Chủ Nhật, 8 tháng 9, 2019

Nguyễn Xuân Sanh - nhà thơ cuối cùng của phong trào thơ mới

Sinh năm 1920. Đến Tết năm nay ông tròn 100 tuổi. Có nhẽ thi sỹ Nguyễn Xuân Sanh là người cuối cùng của phong trào Thơ Mới (1930-1945) còn tại vị trên thế gian này.
Nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh

Trong số 44 người được Hoài Thanh chọn thơ vào Thi Nhân Việt Nam 1941 không có Nguyễn Xuân Sanh. Cũng không có tên Nguyễn Xuân Sanh khi xếp 3 dòng thơ. Dòng Pháp. Dòng Đường. Dòng Việt. Cũng không thấy tên ông trong các xóm thơ. Xóm sông Thương. Xóm Huế. Xóm Bình Định. Xóm Hà Tiên... Mặc dầu vậy, bài tổng luận ở đầu sách - Một thời đại trong thi ca, Hoài Thanh đã không quên vị trí của Xuân Sanh, nói về ông đến hai lần trong dòng chảy phát triển của Thơ Mới. Hoài Thanh viết. Từ Xuân Diệu, Huy Cận, thơ Việt Nam đã có tính cách của thơ Pháp lối tượng trưng nhưng còn dè dặt. Bích Khê và ít nhiều nữa như Xuân Sanh muốn đi đến chỗ người ta thường cho là cao nhất trong thơ tượng trưng: Mallarme, Valéry ... Thơ tượng trưng được người ta thích hơn nhất là Baudelaire. Có thể nói hầu hết các nhà thơ vừa kể trên, không ít thì nhiều, đều bị ám ảnh vì Baudelaire. Sau nhận định này về Xuân Sanh, Hoài Thanh có một chú thích nhỏ dành cho riêng Nguyễn Xuân Sanh rằng tác phẩm chưa xuất bản nhưng làng thơ thường nhắc đến. Như thể một lời thanh minh của Thi Nhân Việt Nam đã không chọn bài thơ nào của Nguyễn. Kỳ thực, theo Hồi ký Song đôi của Huy Cận thì vào hè năm 1935, chàng Huy và Xuân Sanh đã viết tay được một tập thơ chung khoảng 50 bài gửi cho nhà xuất bản Mai Lĩnh ở Hải Phòng. Khi ấy Xuân Sanh chừng độ 15 tuổi. NXB đã không in tập thơ và theo Huy Cận - Người sau này tự họa thơ mình là Thơ ơi, chiếc võng ta treo, Đầu theo vũ trụ đầu theo loài người, rằng họ đã không thèm trả lời. Nguyễn Xuân Sanh trước khi nổi tiếng với Buồn xưa và Bình Tàn Thu trong Xuân thu nhã tập 1942, Ông đã có một số bài thơ đăng báo như Xuân ngày - Bút Mới - Sài Gòn 1938. Giường bệnh mùa thu - Bút mới - 9/1938. Xây Mơ - Tiếng Địch - số 1 - 1938. Buồn Mơ, Đường Xuân - Thanh Nghị số tết 1942 v.v... Trong đó bài thơ Xây Mơ viết tặng Chế Lan Viên và được nhạc sỹ Nguyễn Xuân Khoát phổ nhạc vào năm 1940 là đáng kể hơn cả. Khuynh hướng siêu thực, tượng trưng đã đậm nét trong bài thơ ấy. Tay sương lam mờ đường buông tơ. Nghe sương lam mờ đường dăng mơ... Chưa thả bờ yêu ra đón má. Môi xa vây người nơi xa xôi.

Hoài Thanh viết Một thời đại trong thi ca tháng 11-1941. Tháng 6 -1942 Xuân thu nhã tập in thơ của Nguyễn Xuân Sanh mới được ấn hành. Nhưng lý do chính Hoài Thanh không chọn thơ Nguyễn Xuân Sanh vì ông không ủng hộ khuynh hướng đổi mới tìm tòi thi ca của tác giả này. Sau khi nói gần nói xa một chặp, Hoài Thanh bộc lộ Các ông Bích Khê và Xuân Sanh noi theo gương Mallarmé, Valéry không thèm giữ gìn gì hết. Đôi khi hình như họ đã diễn tả được những điều sâu kín. Nhưng lời thơ rắc rối quá… Rồi dư ba ấy cứ kéo dài mãi. Cho đến gần hết thế kỷ 20.

Bây giờ nhìn lại, Xuân thu nhã tập dội lên như một hướng tìm tòi mới được giới văn chương đương thời coi là một hiện tượng văn học độc đáo, sự tiếp nối của phong trào Thơ Mới ở chặng đường cuối cùng của nó. Ở đây tình yêu, sự cô đơn, nỗi buồn với mọi cung bậc màu sắc đã được khai thác đến vỉa cuối cùng. Hai bài thơ Buồn Xưa và Bình Tàn Thu, Buồn Xưa nổi bật nhất. Nó hiện ra vẻ đẹp toàn bích và kỳ ảo của chủ nghĩa tượng trưng.

Lẵng xuân
Bờ giũ trái xuân sa
Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà
          ... Tỳ bà sương cũ đựng rừng xa
           ... Ngàn mây tràng giang buồn muôn đời.

Buồn Xưa như tiếng nhạc trầm buồn của hoa lá cỏ cây, của nhịp hải hà đầy quyến rũ đưa đẩy người ta vào thế giới của siêu thực trong sáng mà say đắm. Để cuối cùng chợt nhận ra rằng sau những quỳnh hoa và ngọc quế ảo não trong nỗi buồn không sao giũ được, không thể thiếu được bóng dáng của người xưa yêu dấu. Đó là chàng hoàng tử nghiêng mái tóc buồn đượm một làn mưa giữa ngàn mây tràng giang buồn muôn thuở. Tôi mường tượng chàng hoàng tử đó chính là Nguyễn Xuân Sanh. Khi viết bài thơ này ông mới 19 tuổi. Tôi đã xem thủ bút của Nguyễn Xuân Sanh viết cho ông Đỗ Lai Thúy hồi mùa hạ năm 2012. Cách đây 7 năm bài Bình Tàn Thu. Bình Tàn Thu hay không kém Buồn xưa. Ở đấy mùa thu thật đẹp không chỉ bởi sương mù héo lệ dặm đường hương mà còn là vẻ đẹp kỳ ảo của cung phi dăng bướm buồn nghê thường. Nhưng tôi cứ lấy làm tiếc sao Xuân Sanh không viết bài thơ thần của mình để người đời nhìn ngắm cái run rẩy đầy kiêu sa trong nét chữ của thi nhân một thời vang bóng và tiếng đời u huyền trực tiếp ẩn trong những ký tự mơ hồ của Buồn xưa. Xây mơ, Buồn xưa, Bình Tàn thu có lẽ là 3 bài thơ nổi trội nhất của thơ tượng trưng Nguyễn Xuân Sanh.

Trong Xuân thu nhã tập 1942 có một bài viết của 3 người. Đoàn Phú Tứ. Phạm Văn Hạnh. Nguyễn Xuân Sanh. Đến bây giờ vẫn còn để ta suy ngẫm về sự làm thơ. Thơ như giai nhân. Như đẹp. Như trời - Có rung động là có thơ - Thơ có thể có trong âm nhạc, hội họa, kiến trúc... và cả trong đạo lý -. Thơ = Trong = đẹp = thật.  Thơ là đạo: Đạo - âm + dương - Sáng tạo - rung động - thơ - đạo.  Thơ không cấm lúc nào cũng rõ nghĩa v.v...

Vào năm 1940-1941, Nguyễn Xuân Sanh viết tập Đất Thơm - theo thể thơ văn xuôi đã trích đăng trên báo Thanh Nghị số 37 ngày 16-5-1943, thể hiện cách tổ chức đặc sắc một bài thơ văn xuôi với những tiêu đề nhỏ và những suy tưởng thơ rộng mở của tác giả. Đây là một buổi chiều giữa xuân: Chiều nay ta chỉ yêu đồng xanh. Ta mộng cánh đồng vàng ... Đồng mọi nơi sắp chín. Sắp gặt vụ mùa. Chùm bông nặng chưa chín nghiêng nhành lúa trong hạt đã gần căng. Hương đặc lùa ra bờ ruộng cỏ... Ta dành buổi chiều nhớ cánh đồng vĩnh viễn. Những vần thơ tươi sáng và mới lạ. Bằng Đất Thơm, Xuân Sanh là nhà thơ đi tiên phong về thơ văn xuôi trên thi đàn Việt Nam hiện đại. Sau này, các nhà thơ tiếp tục con đường khai mở của Nguyễn Xuân Sanh. Năm 1964 ở miền Nam Thanh Tâm Tuyền đã cho ra đời tập thơ văn xuôi: Liên - Đêm - Mặt trời nhìn thấy. Thập niên cuối thế kỷ 20 và đầu 21, một số nhà thơ trẻ cũng sáng tác thơ văn xuôi như Nguyễn Quang Thiều, Dương Kiều Minh v.v... Thơ văn xuôi tiếp tục hành trình đi tìm cái mới.

Các nhà văn đương thời như Tế Hanh, Trinh Đường, Nguyễn Bao, Mã Giang Lân, Đỗ Lai Thúy v.v... không chỉ một lần cho rằng Nguyễn Xuân Sanh là người bắc nhịp cầu đầu tiên từ Thơ Mới sang thơ hiện đại, một hướng đi mới của Thơ Mới ở chặng cuối con đường của nó. Có người tỏ ý nuối tiếc rằng chàng thi sỹ của Buồn Xưa lại không đi tiếp con đường đổi mới thi ca vừa mới bắt đầu mà nhường việc ấy cho những người trẻ hơn tiếp tục như Nguyễn Đình Thi. Hồng Nguyên. Chính Hữu... Tôi cho rằng điều ấy cũng phù hợp với logic của sáng tạo văn chương. Sau Cách mạng Tháng 8/1945, Xuân Sanh làm chủ bút tuần báo Gió Mới của Tổng hội sinh viên cứu quốc. Sau tham gia lãnh đạo văn nghệ kháng chiến liên khu 4. Đến giữa năm 1949 về công tác ở Trung ương Hội Văn nghệ Việt Nam tại Việt Bắc. Từ 1954 đến 1989 liên tục tham gia Ban chấp hành Hội nhà văn Việt Nam. Có khi được giao làm Tổng thư ký. Sự thay đổi nghiệp đời như thế lẽ dĩ nhiên thế giới quan phải thay đổi, có lẽ làm cho ông chuyển từ siêu thực vốn đã bị phê bình sang phản ánh hiện thực cho an toàn hơn. Chuyện hay dở trong văn chương là chuyện của cả một đời người, đôi khi còn chưa dứt. Các tập thơ Tiếng hát quê ta (1947-1954). Sáng Thơ (1956-1960). Nghe bước vào xuân (1956-1960). Đất nước và lời ca (1970-1977). Tuyển tập Nguyễn Xuân Sanh (1936-1990) v.v... cả một đường thơ được nhẫn nại đắp nên để đi tới. Rất đáng được người đời trân trọng.

