về phía núi, còn con khỉ nhỏ chạy về phía vực. Mất súng thì hỏng. Ông Diểu nghĩ thế và đuổi theo con khỉ nhỏ. Khoảng cách rút ngắn đến mức nếu không vì mắc nền đá lởm chởm, ông lao nhoài ra là tóm ngay được khẩu súng.

Việc ông Diểu dồn con khỉ nhỏ đến bờ miệng vực đưa đến hậu quả khôn lường. Giữ chặt dây súng, nó lăn xuống miệng vực không chút chần chừ. Vì ít kinh nghiệm, nó không tìm ra giải pháp nào khác trong trường hợp ấy.

Ông Diểu tái mặt, mồ hôi toát ra như tắm. Ông đứng trên miệng vực nhìn xuống rùng mình. Từ dưới sâu hun hút vang lên tiếng rú thê thảm của con khỉ nhỏ. Trong ký ức của ông chưa hề có tiếng rú nào tương tự thế này. Ông Diểu lùi lại kinh hoàng. Từ dưới miệng vực, sương mù dâng lên cuồn cuộn, trông vừa kinh dị, vừa đầy tử khí. Sương mù len vào từng chân bụi cây và xóa rất nhanh cảnh vật. Ông Diểu chạy lùi trở lại. Phải lâu lắm, có lẽ từ thời thơ ấu, ông Diểu mới lại có lần chạy như ma đuổi thế này.

Đến chân núi đá, ông Diểu kiệt sức. Ông ngồi phệt xuống nhìn về phía vực. Bây giờ sương mù đã trùm kín nó. Ông sực nhớ ra đây là khu vực đáng sợ nhất trong thung lũng, khu vực mà cánh thợ săn đặt tên cho là Hõm Chết. Ở hõm sâu này, gần như đều đặn, năm nào cũng có người bị sương mù giăng bẫy làm cho toi mạng. Hay là ma? - ông Diểu nghĩ. - Cô hồn của những bà cô ông mãnh thường biến thành hình khỉ trắng?" Con khỉ này màu trắng. Nó đoạt súng của ông bất thường đến nỗi ông cũng ngờ vực là sao sự thực có thể giản đơn như vậy? - "Ta có mê không? - ông Diểu nhìn quanh. - Tất cả như trong mộng mị?" - ông đứng dậy nhìn lên vách núi bàng hoàng. Phía núi đá ngược chiều Hõm Chết, bầu trời quang đãng không hề vướng gợn sương mù, tất cả cảnh vật lộ rõ từng đường nét.

Có tiếng kêu thảng thốt. Ông Diểu trông lên thì bỗng thấy con khỉ đực bị thương nằm vắt ở trên mỏm đá. Không thấy con khỉ cái. Ông mừng quá tìm hướng leo lên. Núi đá dốc và trơn. Leo lên nguy hiểm và vất vả lắm. Ông Diểu lượng sức: "Nhưng dù thế nào thì ta cũng phải tóm được chú mày"! Ông Diểu bình tĩnh bám vào các khe đá nứt leo lên. Được khoảng chục mét, ông Diểu thấy nóng bừng người. Lựa chỗ đứng thuận tiện, ông cởi bỏ giày và quần áo ngoài để lên một chạc cây duối. Trên mình mỗi chiếc quần lót, ông thấy thoải mái. Ông leo thoăn thoắt và càng không ngờ sức mình có thể nhanh nhẹn dẻo dai đến thế.

Con khỉ đực bị thương nằm trên ngọn đá phẳng lì và khá chông chênh. Dưới phiến đá, một khe nứt rộng đến gang tay tách nó ra khỏi vách núi. Ông Diểu rùng mình, cảm tưởng như bất cứ lúc nào tảng đá cũng có thể lăn nhào khỏi vị trí ấy làm ông kinh hãi. Thiên nhiên oái oăm lại muốn thử thách thêm lòng dũng cảm của ông sao đó. Ông Diểu lấy hai cùi tay làm tựa để co người lên. Con khỉ tuyệt đẹp, lông mịn và vàng. Nó nằm sấp mình, hai tay cào trên phiến đá như muốn tìm cách nhích lên. Máu đỏ bết bên vai nó. Ông Diểu đặt tay lên mình con khỉ và thấy nó nóng hầm hập. "Dễ đến hơn yến...". Ông Diểu luồn tay xuống dưới ngực con khỉ nâng lên ước lượng.