Vậy mà, khi đọc lời giới thiệu Con đường nửa thế kỷ thơ của Nguyễn Xuân Sanh do Tế Hanh viết từ 1987 đến 1991, tôi không sao tránh khỏi bị ngậm ngùi. Nhớ lại hồi 1941, Hoài Thanh đã nhắc nhở Tế Hanh như sau: Tệ hơn nữa, người muốn hưởng cái thú tàn nhẫn được thấy người yêu "đau đớn quằn quại"... sự thành thực của thi nhân không thể ngờ được... Tế Hanh có khắt khe lắm không khi vào năm 1991 rồi còn hạ một câu: có một số cái gì dường như còn chưa nhập cuộc, hay có thể nói đúng hơn chưa nhập cuộc hoàn toàn... Có một đôi cái gì do hoàn cảnh nào đó chưa nở rộ hẳn ra đón chúng ta. Thời bao cấp bảo gì thì bảo mà bảo nhà văn chưa nhập cuộc thì ... thôi rồi! Chừng ấy của cả đời thơ Nguyễn Xuân Sanh mà bảo chưa nhập cuộc được chăng?

Nhận xét của Tế Hanh chỉ nên dành cho một số bài thơ đã thuộc về dĩ vãng như Trong sương đêm (1947), Ghi câu chuyện nhỏ (1948), Rừng vui (1949). Từ siêu thực trầm mặc thơ và đạo kết liền nhau đến con đường thơ phản ánh hiện thực là một sự quặn đau dữ dội để phục sinh không dễ dàng chút nào. Dường như đó là con đường chung của nhiều nhà thơ có thành tựu trong phong trào Thơ Mới đi theo Cách mạng, kể cả những thi tài như Huy Cận, Chế Lan Viên. Họ phải mất hàng chục năm để phục sinh. Cả hai người ấy, nhất là với Chế Lan Viên, đến lúc phục sinh thì lập tức nở rộ. Như cuộc diễu hành chiến thắng của nhiều tập thơ hay. Nguyễn Xuân Sanh không có được cái may mắn ấy. Chặng đường phục sinh của thơ ông dài đằng đẵng đến hết thế kỷ 20. Thơ ông không chín lại theo mùa như các bạn thơ cùng thời mà chín từng bài. Đôi khi từng câu một. Đôi khi khoảng cách giữa sự chín ấy lại thật là dài…

Bao nhiêu tình ý của một cuộc đời. Nhưng tôi nhận thấy hễ khi nào Nguyễn Xuân Sanh viết về hoài niệm, về kỷ niệm đã qua, thường có được những câu thơ hay nhất. Và số đó cũng không phải là nhiều, nếu không muốn nói là ít ỏi của lao động vất vả một đời người. Dòng thơ về hoài niệm, kỷ niệm đựng nhiều thơm thảo nhất trong thế giới thơ Nguyễn Xuân Sanh.

Đó là hoài niệm về biển miền Trung sóng vỗ bạc đầu, rạt rào nỗi nhớ quê hương, nghe như bức tranh thiên nhiên đã để lại lâu lắm rồi bên trời Thu.

Mũi Én như bàn tay hứng trăng
Trút ánh đêm Thu bãi cát bằng
Sóng vỗ bạc đầu quanh mỏm đá
Rạt rào nghe rõ tiếng đêm chăng?

                           Nhớ biển 2-1961.

Đó là cảnh mùa xuân bâng khuâng ở chùa Hương Tích.

Xuân chưa về, núi chưa mưa
Nhưng bên ta khắp rừng mơ nở rồi.

                    Trước xuân thăm chùa Hương Tích 12-1962.

Đó là kỷ niệm trên Nậm Tà Lê ở Trường Sơn. Rừng, sông, núi như nói hộ lòng người ra trận mà vằng vặc nỗi niềm với đất nước quê hương.

Tôi cầm dăm cánh lá bay
Thả xuôi con nước rừng ngây ngất chiều
Con sông vằng vặc nhìn ai
Nhìn khuya ngọn núi, nhìn mai con đường.

               Trên một ngả đường đất nước 9/1973.

Đó là ngọn đồi Mái Nhà ở miền Trung nơi con trai nhà thơ đã ngã xuống thời chiến tranh. Khi hòa bình ông đến đây chỉ gặp được gió không gặp được người.

Đá hiện lên gương đồi xanh
Nghe như ngan ngát hương lành cỏ tơ
Ta đi cho đến bao giờ
Mà trời cứ mở gió trưa, gió chiều

          Thăm ngọn đồi nơi con từng chiến đấu 6/1/1976.

Đó là trở lại đường cũ tuổi thơ ở thành phố biển Quy Nhơn khi ông đã  về già, những kỷ niệm của đời người tưởng đã rất xa mà lại sẫm màu hiện tại.

Về đây cả một cuộc đời
Tim ta tìm lại bồi hồi ngõ đêm
Trên kí ức một hiên thềm
Biển vui thở sóng dãy đèn ngã tư

          Thăm đường cũ ngày tuổi nhỏ, quãng sau 1980.

Nguyễn Xuân Sanh còn nổi tiếng là một dịch giả thơ có uy tín. Cùng với Xuân Diệu, Huy Cận, Tế Hanh, Hoàng Trung Thông, Đào Xuân Quý... Một thế hệ vàng trong việc chuyển ngữ từ tiếng Pháp sang tiếng Việt thơ của các nhà thơ nổi tiếng cả ở 5 châu lục, nhất là các nhà thơ phương Tây. Heinrich Heiner, G.Apollinaire, Paul Éluard, Adam Mikiewicz, Petofi Sándor... Hai trăm bài thơ dịch của Nguyễn Xuân Sanh góp phần vào việc xây dựng nền tảng cho văn học dịch ở lĩnh vực thơ ca. Ông dịch thơ tây mà bình di dễ hiểu. Nhớ mãi cảnh mùa thu thân thuộc chẳng khác gì làng quê Việt Nam trong thơ Apollinaire, khi người nông dân dắt bò đi trong sương mù buổi sớm, nó che nỗi thẹn thùng của thôn xóm nhỏ. Người nông dân vừa bước đi vừa ngâm nga bài ca về tình yêu và lòng bội bạc để kết thúc bằng một câu cảm thán. Ôi! mùa thu đã giết chết mùa hè. Giữa sương mù hai bóng xám ra đi.

Nghề làm văn, làm thơ là nghề của ân tình. Nếu không thế thì làm để làm gì nữa. Tôi biết Nguyễn Xuân Sanh là nhờ học thuộc lòng bài thơ Vườn dừa của ông trong sách tập đọc lớp 4 hồi năm 1960. Khi vào đại học năm 1968 biết thêm Buồn xưa. Một trong số ít bài thơ được nhớ vì quá đặc biệt, không giống một ai. Thơ đã đành rằng quý một đằng vì hồn người ở đấy. Nhưng khi tuổi càng già đi với bao trải nghiệm nhiều khi đắng cay ở cuộc đời này thì càng quý trọng tình người, tình đời, tình bạn bè... Càng yêu quý và trân trọng, đồng cảm với Nguyễn Xuân Sanh. Ông quê gốc ở Quảng Bình nhưng sinh ra ở Đà Lạt. Thời đầu những năm 1930, Cụ thân sinh làm thừa phái ở Quy Nhơn. Vì vậy Nguyễn Xuân Sanh học ở trường Quốc học Quy Nhơn. Trường có thầy Tú Thọ, thân phụ nhà thơ Xuân Diệu. Thầy Tú dạy chữ nho vào thứ 5 hàng tuần. Xuân Diệu cũng học ở trường đó trước Nguyễn Xuân Sanh mấy năm. Tình bạn giữa Chế Lan Viên và Nguyễn Xuân Sanh thật cảm động. Trong thư Chế Lan Viên gửi ông ngày 20-4-1988 có viết: "Sanh à, mình có về Bình Định, tìm ra cái nền nhà mình, tức là nhà Sanh bên cạnh". Nguyễn Xuân Sanh và Chế Lan Viên khi ở Quy Nhơn cũng như khi về nhà bố mẹ ở sát bên nhau, ngoài cửa đông thành cổ Bình Định, thị trấn An Nhơn, thường nói chuyện với nhau về Hàn Mạc Tử. Nhớ lại việc in Điêu Tàn, hồi 1957, Chế Lan Viên viết. Hồi đó Sanh đứng ra xem in Điêu Tàn, và lo cho cả việc đòi nợ của Thái... Thất Lang Nam kỳ bây giờ. Sanh có nhớ bữa hai đứa đi đòi được 20 đồng, Sanh dẫn Hoan đi may brique?.

Năm 1937, Chế Lan Viên gửi Điêu Tàn từ Quy Nhơn ra Hà Nội cho Nguyễn Xuân Sanh. Một buổi chiều, Xuân Sanh liều mạng xông bừa vào nhà in Thụy Ký ở phố Hàng Gai. Vì cái liều ấy mà được nhận in Điêu Tàn với giá 50đ. Nguyễn Xuân Sanh đã lo sốt vó vì số tiền thật là quá to. Xuân Diệu nhận sắp xếp lại trật tự các bài thơ trong Điêu Tàn. In xong, Xuân Sanh gói ghém Điêu Tàn gửi vào Quy Nhơn cho Chế Lan Viên để phát hành ở trong Nam, còn ông tự đi phát hành ngoài Hà Nội để có tiền trả cho Thụy Ký. Điêu Tàn, một trong những tập thơ nổi tiếng nhất thế kỷ 20 đã bước ra cuộc đời một phần nhờ tình bạn như vậy đấy.

Huy Cận trong Hồi ký song đôi có kể một kỷ niệm đáng nhớ của ông và Xuân Sanh, khi họ mới chập chững bước vào nghề văn. Hồi mùa hè 1936, Huy Cận có mấy bài bình văn được đăng báo Sông Hương do Phan Khôi làm chủ bút, Hoài Thanh làm biên tập. Xuân Sanh khuyên Huy Cận đến thăm tòa báo. Vào một buổi chiều, hai người tìm đến trụ sở báo ở phố Gia Hội. Hoài Thanh tiếp họ. Nói chuyện văn học hợp gu lắm. Cả hai người rào trước đón sau quanh co mãi rồi cũng hé ra cái chủ ý muốn tiền nhuận bút. Nhưng cả hai ông phải về tay không, vì những bài của Cận chỉ là những bài lai cảo không được trả tiền.

Cuối tháng 5-2019, tôi đi tìm gặp Nguyễn Xuân Sanh, với cái vinh hạnh một kẻ hậu thế được trực tiếp kiến diện người cuối cùng của phong trào Thơ Mới. Nguyễn Xuân Sanh mấy năm nay về nương tựa tại nhà con gái ông ở phường Khương Trung, đường Tô Vĩnh Diện. Tôi đã xem nhiều sách của các cụ nhà ta ngày xưa cũng như các học giả thời hiện đại về kinh thành Thăng Long thấy rất ít nói về làng Khương lắm! Khương Hạ, Khương Trung, Khương Thượng xưa là đất trồng rau, đặc biệt là trồng gừng để phục vụ cho việc làm thuốc trong Hoàng Thành. Ở đây có cả một xóm người Chăm theo quan quân triều đình ra đây lập nghiệp từ hồi thế kỷ 13, 14. Sau này thời thực dân, phát sinh một số gia đình làng Khương làm nghề thợ nguội ở trên phố hàng Thiếc... Cư dân cả 3 làng đều là tầng lớp bình dân cả. Khác với bên kia sông Tô Lịch - bên làng Mọc, làng Quan Nhân... toàn là đất học và đất làm quan. Có nhiều danh sỹ người gốc vùng đấy... Trong cuốn Hà Nội Chỉ Nam có phụ đề bằng tiếng Pháp Guide de Hanoi được Nghiêm Hàm ấn quán in 1923 thì nếu đi xe điện từ Bờ Hồ qua Hàng Gai, Hàng Bông rồi Thái Hà ấp (sào quật của các cô đào) đến Ngã Tư Sở vào Hà Đông cả hai đường giá vé hạng ngồi đệm da người lớn 7 xu, trẻ con 3 xu. Đến Ngã Tư Sở xuống tàu đi bộ vào Khương Trung. Còn nếu đi xe ngựa cao xu thì phải thuê nửa ngày tại tiệm Maison Tricolore ở 46 Hàng Lọng hết 6 đồng bạc Đông Dương. Xa xôi quá. Tôi làm một tour taxi đến đường Tô Vĩnh Diện thì dừng lại xuống xe đi bộ. Đoạn đường không phải thật là dài. Nhưng cũng đủ để tôi ôn lại đường đời đường thơ qua một thế kỷ mà gió mưa đã đưa chàng hoàng tử trong Buồn xưa đến cư ngụ tại nơi xa xôi và hẻo lánh nhất của kinh thành xưa. Tôi đã đi theo chàng qua nhiều địa chỉ ở cuối bài thơ. Đà Lạt. Quy Nhơn. Huế. Hà Nội. Vùng than Quảng Ninh. Việt Bắc. Bungari. Rumani. Paris. Mascơva. Bắc Kinh... và sáng hôm nay tôi đi tiếp đoạn đường có lẽ là đoạn đường cuối cùng của chàng. Đời người ta sao phiêu diêu thế nhỉ? Đến nhà rồi. Đó là một tòa nhà hai tầng. Vẻ bề ngoài nhỏ mà yên tĩnh và thanh lịch. Ở tầng trệt hình thành 5 không gian sống không có vách ngăn đầy đủ. Bước vào nơi để xe đạp, xe máy và giày dép. Tiếp theo bên trái là nơi đặt 4 chiếc ghế giả da đã cũ dùng để tiếp khách. Một bên là tường. Một bên dựa vào chiếc tủ đứng bằng ván công nghiệp. Trong khung kính phía trên tủ có đặt ảnh chân dung của Vũ Tú Nam và Nguyễn Xuân Sanh. Đằng sau cái tủ ấy rộng chừng hơn 1m bề ngang đủ kê một chiếc giường và bàn làm việc cho nhà văn Nguyễn Cẩm Thạnh. Sinh 1927. Phu nhân của nhà thơ. May mắn diện tích nhỏ này có 1 khung cửa sổ đón ánh sáng từ bên ngoài vào. Tôi xin phép chị Nguyễn Thị Việt Triều, người con gái hiếu thảo thay mặt cả gia đình chăm sóc nhà thơ và vợ ông lúc cuối đời, cho tôi được vào kiến diện ông. Đi qua một khu bếp nhỏ chừng vài m2 nhiều đồ đạc bước vào ngăn thứ 5 với một khoảng sân trời nhỏ để đón ánh sáng tự nhiên. Kế đến là diện tích vừa đủ đặt chiếc giường. Màn buông kín và có nhiều cặp nhựa nhỏ kẹp theo mép đỉnh màn. Trong màn là một cụ già đầu tròn, tóc cắt sát da đầu, mắt nhắm, phía trên một góc màn là dây tiếp thuốc. Có 1 dây đưa thẳng vào bụng để truyền thức ăn. Tự dưng tôi ứa nước mắt. Đó là nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh - chàng hoàng tử của Buồn xưa, người tôi đã thấy đẹp trai, hào hoa phong nhã trong những bức ảnh hồi kháng chiến chống Pháp ở chiến khu Việt Bắc và những năm sau hòa bình của nhà nhiếp ảnh Trần Văn Lưu. Im lặng choán chỗ không gian sống. Tôi không nhớ khi ngồi ở chỗ ghế khách bên ngoài hay ở đây, hay ở ngoài ngõ vắng 102, tôi đã đọc thật to: Em nhớ trái dừa tròn, Của quê em Bình Định, Lấy ngón tay em tính, Ngày trở lại vườn dừa. Mắt nhà thơ đương nhắm nghiền chợt mở ra ở phía bên trái. Tôi đọc tiếp thật to: Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà bật ra từ vô thức. Tôi như thấy khóe miệng của người trăm tuổi ấy nở ra một nụ cười khô héo mà thật phong nhã, kiêu sa. Vâng! Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà. Và trong góc chật hẹp của gian phòng nhỏ bé này như vang lên khúc Dạo chơi của Paul Éluard qua lời của người đang im lặng nằm bất động trong cái màn mà đỉnh của nó đính đầy kẹp nhựa định mệnh kia.

Bé hơn một quốc gia
Nhưng đất rộng vô song
Đất thuộc về tôi nơi đây và nơi đó
Ở bất cứ nơi đâu khác nữa...

Hà Nội, tháng 5 đến tháng 8 -2019
  KHUẤT BÌNH NGUYÊN

Nguồn: Văn Nghệ





Thứ Sáu, 6 tháng 9, 2019

Nỗi oan của môn Văn

Tôi hay đọc sách từ nhỏ, nhưng những năm ở cấp I, vẫn sợ nhất là văn miêu tả.

Tôi chỉ bắt đầu yêu những tiết Văn từ lúc vào cấp II. Trường Trung Tự, Hà Nội, hồi ấy còn dáng dấp trường làng, không có thư viện để đọc sách văn học. Cô Hương, giáo viên chủ nhiệm kiêm cô dạy Văn đã cho chúng tôi những giờ học rất khác.

Tiết học Giáo dục công dân được thế bằng những buổi đọc truyện "Những tấm lòng cao cả" của Edmondo De Amicis. Còn trong giờ Văn, cô luôn dành 15 phút cuối đọc từng chương của truyện "Totto-chan, cô bé bên cửa sổ" và nhiều tác phẩm nổi tiếng khác cho cả lớp nghe. Tới bây giờ, dù đã qua một phần tư thế kỷ, tôi vẫn nhớ về các nhân vật của "Những tấm lòng cao cả", từ cậu bé Garone hào hiệp, luôn giúp đỡ mọi người tới Giulio lén thức đêm giúp bố làm việc.

Tôi đã luôn mơ mộng về ngôi trường đặc biệt Tomoe và phong cách giáo dục của thầy hiệu trưởng Kobayashi Sosaku, nơi học sinh luôn được tôn trọng và được tự do phát huy cá tính, khả năng bẩm sinh của mình. Tôi đã ấn tượng với những câu chuyện nhỏ này còn hơn cả các tác phẩm đã học trong 12 năm đèn sách.

Tôi đã sợ văn miêu tả hồi cấp I vì tôi không thích mèo, không thích lợn và cũng không giỏi quan sát cây cối. Trong khi bài tập thường xuyên yêu cầu tả loài vật và các loại cây. May thay lên cấp II, tôi được gặp cô Hương. Nhưng khi hết cấp III, nỗi sợ môn Văn trở lại khi tôi luyện thi khối D vào đại học. "Lò" luyện thi ở khu vực Đại học Bách Khoa nêm cứng học sinh cả ngày đông giá rét hay mùa hè bức bối. Giờ học bắt đầu từ 7h30 sáng. Chủ lò luyện thi đuổi muỗi bằng cách hun những lò than. Chúng tôi ngồi chen chúc trong những phòng học thiếu sáng, ngáp ngắn ngáp dài.

Thầy đi đi lại lại, đọc, phân tích hết tác phẩm này tới tác phẩm khác, mọi người thi nhau chép. Tôi thường xuyên ngủ gật, giật mình tỉnh dậy lại cắm cúi chép một cách vô thức. In vào đầu tôi là công thức "yêu căm chiến lạc" - tức các nhân vật và tác phẩm cần hội tụ đủ bốn phẩm chất: yêu nước, căm thù giặc, tinh thần chiến đấu và lạc quan. Thầy bảo, mỗi tác phẩm sẽ lên án một giai cấp nào đó, ca ngợi một thành tích nào đó. Và cái giỏi của nhà văn là nêu bật được một điển hình, hoặc đề cao chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng.

Cách "luyện thi" Văn ấy rất xa lạ với lối cảm thụ văn chương mà tôi được dạy từ ông nội - nhà văn Bùi Hiển. Qua những cuộc chuyện trò thường ngày với ông, tôi hiểu rằng các nhân vật trước khi là anh hùng, là điển hình, họ phải được, phải là những con người bình thường trước đã. Như cu Tý trong "Ngày công đầu tiên của cu Tý", là em bé vật nhau với cu Tèo, "đú đởn như con hai chó con", "đặt mình là ngủ tít thò lò, chốc chốc lại chép miệng nhai tộp tộp như người lớn" trước khi ngượng nghịu dắt trâu ra đồng.

Có lần tôi nghêu ngao đọc bài thơ nổi tiếng ca ngợi sự hy sinh của một em bé giao liên trong chiến tranh, ông kể cho tôi nghe hồi ở chiến trường Thừa Thiên chống Pháp, bộ đội đã hội ý với nhau cần chấm dứt việc đưa các cháu nhỏ 14, 15 tuổi làm liên lạc trong các trận đánh. Ông cũng chính là người đã nhiều lần góp ý với các đồng nghiệp ở Hội Nhà văn, rằng ông không thích hình tượng chị Út Tịch mang bụng "chang bang" đi đánh giặc. Theo ông, tinh thần của chị rất đáng quý, nhưng đáng lẽ chồng chị hoặc anh em đồng đội phải can ngăn.

Ông tôi chăm viết nhật ký. Ông ghi chép liên tục hơn 60 năm, từ những năm 1940 khi còn thanh xuân cho tới lúc sức khỏe yếu không thể viết được nữa. Ông rất thích quan sát những con người bình thường nhưng luôn cố gắng vươn lên trong cuộc sống. "Gắng hiểu thêm con người, vấn đề cuối cùng vẫn là ở đó", ông dặn dò các thành viên trong nhà có ý nối nghiệp mình.

Một cách tự nhiên, học Văn, đọc sách đối với tôi là để hiểu thêm về con người, để học cách làm bạn với mọi người, với những niềm vui và cả những uẩn khúc của họ. Thời bao cấp khốn khó, có lần khu nhà tôi bắt được một tên trộm. Các thanh niên nhanh tay trói ngay anh ta và hăm he định đánh. Ông tôi thấy ồn ào liền chạy từ gác tư xuống. "Dừng tay lại. Các cháu không được đánh người ta. Nếu anh này đói quá, mình cho anh ta chút cơm rồi thả người ta đi", ông nói với mọi người. Từ cuộc sống cho tới sáng tác, ông truyền cho tôi và những thành viên trong gia đình tinh thần hướng thiện, hướng bản thân và những người xung quanh về tin yêu và hy vọng.