Từ trong ngực nó phát ra tiếng "hừm" nho nhỏ nghe rất đáng sợ, tựa như thần Chết bực mình cáu kỉnh vì sự can thiệp của ông với nó. Ông Diểu rút phắt tay lại. Con khỉ run bắn, nó đưa đôi mắt đờ dại nhìn ông cầu khẩn. Ông Diểu bỗng thấy thương hại. Viên đạn phá vỡ bả vai của nó, làm trồi ra hẳn đoạn xương dài đến bốn phân. Mỗi khi đoạn xương va chạm, con khỉ quằn quại trông rất đau lòng.

- "Để thế không ổn! " - ông Diểu vơ lấy một nắm cỏ Lào vò nát ông cho vào miệng nhai kỹ. Ông đắp nắm lá vào miệng vết thương con khỉ. Nắm lá sẽ có tác dụng cầm máu cho nó. Con khỉ co rúm người lại và nghiêng đôi mắt ươn ướt nhìn ông. Ông Diểu tránh nhìn vào đôi mắt nó. Một lát, con khỉ rúc hẳn vào hai lòng tay ông Diểu. Miệng nó phát ra âm thanh lắp bắp nghe như tiếng của trẻ con. Ông biết nó đang van xin và tìm một sự giúp rập. Ông rất khó chịu. "Thà mày chống cự thì tốt cho tao" - ông Diểu nhìn vào cái đầu ngoan ngoãn của con khỉ nhỏ cau mày. - Mình đâm già rồi... Nó biết người già thì dễ mủi lòng. Bây giờ tao biết lấy gì băng bó cho mày hở khỉ?" Ông Diểu suy nghĩ. Ông đành cởi chiếc quần lót đang mặc. Ông dùng chiếc quần lót ấy để băng vết thương cho nó. Vết thương cầm máu, con khỉ không còn rên nữa.

Cứ thế trần truồng, ông Diểu vừa bế vừa đỡ con khỉ tìm đường tụt xuống chân núi. Thoắt nhiên, đất đá từ lưng chừng núi sụt xuống rào rào như có sức mạnh nào đấy xô đẩy.

Núi lở! Ông Diểu thót mình và bám thật chặt vào tảng đá kinh hãi. Đoạn đường mà ông leo lên lúc nãy loáng cái chỉ còn một vết chém thẳng phẳng lì. Ông Diểu không còn thấy cây duối để quần và giày đâu nữa. Đi xuống đường ấy bây giờ thật nguy hiểm. Đành phải vòng ra sau núi. Xa hơn nhưng lại an toàn.

Ông Diểu lần mò đến hơn hai tiếng đồng hồ mới xuống được đến chân núi. Thật chưa bao giờ ông lại vất vả và mệt đến thế. Người ông đầy vết xây xát. Con khỉ sống không ra sống, chết không ra chết. Kéo nó trên đất thì quá đau lòng, mà bế ẵm nó trên tay thì không đủ sức. Đến chỗ lùm cây leo nấp chờ ban sáng, ông Diểu dừng lại để tìm mũ áo và nắm xôi nếp. Ở đấy đùn lên một đống mối to gần bằng cây rạ. Đống mối nhớp nháp một thứ đất mới đỏ au, trên đấy đầy những cánh mối ướt rụi. Khốn nạn, dây vào tổ mối thì những đồ vật của ông thành cám! Thở dài thất vọng, ông Diểu quay lại bế con khỉ lên.

"Chẳng lẽ lại cứ nồng nỗng thế này về nhà thì thật khả ố - ông Diểu bực mình. - Mình sẽ thành một trò cười cho thiên hạ mất...". Ông cứ vừa đi vừa nghĩ và đâm loanh quanh một lúc mới nhận ra con đường. "Thì đã sao nào - ông bỗng bật cười. - Hỏi ai bắn được con khỉ thế này? Phải yến rưỡi thịt... Lông vàng như nhuộm... Bắn được con vật như thế này thì dẫu mảnh giáp không còn cũng đáng! Có tiếng động khẽ đằng sau. Ông Diểu giật mình quay lại và nhận ra con khỉ cái. Thấy ông, nó thoắt biến vào bụi rậm. Hóa ra con khỉ cái theo ông từ khi ông ở trên núi mà ông không biết.