Bảo, con trai út của tôi tuần trước nhập học lớp năm. Cháu vẫn tự chuẩn bị sách vở cho khai giảng mới, riêng năm nay có ngoại lệ, tôi dành mươi phút ngồi với cháu. Trang 174 trong sách Tiếng Việt lớp năm có bài chính tả "Chợ Ta-sken" của nhà văn Bùi Hiển, ông nội tôi. Tôi chỉ cho cháu và nhắc lại kỷ niệm: "Anh Hai từng viết chính tả bài này của cụ được 9 điểm. Con thi đua với anh nhé". Bảo vui vẻ nhận lời "thách đấu". Thời tôi đi học, sách giáo khoa lớp sáu còn có bài "Ngày công đầu tiên của cu Tý", cũng do ông nội sáng tác. Tôi còn nhớ cảm giác hồi hộp, mong chờ từng ngày cô giáo dạy tới truyện đó.

Đề thi Ngữ Văn của kỳ thi THPT quốc gia vẫn yêu cầu phân tích về thể thơ, cách sử dụng phép điệp, bút pháp, hình tượng văn xuôi, những kỹ năng của các nhà phê bình, lý luận văn học chuyên nghiệp. Không ngạc nhiên khi số thí sinh đạt điểm 1 trở xuống môn Ngữ Văn năm nay cao gấp 2,5 lần năm 2017 và gấp 1,6 lần năm 2018.

Môn Văn sẽ tiếp tục là nỗi khiếp sợ với nhiều thế hệ học sinh khi nó xa rời chức năng chân chính của văn học: giúp ta hướng thiện, giúp khám phá những vấn đề phức tạp của xã hội và những bí ẩn trong tâm hồn con người. Dường như đang có sự lẫn lộn giữa việc học Văn để có kỹ năng viết tốt và học Văn để tưới tắm cho nhận thức, thẩm mỹ và nhân cách của học trò.

Môn Văn không có lỗi. Nó cần được giải oan. Một nền giáo dục còn mơ hồ về mục đích sẽ biến không chỉ môn Văn mà còn nhiều môn học khác thành gánh nặng cho học sinh chứ không phải là hành trang vào đời. Chúng ta có quyền đòi hỏi và chờ đợi những người đang chủ trì việc xây dựng chương trình giáo dục phổ thông mới sẽ nhìn vào những điểm 1 của môn Văn để kịp thời điều chỉnh nội dung và cách học, để mỗi mùa khai giảng lại là một mùa vui.

CẨM HÀ
Theo VNEX


Thứ Năm, 5 tháng 9, 2019

Xuân Quỳnh - Lưu Quang Vũ: Bản lề cánh cửa huyền thoại

Những bài thơ, vở kịch của họ đã không còn là những tác phẩm đơn lẻ. Chúng trở thành một bảo tàng, về một giai đoạn sôi động, khi đất nước bước ra từ cuộc chiến tranh và cho thấy diện mạo mới của xã hội hậu chiến.

29-8-2019 – Hơn 30 năm sau ngày mất vì vụ tai nạn gây chấn động, đôi thi ca kịch nghệ Xuân Quỳnh – Lưu Quang Vũ vẫn tiếp tục tạo ra một lực hấp dẫn cho người yêu văn chương, nghệ thuật. Những bài thơ, vở kịch của họ đã không còn thuần túy là những tác phẩm đơn lẻ. Chúng đã trở thành một bảo tàng, về một giai đoạn sôi động, khi đất nước bước ra từ cuộc chiến tranh và cho thấy diện mạo mới của xã hội hậu chiến.
Vợ chồng Xuân Quỳnh - Lưu Quang Vũ - Ảnh tư liệu gia đình

Bản thân Xuân Quỳnh – Lưu Quang Vũ cũng trở thành biểu tượng cho đời sống tinh thần thời bao cấp. Sự ra đi của họ đúng thời điểm đất nước bắt đầu bước vào đổi mới, giống như một cặp bản lề cho cánh cửa mở vào hiện tại của chúng ta. Ánh hào quang của họ, qua bốn thập niên, gợi đến một huyền thoại trọn vẹn của thời bao cấp.

Đại cảnh và hậu trường

Vào giai đoạn hoàng kim của sân khấu kịch nói thời bao cấp, Lưu Quang Vũ đã tạo ra hào quang của mình bằng khoảng 50 kịch bản sân khấu thuộc các loại hình kịch nói, chèo, cải lương. Chỉ trong vòng 10 năm, các vở kịch của Lưu Quang Vũ trở thành diễn đàn xã hội, thu hút sự quan tâm của đông đảo các giai tầng. Chúng cung cấp một không gian chắt lọc hiện thực đời sống, như các vở Lời nói dối cuối cùng, Điều không thể mất, Tôi và chúng ta… nhưng cũng không thiếu chất thơ bay bổng, thậm chí chứa đầy sự tưởng tượng như Hoa cúc xanh trên đầm lầy, Chết cho điều chưa có… Sự sáng rực ấy chấm dứt đột ngột bằng sự ra đi, tạo ra một huyền thoại về định mệnh, như để đáp ứng quan niệm “chữ tài liền với chữ tai một vần”.

Ở góc độ người bạn đời, Xuân Quỳnh bổ trợ vào hào quang của Lưu Quang Vũ khía cạnh người đồng hành, tri kỷ. Những câu thơ của Xuân Quỳnh giống như các trang nhật ký mang tính chất “câu chuyện hậu trường” cho những lớp diễn sân khấu đại cảnh của Lưu Quang Vũ, tạo ra cảm giác hoàn chỉnh về đời sống một gia đình nghệ thuật. Dù trước khi đến với Xuân Quỳnh, Lưu Quang Vũ đã có những nàng thơ, những tình yêu và “câu chuyện nhỏ” trong những tập thơ đã và chưa được in vào lúc ấy, trong nhiều năm, chân dung Lưu Quang Vũ được mặc nhiên như một mảng dương bên cạnh phần nữ tính của một trái tim “làm sống lại những hồng cầu đã chết” (Tự hát – Xuân Quỳnh). Hai nửa chân dung được xã hội lúc ấy đóng khung thành những huyền thoại công dân và huyền thoại nghệ sĩ.

Những vở kịch và câu thơ nhân hậu thời chiến của họ khắc khoải một ý thức công dân. Chính Lưu Quang Vũ, trong các vở kịch của mình, lại tỏ ra trung thành hơn hết với những định đề về chủ nghĩa dân tộc, về bản sắc Việt Nam được thế hệ cha ông mới tạo ra vào đầu thế kỷ XX. Nhà soạn kịch viết ra các kịch bản đề tài lịch sử theo kiểu sử thi, cài cắm các thông điệp chính trị chính thống trong hoàn cảnh đất nước hậu chiến vẫn ngổn ngang xây dựng và hai cuộc chiến tranh biên giới. Ông hoài vọng quá khứ đầy lãng mạn qua các vở Ngọc Hân công chúa, Sống mãi tuổi 17, Chết cho điều chưa có.

Lưu Quang Vũ không tìm kiếm hiện thực tuyệt đối. Xét cho cùng, ông vẫn nằm trong hệ mỹ cảm của chủ nghĩa lãng mạn mang màu sắc công xã. Điều này cũng dễ dàng nhận thấy trong những bài thơ về thiên chức phụ nữ của Xuân Quỳnh. Dường như các bài thơ đều tràn ngập nỗi băn khoăn, những câu hỏi tác giả tự đặt ra cho bản thân, kiểu “Trái tim buồn sau lần áo mỏng/ Từng đập vì anh qua những trang thơ” (Thời gian trắng), vẫn trau chuốt một thẩm mỹ song trùng.

Sức mạnh của hoài niệm

Bên cạnh các vở kịch chính luận chất chứa những câu thoại mạnh bạo, đậm gắt tính thế sự, kiểu “Chúng ta đã qua thời đại đồ đá, thời đại đồ đồng và bước vào thời kỳ đồ đểu” (Ông không phải là bố tôi), “Cán bộ là đầy tớ của nhân dân. Đầy tớ mà không tốt thì nhân dân sẽ thay đầy tớ khác (Lời thề thứ 9) – không khỏi khiến người xem giật mình vì sự thẳng thắn đến quyết liệt – Lưu Quang Vũ tìm lại nguồn cội dân gian cả Việt Nam lẫn phương Đông, như một cách tung hứng các thông điệp trào phúng hoặc có tính ngụ ngôn như Hồn Trương Ba, da hàng thịt; Nàng Sita; Ông vua hóa hổ…

Có độ lùi thời gian, những chất liệu dân gian lại tỏ ra có sức sống hơn cả. Chúng thể hiện dấu vết của những huyền thoại cộng đồng, bên dưới những phát lộ bề mặt dễ thấy. Người ta chợt nhớ, Lưu Quang Vũ là con của nhà thơ Lưu Quang Thuận – người từng có mặt trong phong trào Thơ Mới, cũng là một phong trào mang dáng vẻ huyền thoại của thời thuộc địa. Tuy nhiên, dấu vết giải thuộc địa lại không diễn ra trực tiếp ở Lưu Quang Vũ, mà đến thơ và kịch của tác giả này, tâm thế hiện đại nổi bật, khiến chúng đĩnh đạc tuyên ngôn một tư cách độc lập. Tứ thơ “Ôi tiếng Việt như bùn và như lụa/ Óng tre ngà và mềm mại như tơ” (Tiếng Việt) từng gây tranh cãi về dị bản ở chữ “như bùn”, lại chính là một cảm thức về “nhãn tự”, dưới cái vỏ vừa mịn màng vừa thô ráp, được khởi từ thơ kháng chiến chống Pháp, đến Lưu Quang Vũ, đã thành một tư duy mang dáng dấp triết lý thế hệ.

Những bài thơ tình của Lưu Quang Vũ viết về “những người đàn bà không có tên” hay những góc đô thị hoang vu “viển vông cay đắng u buồn”, sóng đôi với những đô thị “Đường cuốn bụi bờ đê tràn ngập gió/ Những phố phường lầm lụi với lo toan” của Xuân Quỳnh, thực tế đang cung cấp một phông cảnh cho sự hoài niệm của độc giả hôm nay về Hà Nội gần nửa thế kỷ trước.

Dường như những câu thơ sẽ đọng lại ở những cuốn sổ thơ nho nhỏ, ở những trí nhớ thầm thì, những vở kịch sẽ khó còn tạo ra độ phủ dụ ma mị thuở nào khi cạnh tranh với các thể loại khác hiện nay. Nhưng các huyền thoại là gì, nếu chẳng phải chúng luôn được bồi đắp bằng một nỗi khao khát nồng nhiệt tự thân, “trên ngày tháng, trên cả niềm cay đắng”?

NGUYỄN TRƯƠNG QUÝ




Nhà văn làm nghề gì?

Nhà văn làm nghề gì? Câu hỏi đặt ra có vẻ hơi lạ tai, nhưng lại không mâu thuẫn chút nào hết. Đa số các nhà văn, nghề chính của họ không phải là viết văn, mà là một nghề hoàn toàn khác, hoặc trước khi đến với văn chương, họ đã làm vô số những nghề rất xa với việc viết.

Raymond Carver là một tác giả truyện ngắn lừng danh của nước Mỹ. Trước khi đến với văn chương và trong giai đoạn đầu, Raymond Carver làm bảo vệ cho một bệnh viện. Nhà văn quá nghèo, lúc nào cũng trong tình trạng thất nghiệp, kiếm được một chân bảo vệ bệnh viện là đã sung sướng nhất đời. Vì làm bảo vệ theo ca, những lúc rảnh rỗi, ông liền tranh thủ viết.
Từ trái qua: Các nhà văn Gacía Márquez, Haruki Murakami và Coetzee.

Vừa  gác đêm, vừa nuôi mộng văn chương nhưng Raymond Carver đã nhanh chóng thành công. Khi có người hỏi sao ông không viết tiểu thuyết mà chỉ viết truyện ngắn, Raymond Carver đã trả lời rằng, ông quá nghèo và đâu có nhiều thời gian.

Với truyện ngắn, ông có thể quay vòng nhanh, viết xong đăng báo có tiền nuôi gia đình ngay, chứ đợi hoàn thành một cuốn tiểu thuyết thì sẽ... chết đói! Và cứ nghĩ mà xem, với một anh bảo vệ bệnh viện thì lấy đâu ra thời gian để viết một cuốn sách thật dài, truyện ngắn là thể loại nhà văn canh tác phù hợp trong bối cảnh ấy.

Nhà văn Haruki Murakami, người Nhật Bản, trước khi viết văn đã từng làm chủ một quán bar chuyên chơi nhạc jazz, điều này giải thích cho việc trong các tác phẩm của Murakami có rất nhiều âm nhạc và tác giả thường cho nhân vật nghe một bản nhạc gì đó, ưa thích là nhạc jazz. Có lẽ dấu ấn của một thời làm một công việc khá xa lạ với văn chương đã giúp ích cho Murakami. Những đoạn ông miêu tả quán bar trong các tiểu thuyết mang nhiều dấu ấn kinh nghiệm và cảm xúc của một thời kinh doanh của ông.

Có lẽ làm báo là công việc gần gũi với văn chương nhất của các nhà văn. Gacía Márquez làm báo trong nhiều năm và là một tay cự phách. Ông là cây bút viết phóng sự nổi tiếng và từng làm phóng viên thường trú ở nước ngoài cho nhiều tờ báo, trong đó có hãng thông tấn Prensa Latina của Cu Ba và trở thành bạn thân của Fidel Castro.

Hemingway làm phóng viên cho một báo địa phương, tờ The Kansas City Star. Dù thời gian làm cho tờ báo này rất ngắn nhưng đã ảnh hưởng rất lớn đến văn phong của Hemingway trong suốt sự nghiệp của ông. Nếu ai đã từng đọc các tác phẩm nổi tiếng của Hemingway như “Giã từ vũ khí”, “Chuông nguyện hồn ai”, “Ông già và biển cả”... sẽ nhận thấy văn Hemingway thường là các câu ngắn, mở đầu cũng ngắn, ưa dùng thứ tiếng Anh ấn tượng, là một phong cách rất gần gũi với báo chí. Lừng lẫy ở sự nghiệp văn chương với giải Nobel năm 1954, Hemingway còn được vinh danh là nhà báo giỏi nhất trong 100 năm của tờ The Kansas City Star.

Ở Việt Nam, rất nhiều nhà văn đồng thời là các nhà báo. Thời tiền chiến, các nhà văn như Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Vũ Bằng, Ngô Tất Tố... đồng thời cũng là các nhà báo lừng danh. Vũ Trọng Phụng được phong danh hiệu “ông vua phóng sự đất Bắc” với những bài viết đi sâu vào tìm hiểu đời sống nghèo khó của người dân đô thị.

Ngoài một sự nghiệp văn chương với những tác phẩm lừng danh như các tiểu thuyết “Số đỏ”, “Giông tố”... gia sản báo chí của Vũ Trọng Phụng cũng rất đáng kể với các tập phóng sự “Cạm bẫy người”, “Kĩ nghệ lấy Tây”, “Cơm thầy cơm cô”...

Còn Vũ Bằng vừa viết văn, vừa là phóng viên kiêm ông chủ của nhiều tờ báo có tiếng. Ông yêu những tờ báo của mình đến mức, khi không có giấy in báo, Vũ Bằng đã về nhà mẹ, nài nỉ bà cho vay tiền mua giấy để in báo. Với sự đam mê và năng nổ, cùng với tài năng, Vũ Bằng đã trở thành một trong những nhà báo xuất sắc và năng động nhất của báo chí Việt Nam giai đoạn nửa đầu thế kỉ XX. Về nghề báo, ông có một tập hồi kí rất có giá trị: “Bốn mươi năm nói láo”.

Ngô Tất Tố xuất thân là một nhà Nho nhưng ông viết báo cho rất nhiều tờ báo khác nhau và đã viết hàng nghìn bài báo, nổi trội nhất là mảng tiểu phẩm và phóng sự với gần 30 bút danh, có người nói là hàng trăm bút danh, điều đó đã cho thấy sức làm việc, sức viết đáng nể của tác giả “Tắt đèn”, “Lều chõng...”.

Đến sau này, thời chiến tranh, các nhà văn đồng thời là nhà báo, chiến sĩ cũng không hiếm. Nhà văn Nguyễn Thi khi công tác ở Tạp chí Văn nghệ Quân đội đã xung phong vào Nam chiến đấu và trở thành phóng viên chiến trường. Ông đã hi sinh khi cùng với một cánh quân tiến về Sài Gòn trong chiến dịch Mậu Thân năm 1968. Nằm trong vùng chiến tranh, những tác phẩm nổi tiếng nhất của Nguyễn Thi mang âm hưởng bi tráng và hào hùng của trận mạc và hậu phương đánh giặc như “Người mẹ cầm súng”.

Nhà văn Dương Thị Xuân Quý cũng từng là phóng viên chiến trường. Từ báo Phụ nữ Việt Nam, bà vào chiến trường và trở thành phóng viên của Tạp chí Văn nghệ Giải phóng Trung Trung bộ. Dương Thị Xuân Quý hi sinh năm 1969 trong một trận càn của địch ở Quảng Nam. Danh sách các nhà văn đồng thời là các nhà báo rất dài, có thể kể thêm các gương mặt đương đại như Nguyễn Quang Thiều, Sương Nguyệt Minh...

Số nhà văn xuất thân từ nghề dạy học hoặc vẫn đang là giáo viên dạy học cũng không ít. Coetzee, nhà văn người Nam Phi đoạt giải Nobel năm 2003, nổi tiếng với những tiểu thuyết “Ruồng bỏ”, “Thời đại và cuộc đời của Micheal K”, “Đợi bọn mọi”... vốn là một giảng viên đại học nhiều trường danh tiếng. Philip Roth, một nhà văn lớn của nước Mỹ, tác giả của các tiểu thuyết “Người phàm”, “Vết nhơ của người”, “Báo ứng”... cũng là một giáo sư đại học.

Ở Việt Nam, những nhà văn xuất thân từ nghề giáo còn nhiều gấp bội. Nam Cao nguyên là một “giáo khổ trường tư” và những trang viết về những anh giáo nghèo xuất hiện trong nhiều tác phẩm của nhà văn, vừa khái quát chung về giới trí thức, văn nghệ sĩ nghèo khi đó, vừa mang những nét riêng của chính cuộc đời dạy học, viết văn của tác giả, trong đó có những tác phẩm nổi tiếng như “Sống mòn”, “Đời thừa”...

Ma Văn Kháng nguyên là giáo viên dạy học ở Lào Cai và nhờ “văn hay chữ tốt”, đã có thời gian ông làm thư kí cho Bí thư Tỉnh ủy. Và cũng giống như Nam Cao, quãng đời dạy học này đã ghi dấu trong nhiều tác phẩm của ông. Nguyễn Huy Thiệp cũng từng là giáo viên dạy lịch sử ở Sơn La. Y Ban làm giáo viên trường Y và còn rất nhiều những nhà giáo kiêm nhà văn khác.

Nghề báo, nghề văn có thể khá gần gũi với văn chương với những khuôn mặt kể trên, nhưng cũng có những người xuất thân từ những công việc rất khác xa. Tạ Duy Anh từng là công nhân Nhà máy Thủy điện Sông Đà; Dương Hướng là cán bộ Hải quan; Hồ Anh Thái là nhà ngoại giao; Nguyễn Trí là dân giang hồ...

Quay trở lại việc đặt vấn đề ở đầu bài, tại sao các nhà văn thường làm một công việc chính và viết văn thường là nghề tay trái của họ, hoặc trải qua rất nhiều công việc họ mới trở thành nhà văn. Viết văn là nghề rất riêng biệt, hầu như không thể đào tạo được, mặc dù có những khóa học cho sự viết, nhưng đó chỉ là những hỗ trợ cần thiết chứ không có gì đảm bảo và thực tế đã chứng minh: không phải đi học viết văn là có thể trở thành nhà văn.

Có rất nhiều nhà văn chưa từng qua một trường lớp hay khóa đào tạo nào, họ viết như một năng khiếu bẩm sinh cùng với sự rèn luyện và tự học của bản thân. Đặc trưng của sự viết là không phải chỉ có cảm xúc, năng khiếu là viết được, nó còn đòi hỏi rất nhiều vốn sống, sự trải nghiệm, quan sát, đọc và suy ngẫm... Cho nên một người nào đó vốn sống càng nhiều, sự trải nghiệm càng lớn và khả năng suy nghĩ phát hiện tốt thì càng có nhiều khả năng trở thành một nhà văn.

Các nhà văn Việt Nam, do điều kiện đặc thù, có một thời gian rất dài đất nước trải qua chiến tranh nên có nhiều người xuất thân từ quân ngũ và tác phẩm của họ thấm đẫm một không khí của thời chiến và những dư âm của nó. Những nhà văn từng là người lính có thể liệt kê một danh sách rất dài, một số nhân vật tiêu biểu có thể kể tên như Nguyễn Thi, Nguyễn Minh Châu, Hữu Thỉnh, Bảo Ninh, Chu Lai, Khuất Quang Thụy...

Nghề giáo, nghề báo, biên tập viên trong xã hội đương đại là một nghề gần gũi với việc viết văn. Ở nghề giáo, người viết có một môi trường tiếp xúc nhiều với chữ nghĩa và thường được khơi gợi những lí tưởng, ý tưởng về tuổi trẻ, cuộc sống và những trăn trở con người. Theo quan sát của tôi, số những người viết văn ở Việt Nam xuất thân từ nghề giáo hoặc đương kim giáo viên có một con số vượt trội.

Nghề báo thì có những đặc thù riêng, ngoài điểm tương đồng rất lớn là viết, nghề báo có một lợi thế là có rất nhiều cơ hội tiếp xúc với sự kiện, nhân vật ngoài xã hội, một nguồn tài nguyên dồi dào cho sự viết và sáng tạo. Nhà báo có thể khai thác những nhân vật, sự kiện ngay cho một bài báo, phóng sự nóng hổi và ở những quãng trầm lắng hơn, sử dụng nó cho những trang văn của mình.