Ông thấy là lạ. Đi được một quãng, ông Diểu quay lại thì vẫn thấy nó lẽo đẽo đằng sau. Thật khốn nạn quá! ông Diểu đặt con khỉ đực xuống đất rồi nhặt đất đá đuổi con khỉ cái. Nó kêu the thé rồi chạy biến đi. Chỉ được một lúc, ông Diểu ngó lại thì vẫn thấy nó lẵng nhẵng bám theo. Cái bộ ba ấy cứ thế lầm lũi xuyên rừng. Con khỉ cái cũng thật kiên trì. Ông Diêu bỗng thấy bị xúc phạm ghê gớm. Tựa như ông bị theo dõi, bị đòi ăn vạ.

Bây giờ, cả con khỉ đực cũng đã nhận ra tín hiệu vẫy gọi của đồng loại nó. Nó cứ giãy giụa, nó làm cho ông khổ vô cùng. Ông Diểu mệt lả, ông không còn sức giữ con khỉ nữa. Hai tay con khỉ cào trên ngực ông tóe máu. Cuối cùng, không thể chịu nổi, ông đành tức giận ném nó xuống đất. Con khỉ đực nằm dài trên vạt cỏ ướt. Ông Diểu buồn bã ngồi nhìn. Cách đó không xa, con khỉ cái cũng thập thò sau một gốc cây theo dõi.

Ông Diểu thấy buồn tê tái đến tận đáy lòng. Ông nhìn cả hai con khỉ và thấy cay cay sống mũi. Hóa ra ở đời, trách nhiệm đè lên lưng mỗi sinh vật quả thật nặng nề. "Thôi tao phóng sinh cho mày!" - Ông Diểu ngồi yên một lát rồi bỗng đứng dậy nhổ bãi nước bọt xuống dưới chân mình. Lưỡng lự giây phút rồi ông vội vã bỏ đi. Hình như chỉ chờ có thế, con khỉ cái vọt ngay ra khỏi chỗ nấp, chạy vội đến chỗ con khỉ đực nằm.

Ông Diểu rẽ sang một lối đi khác. Ông muốn tránh sẽ gặp người. Lối này đầy những bụi gai ngáng đường nhưng hoa tử huyền nhiều không kể xiết. Ông Diểu dừng lại sững sờ. Loài hoa tử huyền cứ ba chục năm mới nở một lần. Người nào gặp hoa tử huyền sẽ gặp may mắn. Hoa này màu trắng, vị mặn, bé bằng đầu tăm, người ta vẫn gọi hoa này là muối của rừng. Khi rừng kết muối, đấy là điềm báo đất nước thanh bình, mùa màng phong túc.

Ra khỏi thung lũng, ông Diểu đi xuống cánh đồng. Mưa xuân dịu dàng nhưng rất mau hạt. Ông cứ trần truồng như thế, cô đơn như thế mà đi. Chỉ một lát sau, bóng ông nhòa vào màn mưa.

Chỉ ít ngày nữa sang tiết Lập hạ. Trời sẽ ấm dần.

NGUYỄN HUY THIỆP
Nguồn: Giaoduc.net.vn
          


Thứ Hai, 26 tháng 11, 2018

Biểu tượng Gió trong Bước gió truyền kỳ của Phan Hoàng

Dựa trên nền tảng quan niệm của văn hóa nhân loại về gió, với chủ đích mượn gió để gửi gắm thông điệp nghệ thuật, trong trường ca Bước gió truyền kỳ Phan Hoàng đã xây dựng biểu tượng gió theo cách riêng của trái tim nghệ sĩ đầy mẫn cảm với một trí óc tưởng tượng bay bổng, phong phú. Gió trở thành nơi phát lộ những bí ẩn của vô thức, của hành động, khai mở trí tuệ về cái chưa biết và cái vô tận. Gió gợi cho người đọc suy ngẫm về thân phận cuộc đời của mỗi con người qua tầng tầng lớp lớp thế hệ…
Nhà thơ Phan Hoàng