Còn biên tập viên văn học, những người vừa hội đủ yếu tố của chữ nghĩa, vừa được làm trực tiếp với đối tượng văn chương, sự tích lũy kinh nghiệm, niềm cảm hứng từ các tác phẩm sẽ rất dễ thôi thúc họ viết.

Viết văn là một quá trình nhọc nhằn và đòi hỏi nhiều điều kiện tự thân nếu người viết muốn tạo ra những tác phẩm giá trị. Dù làm nghề gì, xa lạ hoặc gần gũi với văn chương đều đòi hỏi một niềm đam mê, sáng tạo và nỗ lực thực sự. Con đường và cách thức đến với văn chương có thể khác nhau, nhưng điểm chung là người viết đều muốn sáng tạo ra những sản phẩm tinh thần có giá trị từ sự lao động, quan sát, suy ngẫm và trăn trở về cuộc sống của mình.

UÔNG TRIỀU
Nguồn: VNCA




Thứ Ba, 3 tháng 9, 2019

Danh nhân Đào Tấn: Một đời không ít thăng trầm...

Đào Tấn (1845 - 1907) - Danh nhân Văn hoá, nhà thơ, soạn giả tuồng nổi tiếng, ông quan triều Nguyễn tận trung với nước, tận hiếu với dân - đã đi vào cõi vĩnh hằng cách đây hơn một trăm năm...
Danh nhân Đào Tấn

Năm ông qua đời, cha tôi tuy mới lên 5 tuổi nhưng đã được xem nhiều tích tuồng của Đào Tấn. Sau này lớn lên, là một nghệ sĩ tuồng, ông rất kính trọng tên tuổi và tài năng lớn lao của nghệ nhân Đào Tấn.

Người dân xứ Nghệ chúng tôi, trong đó có các nghệ sĩ tuồng truyền thống, rất tự hào vì đã theo bước chân cụ Đào, gìn giữ lấy nghệ thuật tuồng mà Đào Tấn đã xây dựng, phát triển trên mảnh đất hát phường vải, hát ví, giặm, ca trù... nổi tiếng.

Và nghệ thuật hát bội Bình Định, nhờ công lao của cụ Đào, đã thăng hoa rực rỡ, đạt tới những đỉnh cao chói lọi với thời gian mười năm, ở chính trên mảnh đất quê hương Lam Hồng địa linh nhân kiệt...

Đào Tấn đã làm quan dưới triều Nguyễn hơn 30 năm. Ngoài hơn 2 năm đi làm Tri phủ Quảng Trạch (Quảng Bình) và một thời gian ngắn làm Tổng đốc Nam Ngãi; ông sống ở Kinh thành Huế gần 18 năm với các chức vụ Hiệu thư, Phủ doãn Thừa Thiên, bốn lần làm Thượng thư các bộ Lễ, Hình, Binh và sống ở An - Tĩnh (tức Nghệ An - Hà Tĩnh ngày nay) hơn 10 năm; với hai lần làm Tổng đốc từ 1889 đến 1894 và 1898 đến 1902. Như vậy là, ngoài quê hương Bình Định; có thể nói, Kinh thành Huế và vùng đất An - Tĩnh có vị trí hết sức quan trọng trong cuộc đời và sự nghiệp sáng tạo của nhà thơ, nhà hoạt động Tuồng kiệt xuất Đào Tấn.

Tại Kinh thành Huế và thành Vinh (thủ phủ An - Tĩnh), hoạt động nghệ thuật của hậu tổ tuồng Đào Tấn chủ yếu diễn ra tại hai rạp hát “Duyệt Thị Đường” (rạp hát của triều Nguyễn trong Đại Nội được hình thành từ đời vua Minh Mạng); còn rạp “Như Thị Quan” là rạp hát của riêng Đào Tấn cho dựng trong dinh Tổng đốc An - Tĩnh , từ khi ông đến nhậm chức. Phải nói rằng, từ “Duyệt Thị Đường” đến “Như Thị Quan” là cả một cuộc cách mạng trong thế giới quan, nhân sinh quan và trong nghệ thuật tuồng hát Đào Tấn…

Thế rồi, trên cương vị Phủ doãn Thừa Thiên - ông quan tưởng chừng chỉ biết làm thơ, hát bội này - đã thế vua hành đạo, dùng thượng phương bảo kiếm do Thành Thái trao, xử chém Bồi Ba, một tên tay sai thân tín của Khâm sứ Pháp và Nguyễn Thân; gây nhiều tội ác với dân lành vùng Đông Ba, An Cựu ở Huế. Vì thế, Khâm sứ và Nguyễn Thân ép vua Thành Thái điều Đào Tấn ra làm Tổng đốc An - Tĩnh, hòng mượn tay phong trào Cần vương xứ Nghệ trừ khử ông tại vùng đất nóng bỏng này.

Rời chốn kinh kỳ, nơi ông đã sống hơn 15 năm, đã thành danh một vị quan thanh liêm, cương trực; được triều đình ban tặng các chữ vàng “Thanh - Thận - Cần” (trong sạch, thận trọng, chuyên cần) và “Bất úy cường ngự” (Không sợ uy vua); một nhà biện tuồng được vua bút phê là “Kỹ thuật thần diệu”; để đến với một vùng đất được coi là hết sức dữ dằn, nghèo kiết, lại bị tàn phá kiệt quệ trong loạn lạc là An - Tĩnh.

Đối với nhiều quan lại đương thời, có lẽ đó là một sự đày ải khủng khiếp, nhưng với Đào Tấn, đây lại là một niềm vui, một sự giải thoát lớn, để ông bắt đầu những sáng tạo nghệ thuật mới.

Trước khi ra tựu nhiệm ở An - Tĩnh, Đào Tấn đã là một nhà soạn tuồng nổi tiếng. Từ ngày bước vào cửa quan, Đào Tấn may mắn được ăn lộc vua để làm việc soạn tuồng, một công việc mà ông rất say mê. Hơn mười năm ở trong cung với ông vua mê hát bội Tự Đức, Đào Tấn đã viết được nhiều bộ tuồng như “Đãng khấu”, “Bình địch”, “Tứ quốc lai vương”, “Tam bảo thái giám thủ bửu”, “Quần trân hiến thụy”; hàng chục pho tuồng dựa theo truyện Tàu và 36 hồi chót của “Vạn bửu trình tường” từng được Tự Đức bút phê “kỹ thuật thần diệu”.

Nhưng trừ vở “Tân Dã đồn” hay thường gọi là “Từ Thứ qui Tào” do ông “lén vua” viết để ký thác tâm sự, còn lại đều là những vở theo phụng sắc mà viết, có thể rất hay nhưng chưa phải là những gì tâm đắc nhất của ông. Khác với vua quan nho sĩ đương thời, hầu hết coi tuồng hát là trò mua vui, là nghề “xướng ca vô loại”, Đào Tấn hết sức đề cao vai trò và sức mạnh của tuồng hát.

Theo ông “Muốn làm mới mẻ dân trong một nước, không thể không làm hưng thịnh Tuồng hát. Do đó, muốn làm mới mẻ đạo đức... muốn làm mới mẻ tôn giáo... muốn làm hưng thịnh nghề học thì phải làm mới mẻ Tuồng hát. Đó là Tuồng hát chi phối con đường của người ta vậy”, và “Sức mạnh của Tuồng hát như thuỷ ngân chảy xuống đất, không có lỗ nào là không vượt qua.
Trích đoạn tuồng “Đào Tấn” nhân dịp kỷ niệm ngày sinh của ông.

Có thể nói là vĩ đại”… Thời đó, có những bậc thức giả coi “Truyện Kiều” của đại thi hào nguyễn Du là “dâm thư”, thì Đào Tấn lại hết sức ca ngợi: “Nguyễn hầu soạn Đoạn trường tân thanh hay vượt xưa nay, trong đó Vương Thuý Kiều há không phải là người đẹp trên đời không ai sánh kịp sao?”.

Và ông muốn nhà soạn tuồng cũng phải học Nguyễn Du “dùng bút mực tỏ rõ thảm cảnh của kỹ nữ, để làm đòn đánh đau vào sự tàn nhẫn độc ác của chính trị đương thời”. Đào Tấn muốn tuồng hát không chỉ là vật sở hữu của số ít người biết chữ, thông thạo văn chương mà còn phải là ngũ kinh, tứ thư của đông đảo quần chúng cần lao, thất học...

Những quan niệm có tính chất cách mạng về tuồng hát trên đây của Đào Tấn khó có thể thực hiện được trong tuồng hát nô lệ ở cung cấm, trước những khán giả là vua quan, thư lại, hoàng gia, với những uý kỵ hà khắc, với “cánh cửa ngục văn tự” lúc nào cũng sẵn sàng mở ra, với “lưỡi gươm văn tự” lúc nào cũng sẵn sàng kề cổ…

Vì thế, chỉ khi được rời khỏi kinh thành và bắt đầu nhậm chức Tổng đốc An - Tĩnh, thoát được vòng cương toả của triều đình, một mình thống lĩnh một cõi, ông quan yêu nước Đào Tấn, nghệ sĩ tuồng Đào Tấn mới có cơ hội thực hiện những tâm đắc đó.

Ngay khi đến Hoan Thành năm 1889, Đào Tấn đã cho dựng  rạp hát bội mang tên “Như Thị Quan”, bên cạnh đó là trường dạy hát bội mang tên “Học bộ đình”. Ông tận dụng gần như tất cả biên chế của nhân viên và lính tráng phục dịch dinh Tổng đốc, tập hợp về đây những nghệ sĩ tuồng nổi tiếng nhất của đất tuồng Bình Định và của An - Tĩnh, cùng nhau tập luyện và biểu diễn tuồng.

Từ “Duyệt Thị Đường” ở Đại Nội đến “Như Thị Quan” ở thành Vinh, đã báo hiệu một sự thay đổi có tính chất cách mạng của tuồng hát Đào Tấn. Và mười năm trên đất Hồng Lam, tại “Như Thị Quan”, với sự xuất hiện của hàng loạt vở diễn khác hẳn về chất so với những tác phẩm trước đó như “Khuê các anh hùng”, “Sơn Hậu”, “Cổ thành”, “Trầm hương các”, “Hoàng Phi Hổ quá Giới Bài quan”, “Diễn võ đình”, “Hộ sanh đàn”... cuộc “làm mới Tuồng hát” mà Đào Tấn hằng  ấp ủ bấy lâu đã diễn ra rất mạnh mẽ.

Trước hết, các vở diễn trên, dù về đề tài vẫn mượn tích Tàu, nhưng hoàn cảnh, nhân vật thì đã hoàn toàn Việt Nam; và tất cả đều nóng bỏng ý nghĩa thế sự, mang đậm tính chất chỉ trích, điều trước đây Đào Tấn đã không thể làm được ở tuồng cung cấm. Nếu “Trầm hương các” vạch mặt chỉ tên sự thối nát, thảm hại tột cùng của các bậc thiên tử, thì “Hoàng Phi Hổ quá Giới Bài quan” với tiếng kêu thấu trời xanh của Hoàng Phi Hổ -“Cái chí trung quân nát vụn rồi”- đã chính thức đào huyệt chôn sâu cái tư tưởng trung quân lỗi thời còn ẩn náu đâu đó.