Xuyên suốt trường ca Bước gió truyền kỳ(1) của Phan Hoàng là biểu tượng gióGió được coi như là trục vận hành chính, là tâm điểm phát sáng nhiều thông điệp. Gió hiện diện trong tác phẩm với vai trò nối kết năm phân khúc rõ rệt: Những ngọn gió vô danh/ Gió tiếp sức ước mơ/ Bước gió truyền kỳ/ Gió dựng thành lũy biên cương/ Những cơn vượt thoát sinh tồn vĩ đại. Ứng với mỗi bước gió là một chủ đề lớn hàm chứa những chủ đề nhỏ hơn. Đặt trong tổng thể của tác phẩm, tất cả cùng hòa âm - những âm thanh của tưởng tượng vang lên như một bè hợp xướng đa thanh, lắng nghe sẽ thấy dàn hợp âm vang lên lúc êm ái, dịu dàng, lúc hào hùng, dữ dội, lúc trầm lắng, suy tư, lúc xót xa, đau đớn, lúc tha thiết tự hào…  đó chính là những cung bậc cảm xúc của tác giả cũng như của bất cứ người con đất Việt nào khi ngược dòng thời gian, sống cùng những sự kiện lịch sử của dân tộc, dõi theo từng bước đi của sinh thể Mẹ - Tổ quốc từ thuở ông cha mang gươm đi mở cõi (Huỳnh Văn Nghệ) cho đến hôm nay.

Trong văn hóa của nhiều dân tộc trên thế giới biểu tượng gió có ý nghĩa khác nhau. Kinh Coran lấy các cơn gió làm sứ giả của Chúa Trời, tương đương với các thiên thần. Thần của Chúa Trời bay lượn trên mặt nước nguyên thủy được gọi là gió. Trong hệ biểu tượng Hindu, gió (vâyu) là khí vũ trụ và là lời Thượng đế; gió là chúa tể của lĩnh vực tế vi, trung gian giữa Trời và Đất. Theo các truyền thuyết Hindu về nguồn gốc vũ trụ trong Luật của Manu, gió được sinh ra từ thần linh và gió sinh ra từ ánh sáng. Thần linh được kích thích bởi ước muốn sáng tạo đã sinh ra không gian. Từ vận động của cái không trung này, đã sinh ra gió. Gió chứa đựng tất cả các hương trong sạch, mãnh liệt, có đặc tính của xúc giác. Trong các truyền thuyết của Kinh Thánh, những cơn gió là hơi thở của Chúa Trời. Hơi thở của Chúa đã đưa trật tự vào hỗn mang nguyên thủy, hơi thở đó đã đem lại sinh khí cho người đầu tiên. Những cơn gió cũng là những công cụ của quyền lực thần thánh; chúng truyền sinh khí, trừng phạt, giáo huấn, chúng là những dấu hiệu và cũng như các thiên thần, chúng mang những thông điệp. Chúng là một dạng biểu hiện của thần linh, muốn truyền đạt những cảm xúc của mình(2).

Dựa trên nền tảng quan niệm của văn hóa nhân loại về biểu tượng gió, với chủ đích mượn gió để gửi gắm thông điệp nghệ thuật, trong Bước gió truyền kỳ Phan Hoàng đã xây dựng biểu tượng gió theo cách riêng của trái tim nghệ sĩ đầy mẫn cảm với một trí óc tưởng tượng bay bổng, phong phú. Gió trở thành nơi phát lộ những bí ẩn của vô thức, của hành động, khai mở trí tuệ về cái chưa biết và cái vô tận. Gió gợi cho người đọc suy ngẫm về cuộc đời của mỗi người Việt Nam qua tầng tầng lớp lớp thế hệ. Và thân phận mỗi cá thể vô danh ấy gắn liền với mỗi bước đi nhọc nhằn của mảnh đất quê hương hình chữ S - nơi mỗi chúng ta chôn nhau cắt rốn, cất tiếng khóc chào đời. Chạm đến tình cảm thiêng liêng ấy nên gió trong tác phẩm của Phan Hoàng đã lay động tâm thức người đọc ở vùng thăm thẳm nhất. Thổi qua nhiều miền tối sáng suốt chiều dài lịch sử dân tộc, nhưng không ồn ào mà rất khiêm nhường, điềm tĩnh, những Bước gió truyền kỳ đúng như tên gọi của nó đưa người đọc vào một hành trình kỳ lạ, vừa thực vừa mơ để khám phá những vẻ đẹp của văn hóa, khí phách và ý chí của dân tộc với nhiều cung bậc cảm xúc thẩm mỹ khác nhau.

Trong cảm thức của tác giả, gió là một biểu tượng luôn luôn động, luôn luôn biến hình hài, đổi trạng thái và mỗi bước gió là một sự tiến triển của đất trời, con người và vạn vật sinh linh…  

Mở đầu trường ca gió là tâm điểm hội tụ sức mạnh hồn thiêng dân tộc. Những ngọn gió vô danh gọi những linh hồn vô danh quần tụ, họ là những chàng trai và những cô gái mang trong mình Ước mơ căng tràn ngực gió thanh xuân” Họ đã sống từ bao đời trước: Xác hóa mây bay hồn về đất mẹ/… Người từ ngàn năm người quên tên tuổi...” Nhưng chính những con người giản dị và bình tâm  ấy là những con người đã làm nên đất nước (Mặt đường khát vọng - Nguyễn Khoa Điềm).

Gió được thổi hồn và hiện diện như một sinh thể sống, gió là người và người là gió, gió quấn quýt, chia sẻ vui buồn cùng con người, gió mở đường bay, gió đồng hành cùng người từ những bước chập chững đầu đời, từ tuổi thơ hồn nhiên khát vọng truy tìm, khám phá những bí ẩn của cuộc sống. Với nhiều thủ pháp tu từ được sử dụng linh hoạt như dùng xen kẽ liên tục câu dài/ ngắn, câu khẳng định/phủ định, câu kể, câu cảm thán, câu hỏi…, âm hưởng chậm rãi, trầm lắng của khúc ca đưa mỗi chúng ta trở về với tuổi thơ của mỗi người và tuổi thơ của dân tộc. Đó là thời khởi sinh trong trẻo hồn nhiên, đầy ắp kỷ niệm ngây thơ êm đềm nhưng cũng đã biết “khóc người lớn cười/ cười người lớn khóc. Từ thuở mới khai sinh lập địa, thuở hồng hoang mới biết hát đồng dao, người Việt Nam đã biết phân biệt phải/ trái, đúng/ sai, nuôi khát vọng, mơ ước, biết suy tư trăn trở tìm đường để hướng đến những giá trị sống cao đẹp: bay đường nào con người bớt khổ đau?/ bay đường nào con người bớt nghèo đói?/ bay đường nào con người bớt phản trắc?/ bay đường nào con người tin được nhau? ”.  
   
Có thể nói bốn tiểu khúc trong phần Gió tiếp sức ước mơ: Gió mở đường bay/ Đồng giao nghịch gió/ Cuộc trò chuyện giữa gió và núi/ Gió tiếp sức ước mơ là những khúc đoạn vừa bay bổng, lãng mạn vừa giàu chất triết luận. Đáng chú ý là Cuộc trò chuyện giữa gió và núi được hình dung trong giấc mơ của người kể chuyện: Nhiều đêm trong mơ ngược dòng ấu thơ đuổi bắt sao trời, ta trộm nghe núi mở lòng với gió.

Các nhà phân tâm học cho rằng về ý nghĩa giấc mơ là sự thỏa mãn một ước vọng.  Theo S. Freud, ước vọng là yếu tố chính tạo nên giấc mơ, ước vọng bị dồn nén được thỏa mãn một cách tượng trưng và “trá hình” trong giấc mơ. Mọi giấc mơ là sự thực hiện tưởng tượng hay biểu tượng của ước muốn. Giấc mơ “nghe núi mở lòng với gió” của Phan Hoàng là một giấc mơ đẹp, lạ. Giấc mơ mang theo hình hài địa lý của Tổ quốc, có “Biển Đông, có đồng bằng, có con đường xuyên sơn ngoằn ngoèo”… giấc mơ tái hiện lịch sử bi hùng “một thời đội sấm đội chớp mở đường” của cha ông… Phải chăng thông qua giấc mơ về Cuộc trò chuyện giữa gió và núi tác giả trường ca Bước gió truyền kỳ muốn góp thêm tiếng nói khẳng định một giá trị thuộc về truyền thống văn hóa của những con người được nuôi dưỡng từ cái nôi của nền văn minh lúa nước trên dải đất hình chữ S: dẫu trải qua bao dâu bể thăng trầm và biến thiên của lịch sử, người Việt Nam luôn sống thuần phác, nhân hậu, bao dung, phóng khoáng,  luôn mong muốn “bắc yêu thương những nhịp cầu đồng dao!…” và “lấy cây rừng làm bút/ lấy đá núi làm nghiên, lấy nước biển làm mực, đề thơ lên thạch trụ cao vút chín tầng xanh…”. Đó là giấc mơ thấm đẫm khát vọng hòa bình và tự do, tinh thần ấy là sợi dây bền chặt “nối ngàn xưa cho đến mai sau”.