Và cuối cùng, với “Diễn võ đình” và “Hộ sanh đàn”, Đào Tấn đã mạnh dạn trao hy vọng, niềm tin cứu nước, cứu dân vào những người hiện đang bị đặt ngoài vòng pháp luật ở trên núi cao hoặc đang phải tha hương: Triệu Khánh Sanh và Tiết Cương; những người anh hùng đang phải vay rất nhiều nợ gian nan mà Đào Tấn từng nói rằng, đó là hình ảnh của các chí sĩ xứ Nghệ - Phan Bội Châu và Phan Đình Phùng - trên sân khấu của ông...

Đã trên một thế kỷ từ ngày Đào Tấn đi xa - nhưng một  nghệ sĩ lớn mà cuộc đời đã trải qua không ít thăng trầm đó - đã trở thành niềm tự hào của Bình Định quê hương ông; cũng như của xứ Nghệ và của cả dân tộc Việt Nam, trong lịch sử hình thành và phát triển nền sân khấu truyền thống dân tộc!

LÊ HUY QUANG
(VNCA)

Tin bài khác:




Chủ Nhật, 1 tháng 9, 2019

Nhà văn Nguyễn Ngọc Thuần trong trí nhớ của tôi

“Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ”, “Trên đồi cao chăn bầy thiên sứ”, “Cha và con và tàu bay”, “Chuyện tào lao (về kẻ quấy rối và chồng cô ta)”, “Sinh ra là thế”, “Cơ bản là buồn”, “Về cô gái này”… là những tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Ngọc Thuần - một nhà văn dù quen thân nhiều năm rồi, mà với muôn vàn lý do, tôi vẫn không thể nào phỏng vấn anh được. Có lẽ, những gì cần nói, anh đã đưa hết vào trang viết.
Nhà văn Nguyễn Ngọc Thuần.

“Với Thuần, mọi thứ qua tay đều trở nên nhẹ nhàng. Giả dụ Thuần có ôm tảng đá to, thì cũng tìm cách cho tảng đá tự nhiên lăn, rồi Thuần... lăn theo. Có biệt tài đặt những từ nghĩa “thô” ở vị trí đắc địa bất ngờ tạo nên âm hưởng thanh thoát, Thuần luôn mang lại cảm giác tươi mới” - họa sĩ Trần Ngọc Sinh, người biên tập cuốn “Sinh ra là thế” (NXB Trẻ, quý 2, 2013) đã viết như vậy về nhà văn Nguyễn Ngọc Thuần, không chỉ nói về văn chương, mà còn cả nhân cách sống của anh giữa đời.

Có thể nói, nhà văn tôi gặp nhiều nhất trên thành phố phương Nam này, là Nguyễn Ngọc Thuần. Nghe thật kỳ lạ, vì chưa từng gặp anh trong đám đông văn chương nào, cả hai anh em đều ít gọi điện cho nhau, hạn chế giao du, thường xuyên bận rộn, lại sống hai đầu phía Bắc, phía Nam của thành phố rộng mênh mông mà không nhắn trước thì khó mà tìm gặp được nhau. Thế mà toàn những tình cờ, như thể nhân duyên, tôi gặp Nguyễn Ngọc Thuần, có lúc ở một quán nước quen nơi anh ngồi hàng tối, vài lần giữa đường hay trong hội chợ sách, hoặc đôi khi anh đến dự buổi ra mắt sách của tôi một cách bất ngờ dù có khi trời đang mưa tầm tã. Lần nào gặp, tôi cũng vỡ òa lên như trẻ nhỏ, hai anh em cứ ríu rít trò chuyện. Thể nào anh cũng hỏi tôi đã có cuốn sách mới xuất bản của anh chưa, mặc cho tôi kinh ngạc không hiểu cuốn sách đó anh viết từ lúc nào, mà bao giờ cũng thế, chẳng có buổi chính thức ra mắt sách. Thế rồi nếu là trên đường sách hay trong hội chợ sách, anh sẽ chạy nhanh đi đâu đó, dặn tôi chờ, và quay trở lại với cuốn sách mới trên tay, ngồi ký tặng cho tôi. Có lần, dù tôi có phân trần là tôi đã mua sách của anh, khỏi chạy đi nữa. Anh cười xòa, nói: “nhưng chưa có chữ ký”, rồi lại biến mất. Có lẽ với mỗi người viết, việc được tặng sách cho người bạn quý mến luôn mang lại niềm vui ấm áp, thế nên có một số cuốn sách của nhà văn Nguyễn Ngọc Thuần, tôi sở hữu hai bản, một bản tôi tự mua và một bản anh ký tặng.

Tôi biết nhà văn Nguyễn Ngọc Thuần lâu lắm rồi, lâu đến độ tôi chẳng còn nhớ quen anh khi nào nữa. Chúng tôi gặp nhau ngoài đời một lần, sau thì kẻ Bắc người Nam, có thời gian dài theo dõi nhau qua Facebook. Trên Facebook, Nguyễn Ngọc Thuần viết rất hay và thường là hài hước về những vấn đề giản dị xảy ra xung quanh anh hoặc post những tấm hình anh chụp ngộ nghĩnh và buồn cười khi có ý tưởng nào đó về bố cục kì quặc, còn màu sắc thường là đen trắng hoặc bị làm mờ. Có lúc anh thể hiện ý muốn làm phim theo kiểu rất sáng tạo mơ hồ hơi mang mang quái dị… Những lúc rảnh việc, anh thường “chơi” Facebook theo kiểu như thế, về sau, vì lý do sức khỏe, và cũng như anh nói với tôi “thế giới Facebook nhiều thứ u ám quá”, nên anh dừng lại. Không được theo dõi anh hàng ngày cũng là tổn thất lớn với tôi vì việc đọc những gì anh viết đã thành thói quen.

Tôi và Nguyễn Ngọc Thuần có lẽ thân với nhau hơn là bắt đầu từ sự “ráp nối” của họa sĩ Trần Ngọc Sinh. Anh Trần Ngọc Sinh là biên tập viên của Nhà xuất bản Trẻ, người phụ trách bản thảo trực tiếp thường xuyên của nhà văn Nguyễn Ngọc Thuần và nhà văn Nguyễn Ngọc Tư, đồng thời cũng là biên tập viên của tôi từ những ngày đầu chập chững vào làng văn. Anh Trần Ngọc Sinh đã lựa chọn truyện của tôi, in trong hai tập truyện, trong đó có “Vũ điệu thân gầy”, tuyển chọn 12 cây bút nữ Việt Nam đương đại. Việc gọi điện trao đổi bản thảo thường xuyên và cẩn trọng đã giúp tôi và anh Sinh thân thiết. Về sau, mỗi lần vào công tác Sài Gòn là anh Sinh sẽ đón chở đi chơi. Trong một lần đưa tôi đi lang thang trên chiếc Vespa cũ mèm, biết tôi và anh Thuần có quen nhau, anh Sinh hẹn gọi anh Thuần, nhờ thế, tôi được gặp lại anh Thuần trong không gian riêng với thời gian dài để biết lần đầu tiên thế nào là một phòng trà, vừa uống cà phê giữa sân vườn, nhẹ nhàng mấy giọt mưa bay qua trên đầu, vừa nghe những bài hát rất thanh lịch từ các ca sĩ duyên dáng của Sài Gòn.

Gặp anh Thuần dịp đó, tôi vẫn không hết ngạc nhiên. Ngồi trước tôi là một nhà văn đạt rất nhiều giải thưởng văn chương quan trọng trong nước cũng như quốc tế, sách được dịch ra nhiều thứ tiếng, người viết chăm chỉ không ngừng mà cuốn sách nào cũng bán chạy, lại rất hiền hòa, nói chuyện nhỏ nhẹ, khiêm tốn. Hôm đó, tôi nhớ, anh Nguyễn Ngọc Thuần mặc áo sơ mi màu sáng, quần âu chỉn chu, đi đôi xăng-đan rất giản dị. Ngồi bên cạnh anh là cô con gái, khi ấy còn bé bỏng, mặc bộ đồng phục xinh xinh cấp tiểu học, tóc hơi ướt mồ hôi trộn nước mưa. Anh vừa đón con gái đi học về, sợ muộn nên không qua nhà thay đồ, mà ghé luôn vào quán chờ anh Sinh và tôi. Có anh Sinh nên câu chuyện càng trở nên dễ gần cùng sự thân thiết. Tôi không nhớ ba anh em hôm đó nói những gì, chỉ biết chuyện trò rôm rả, cười vui ấm áp. Ngồi trong quán khá lâu, cho đến khi kết thúc chương trình ca nhạc, chúng tôi chia tay nhau. Lần sau tôi vào Sài Gòn làm việc, anh Sinh gọi điện hẹn anh Thuần. Nguyễn Ngọc Thuần hẹn tới một quán cà phê khác trên đường Đồng Khởi, trung tâm quận 1 để tôi có dịp biết thêm một chốn mới. “Quán cà phê này đồ uống ngon”, anh Thuần cười nói. Dáng cao gầy lênh khênh đi phía trước, cẩn thận chỉ đường, cùng tôi và anh Sinh đi dọc phố, rẽ vào một cái ngõ rộng bày la liệt đồ lưu niệm, tranh ảnh, lên tầng hai. Lần này, chúng tôi lại ôm bụng cười lăn lộn vì anh Sinh rất hài hước. Tôi nhớ hôm đó ba anh em có trò chuyện về viễn cảnh cho một triển lãm thị giác “trong mơ” của nhà văn Nguyễn Ngọc Thuần, “trộn” giữa thú vui làm phim ngắn, chụp ảnh, văn chương và mỹ thuật của anh. Mỗi lần ở bên cạnh Nguyễn Ngọc Thuần, tôi thấy cuộc đời này thật đáng sống, nó mở rộng với màu sắc hồn hậu lấp lánh chân tình từ tâm hồn người. Vậy mà không hiểu cớ làm sao, truyện của anh Thuần viết, thường mang sự mênh mang buồn lẫn mong manh kiếp người trong cô đơn. Ví như cuốn truyện dài “Cơ bản là buồn” ra mắt vào quý 2, năm 2014 hay tiểu thuyết “Vì tình yêu phù phiếm” in vào quý 1, năm 2018 mang phong cách như vậy.

“Những lúc không có nàng,
tôi nhặt chúng lên,
chạm vào và cảm nhận
luồng lạnh lẽo. Có lẽ
chẳng ai đọc cả,
những văn bản chỉ để trang trí.
Cầm chúng lên, luồng rung cảm
lan tỏa giữa các
ngón tay. Và điều đó
buộc người ta dừng lại.
Và như thế, một cuốn sách đẹp,
đã chấp nhận
trong thân thể chúng
một phần hoang đường.”
(tr.41. Vì tình yêu phù phiếm)

Tác phẩm nào của nhà văn Nguyễn Ngọc Thuần, dù là anh có từng nói, viết về một nơi chốn cụ thể trong không gian cụ thể, một nhân vật nào đó tưởng như cụ thể… nhưng bao giờ cũng thế, chúng đều trở nên mơ hồ không thể nắm bắt khi đi qua thế giới tư tưởng của anh. Đọc văn Nguyễn Ngọc Thuần là sự tương tác cảm xúc trực tiếp, gợi nên bao ý tưởng “huyền hoặc và hài hước điên khùng sâu lắng” (như dòng chữ đã in trên bìa sách).