Khúc thứ hai cùng tên tác phẩm: Bước gió truyền kỳ - đây là khúc trọng yếu của thiên trường ca. Với những thức nhận sâu sắc về văn hóa, lịch sử dân tộc, tác giả đã tái hiện bức tranh hoành tráng về quá trình bảo vệ và khẩn hoang mở rộng bờ cõi của cha ông qua bốn tiểu khúc: Bước gió truyền kỳ/ Gió khẩn hoang/ Gió xuôi chín khúc sông rồng/ Tây Nam mùa gió chướng. Âm hưởng hào sảng, tha thiết tự hào bao trùm khúc ca. Câu thơ ngắn, dài, biến ảo linh hoạt, gợi hình ảnh;  nhịp điệu nhanh, dồn, mạnh mẽ và hối thúc. Biện pháp điệp từ, ngữ được sử dụng một cách triệt để và đắc địa. Quá khứ lịch sử dân tộc với những bước chân huyền thoại thuở hồng hoang trở về rõ mồn một sau từng câu chữ…
Trường ca Bước gió truyền kỳ của nhà thơ Phan Hoàng được trao Giải thưởng VHNT TPHCM 5 năm lần thứ II (2012-2017)

Như sự đặt để của số phận, dân tộc Việt Nam là một trong những dân tộc phải đối mặt với nhiều cuộc chiến tranh nhất để mở cõi và giữ nước. Trong kết tinh của đất và nước có rất nhiều máu, mồ hôi và nước mắt: “máu/ máu/ máu/ mở cõi/ máu/ máu/ máu/ giữ nước… lớp lớp người/ tay cuốc tay cày/ lớp lớp người/ tay chèo tay lưới/ chém cá tràng kình/ mắt xua mây xám biển Đông/ lưng bóng nắng/ mồ hôi lạnh/ ngực dằn cơn ho cơn sốt…/ chân ngăn từng dòng nước khách lũ/ vật vã/ kiên trì/ tự lực/ khẩn hoang”… âm hưởng của lời ca nghe như có tiếng nấc, như có tiếng khóc, xót xa nhưng không hề bi lụy… Hiện lên trước mắt người đọc là trùng trùng lớp lớp những con người bé nhỏ, vô danh nhưng dũng cảm gánh trên vai một sứ mệnh lớn lao mà lịch sử dân tộc giao phó. Cuộc thiên di về phương Nam nhọc nhằn, gian khó nhưng những con người lao động chỉ có tay cuốc, tay cày, tay chèo, tay lưới cùng với ý chí kiên cường, đức nhẫn nại, hy sinh của người dân nước Việt. Họ đã làm nên truyền thống, làm nên lịch sử cho xứ sở này - truyền thống ấy mãi mãi âm vang bước gió truyền kỳ, tạc khắc trong hiên ngang dáng núi, bao dung tình sông

Xét trong chỉnh thể của tác phẩm, như bản nhạc vang ngân, khi tiểu khúc Bước gió truyền kỳ và Gió khẩn hoang với âm hưởng hào hùng, bi tráng “cuồn cuộn chuyển động sắc màu vũ trụ” tạm lắng xuống, thì tiểu khúc Gió xuôi chín khúc sông rồng vang lên với âm hưởng chậm rãi khoan thai, có những nốt lặng lắng sâu nhiều suy tư về cuộc sống “phía sau nỗi đau trận mạc”.

Đất nước hòa bình, con người lại trở về với những giấc mơ hoa đời thường mà do chiến tranh ngăn trở nên đã không thể thực hiện. Hạnh phúc đáng nói nhất là “tình yêu lứa đôi không còn bão lửa cắt chia”. Tâm điểm của bức tranh hòa bình là hình ảnh quấn quýt hòa trộn nhau thắm thiết, nồng nàn của đôi lứa yêu nhau được Phan Hoàng phác họa sinh động mang sắc màu “nhục thể lành mạnh” (F.Engels): “Thịt da nhiệt đới/ hừng hực ngực lửa/ hừng hực đùi hương/ bềnh bồng suối tóc/ bồng bềnh môi trầm/ bềnh bồng mông núi/ bồng bềnh lạch hoa/ bồng em lốc xoáy/… em làm vợ ta làm chồng/ yêu nhau thì cứ bềnh bồng bập bênh”. Ở đây  khát vọng hướng đến những giá trị nhân bản, nhân văn nhất của con người được thành thực trải lòng. Kiến tạo văn bản theo một sơ đồ chủ ý trộn lẫn giữa truyền thống và hiện đại nên có lẽ vì vậy trường ca Bước gió truyền kỳ của Phan Hoàng đã không bị sa vào khuôn mẫu xơ cứng, đơn điệu của kiểu viết trường ca theo “cảm hứng sử thi” đầy sắc màu “lý tưởng” tạo khoảng cách quá xa vời giữa con người trong tác phẩm và con người của cuộc sống đời thường.

Thế giới nghệ thuật vốn bao giờ cũng là thế giới trung gian giữa thực tế và mơ mộng. Nhiều khi thế giới thực không thỏa mãn được ước vọng của người đời, thế giới mơ tưởng có thể thực hiện được những ước vọng đó. Và ở khúc đoạn này, Phan Hoàng đã thành công khi mơ một “giấc mơ sinh trưng” lãng mạn nhưng cũng rất chân thực với cách diễn đạt tưởng chừng tưng tửng, dí dỏm, nhưng ám gợi sâu sắc tâm thức người tiếp nhận.

Phần thứ ba mang tên Gió dựng thành lũy biên cương gồm ba tiểu khúc: Linh hồn gió/ Gió cõng hương qua núi đồi/ Gió dựng thành lũy biên cương.

Chiến tranh dẫu đã đi qua, nhưng trong mỗi ngày của cuộc sống hòa bình những ám ảnh, đau thương mất mát vẫn nhức nhối khôn nguôi, “cái ác mang mặt nạ hữu nghị viển vông” vẫn lởn vởn. Đêm đêm linh hồn của những chàng trai, cô gái “hồn phách tinh anh mỉm cười bước ra chuyện trò cùng với gió (…) bao linh hồn trẻ hóa gió hiên ngangcanh giữ giấc ngủ bình yên đất mẹ”. Đến đây, gió trở thành biểu tượng của sức mạnh tâm linh huyền diệu, thần kỳ. Sức mạnh ấy được khởi nguồn từ tình yêu đất nước của lớp lớp thế hệ đi trước, họ đã dâng hiến tuổi thanh xuân vì bình yên của mảnh đất này, vì “cuộc sống những đứa trẻ không còn mồ côi đói khát…/ mùa trăng mật dâng hiến lứa đôi/ mùa sinh nở dâng tặng tiếng khóc những ngôi sao hy vọng...”. Trên nền âm hưởng trầm lắng, man mác buồn, hoài niệm, tiếc thương người đã khuất, nổi bật hình tượng Gió cõng hương qua núi đồi thấm đẫm sắc màu kỳ ảo: “Dường như có bóng ai lướt nhanh trong màn sương đục/ bóng của hôm qua bóng của hôm nay hay bóng của mai sau? gió vẫn miệt mài cõng hương qua núi đồi một thời trận mạc/ gió nói gì với những chiếc bóng lang thang chưa yên nghỉ mộ phần?”. Trước thế giới tâm linh thiêng liêng, những dấu hỏi như găm vào lòng người sống hôm nay bao ngẫm ngợi, suy tư, khắc khoải về thân phận con người…

Với độ lùi thời gian, điềm tĩnh nhìn lại những “bước gió” bi hùng của lịch sử dân tộc, tác giả trường ca xác quyết một sự thật: “không dân tộc nào/ không đất nước nào/ hiếm hoi thế hệ bình yên/ nối nhau quẫy đạp bóng đêm/ đứng lên” như dân tộc Việt Nam; và “không dân tộc nào/ không đất nước nào/ oằn vai/ gánh/ mười bốn cuộc chia ly không hẹn ngày về/ không dám bày tỏ nỗi niềm nhớ thương/ không biết cha con đối đầu/ không ngờ anh em bắn nhau/ máu đỏ oán sông/ xương trắng hờn than núi/ bao tinh hoa hóa thành cát bụi/ bao bà mẹ tim ngừng đập vẫn mở mắt đợi con/ bao người vợ úp mặt chờ chồng lửa lòng đông cứng!”. Chiến tranh là máu và nước mắt, là cái chết, là chia ly, tan tác, chia lìa. Người dân đất Việt đâu có mong muốn chiến tranh, nhưng “cực chẳng đã” buộc phải đứng lên để “giành lại từng dấu chân giao chỉ/ giành lại từng viên đá cuội in bóng chim lạc chim hồng/ giành lại từng hạt cát mang hình đảo chìm đảo nổi/ giành lại từng tia sáng cánh cò cánh vạc/ giành lại từng tiếng khóc bình yên tao nôi” . Và dòng hào khí kết tinh từ tinh hoa của lớp lớp người mãi trường tồn, vút bay cao “hóa thân bước gió truyền kỳ, cùng những vì sao nhấp nháy nhấp nhổm nụ cười” để làm nên Những cơn vượt thoát sinh tồn vĩ đại của dân tộc.

Nếu quan điểm của tư duy lý luận hiện đại cho rằng chức năng cơ bản của biểu tượng là sự phát hiện hiện sinh của con người cho chính mình thì ở Bước gió truyền kỳ biểu tượng gió giúp người đọc nhận ra chính bản thân mình từ những phát hiện về phẩm chất của dân tộc từ góc nhìn nhân văn nhất về lịch sử dựng nước và giữ nước của người Việt. Xoay xung quanh biểu tượng này chúng ta có thể suy ngẫm để khám phá nhiều ý nghĩa về thực tại cuộc sống: đó là mối quan hệ ràng buộc và những ứng xử mang giá trị văn hóa sâu sắc giữa cá nhân và cộng đồng, cộng đồng và cá nhân… Sử dụng biểu tượng gió như một thủ pháp nghệ thuật để thể hiện những ẩn dụ cảm xúc từ trìu mến, yêu thương thiết tha nhất đến giận dữ, uất nghẹn, sôi sục nhất, tác giả Phan Hoàng đã thành công trong lối dẫn dụ người đọc đi vào thế giới cảm xúc cùng những suy tư về văn hóa, lịch sử và vận mệnh của dân tộc một cách tự nhiên trên tinh thần “tự cảm hóa”. Với cách xử lý nghệ thuật khéo léo, tinh tế, sáng tạo, trường ca Bước gió truyền kỳ của Phan Hoàng đã vượt qua giới hạn của lối tư duy tụng ca về những vấn đề đại tự sự một cách đơn giản, sáo rỗng, vô hồn, thiếu thuyết phục mà bạn đọc vẫn còn bắt gặp đó đây trong sáng tác hôm nay. Và đó chính là một trong những nguyên nhân sâu xa, cơ bản nhất khiến tác phẩm này hàm ẩn nhiều thông điệp nghệ thuật, tiếp tục “vẫy gọi” bạn đọc đồng sáng tạo.

Tháng 3.2016
PGS.TS. CAO THỊ HỒNG
(DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ VIỆT NAM)


Chú thích:

 (1) Phan Hoàng, Bước gió truyền kỳ, Nxb. Hội Nhà văn, 2016.
 (2) Jean Chevalier, Alain Gheerbrant, Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, Nxb. Đà Nẵng, Trường viết văn Nguyễn Du, 1997, tr.363.     



Nhà văn Thùy Dương: Trăn trở với mỗi thân phận Người

Nếu không biết Thùy Dương sinh ra và lớn lên ở Hải Dương, sẽ đoán   chắc nàng là người Hà Nội gốc. Gọi là nàng v ì nàng không chỉ xinh đẹp, ...