Văn Nguyễn Ngọc Thuần khó thể kể lại theo một cốt truyện cụ thể, chúng thực sự là những gợi ý sáng tạo, như dòng điện sáng bất chợt xẹt qua não, khi đọc một dòng nào đó. Văn Nguyễn Ngọc Thuần thúc đẩy độc giả nảy sinh tư duy, làm nối liền mạch cảm hứng đang bị ngủ quên trong tiềm thức. Chúng là những kết nối tâm hồn, để từ đó một nghệ sĩ có thể tạo nên không gian nghệ thuật mới. Rất nhiều thử nghiệm ngôn ngữ được đưa vào tác phẩm của anh.

Mà thật kỳ lạ, khi nhiều nhà văn xuất thân từ giới mỹ thuật, lại tiên phong về những tìm tòi mới mẻ về nội dung, tư tưởng, nghệ thuật, kỹ thuật biểu đạt. Trong dòng văn học đang dịch chuyển ngày một chậm chạp, bởi nhiều nhà văn - họa sĩ đã buông bút, thì nhà văn Nguyễn Ngọc Thuần vẫn cần mẫn chăm chỉ không ngừng nghỉ sáng tác, giữa bao khoảng đêm im lặng, sau công việc báo chí hàng ngày.

NGUYỄN QUỲNH TRANG
Nguồn: Tinh hoa Việt




Nguyễn Quang Sáng và những bài học văn chương

Hy sinh từng ngày trong cuộc sống để giữ gìn nhân cách, để bám giữ và tiến vượt lên trong nghề là điều không dễ, đòi hỏi một tầm nhìn lớn, can đảm lớn. Nguyễn Quang Sáng đã trọn đời cùng nghề viết văn, trọn đời là một chiến sĩ, một người dân yêu nước, một Tài tử Nam Bộ...
Nhà văn Nguyễn Quang Sáng

Nhà văn Nguyễn Quang Sáng sau khi hưởng trọn cái Tết lần thứ 82 của mình, đã chọn đêm trước hôm rằm - Rằm tháng Giêng Giáp Ngọ để nhẹ bước tiên du vào miền tịch diệt.

Trong nỗi đau buồn gần như đến tận cùng, con trai nhà văn, đạo diễn điện ảnh Nguyễn Quang Dũng viết: "Kết thúc một chặng đường. Ba tôi - nhà văn Nguyễn Quang Sáng - đã chia tay gia đình tôi. Ba đến nơi gặp những bạn bè thân - chú Trịnh Công Sơn, chú Bảo Phúc... Chúc ba vui vẻ nơi ấy! Má và các con yêu ba! Cảm ơn thượng đế cho con được là con của ba".

Người ta nói "cái quan định luận", nghĩa là đóng nắp quan tài xong mới có thể bàn được về người đó. Song, với nhiều người có thể "định luận" ngay khi còn sống. Với hàng chục truyện ngắn và tiểu thuyết, hàng chục kịch bản điện ảnh đoạt nhiều giải thưởng, trong đó có Giải thưởng Hồ Chí Minh (đợt hai - 2000), ông được đánh giá là một trong những nhà văn hàng đầu của văn học Việt Nam hiện đại. Riêng tôi muốn gọi ông là "Nhà văn Nam Bộ" không chỉ bởi tác phẩm của ông lấy bối cảnh Nam Bộ, giọng điệu Nam Bộ, "không có cái nhàn nhạt chữ nghĩa dùng cho miền nào cũng được - Tô Hoài", mà các tác phẩm ấy còn mang đậm tính cách Nam Bộ: đã yêu thích cái gì, tin tưởng cái gì, thì tin, yêu đến tận cùng.

Tôi được gặp Nguyễn Quang Sáng không nhiều, chủ yếu trong các kỳ đại hội (ÐH) Hội Nhà văn. Trước đây, tôi thường đứng xa xa với thái độ "kính nhi viễn chi", có hỏi han điều gì cũng thưa gửi rón rén nên ông cũng không cởi mở nhiều. Tính ông càng về già càng lặng lẽ. Nhưng trong kỳ ÐH VIII Hội Nhà văn Việt Nam (2010) tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, ông bỗng gần gũi hơn. Hai chú cháu còn chụp ảnh chung với nhau, nói chuyện nhiều hơn về người và nghề cầm bút. Nghe tin ông mất, hình ảnh một già Sáng đeo túi chéo, chầm chậm, lặng lẽ dọc hành lang hội trường, đôi mắt đắm ướt tình người bỗng long lanh khi gặp ai đó nhưng rồi cũng bất chợt xa xăm lại hiện lên trong tôi một cách rõ rệt, nao lòng! Tôi tự trách mình đã thật khờ khạo khi không biết cách gần ông thêm nữa, để được nghe từ ông những điều không dễ có trong đời. Mỗi nghệ sĩ lớn là một thế giới kỳ diệu, độc đáo. Tác phẩm của họ làm giàu hồn ta; gần bên họ được sáng trí ta. Tôi đã được gặp nhiều nghệ sĩ lớn, đã được bước trong những thế giới kỳ diệu đó, mà khi họ còn sống, đâu đã biết hết giá trị, nên bây giờ tiếc nuối khôn nguôi. Nguyễn Sáng, Bùi Xuân Phái, Xuân Diệu, Huy Cận, Quang Dũng, Nguyên Hồng, Nguyễn Ðình Thi, Nguyễn Tuân, Lưu Quang Vũ, Hữu Loan, Phạm Tiến Duật, Hoàng Cầm... Tôi cứ lẩn thẩn nghĩ rằng, cái họ mang đi còn nhiều hơn rất nhiều cái họ để lại cho đời!

Nguyễn Quang Sáng (từng lấy bút danh là Nguyễn Sáng, sau để tránh trùng tên với danh họa Nguyễn Sáng nên lại dùng tên Nguyễn Quang Sáng), cầm bút từ năm 1952. Truyện ngắn đầu tiên được in là Con chim vàng (Báo Văn nghệ, 1956), và trở thành hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam năm 1957. Năm 1959, ông giật hai giải truyện ngắn Ông Năm Hạng của Báo Thống Nhất và Tư Quắn của Văn nghệ quân đội. Ấn tượng nhất trong thời kỳ đầu ấy là Ðất lửa, cuốn tiểu thuyết đậm chất Nam Bộ và chất điện ảnh viết về quê hương ông những ngày chống Pháp. Các giải thưởng khác là Mùa gió chướng (Kịch bản phim, Bông sen bạc Liên hoan phim (LHP) toàn quốc 1980); Cánh đồng hoang (Kịch bản phim, Bông sen vàng LHP toàn quốc 1980, Huy chương vàng LHP quốc tế Mát-xcơ-va 1981); Dòng sông thơ ấu (Giải thưởng văn học thiếu nhi Hội Nhà văn (HNV) 1985); Con mèo của Fujita (Giải thưởng HNV 1993)...

Viết trong Kỷ yếu Nhà văn Việt Nam hiện đại (2007), Nguyễn Quang Sáng tự vấn rằng, mình có nhiều chục năm cầm bút, nhiều giải thưởng nhưng vẫn luôn tự hỏi "mình đã thật là nhà văn hay chưa"? Ðó là một tự vấn nghiêm khắc và ông nói rằng, bằng tác phẩm, ông đã, đang và sẽ trả lời điều đó.

Ông đã là nhà văn hay chưa? Xin thưa với hương hồn ông, chỉ với Chiếc lược ngà và Cánh đồng hoang, ông đã là một nhà văn lớn, ảnh hưởng của ông đã vượt khỏi biên giới nước nhà. Chiếc lược ngà được viết năm 1966, nhanh chóng được đưa vào giáo khoa và làm xúc động bao thế hệ học trò. Cánh đồng hoang (công chiếu lần đầu ngày 30-4-1979) với kịch bản của Nguyễn Quang Sáng, với đạo diễn tài năng Hồng Sến, âm nhạc Trịnh Công Sơn, diễn viên Lâm Tới, Thúy An, đã trở thành bộ phim kinh điển của nền điện ảnh Việt Nam.

Có người nói Nguyễn Quang Sáng là nhà văn Nam Bộ biết kể chuyện một cách giản dị và xúc động. Tôi đặc biệt thích lối văn kể chuyện giản dị ấy mà chỉ người dân thường hoặc tài năng lớn mới có thể làm được. Nhưng những chi tiết đắt giá, sự bất ngờ dồn dập, sự khái quát thần diệu, chất điện ảnh và đặc trưng Nam Bộ đến từng dáng điệu, lời thoại là những đặc điểm khác làm nên phong cách của Nguyễn Quang Sáng.

Tôi đã học được ở ông những bài học văn chương quý giá. Trong nhiều bàn trà cũng như trong diễn đàn chính thức, Nguyễn Quang Sáng là người đồng tình với quan điểm, nghệ thuật muốn có "tính" gì cũng được, nhưng phải có "tính hay". Ông không phản đối các nhà lý luận khi nói về chân, thiện, mỹ; về chuyện đáp ứng đòi hỏi của bạn đọc nhưng lại có cách nghĩ riêng rất thú vị. Theo ông, nhà văn nước ngoài không viết theo nhu cầu của bạn đọc Việt Nam nhưng ta đọc vẫn thấy hay. Văn chương có ba ràng buộc, cũng là ba phẩm chất: Buồn - Ðau và Ðẹp. Làm thế nào để hay? Ông nói, tác phẩm như lời ru của lòng mẹ, cứ thế mà hay. Ông nói thêm, phải viết cái gì thật tự nhiên, thật sâu trong lòng mình, viết cái mình rành thì trúng, cái mình không rành thì trật, trước sau gì cũng hỏng.

Theo cách nghĩ học trò, có lần tôi từng hỏi ông về lý tưởng, quan niệm thẩm mỹ; vai trò của nó đối với sáng tạo tác phẩm, ông hơi ngơ ngác rồi nói: "Chú cứ coi cuộc đời tui thì biết"! Cuộc đời ông là gì? Là một Nguyễn Quang Sáng chiến sĩ rồi sau đó mới là một Nguyễn Quang Sáng nhà văn. Ông sinh năm 1932 tại thị trấn Mỹ Luông, Chợ Mới, An Giang trong một gia đình giàu có. Ba má ông có tiệm vàng và xe hơi. Yêu lý tưởng, yêu sự tốt đẹp của cách mạng, năm 1946 ông xung phong vào bộ đội, rồi tập kết ra bắc năm 1954 với quân hàm chuẩn úy. Từ đó ông chuyển ngành sang Ðài Tiếng nói Việt Nam rồi các cơ quan của Hội Nhà văn Việt Nam. Năm 1966, ông tình nguyện vào chiến trường để đấu tranh thống nhất nước nhà bằng cây súng và ngòi bút, để được sống giữa những người thân yêu, giữa xóm làng và bưng biền thân thuộc, dù biết rằng cái sự dấn thân ấy chính là dấn thân đến cái chết bất cứ lúc nào. Cho đến năm 1972 ông mới ra Bắc, và sau năm 1975, ông về ở hẳn miền Nam, bên cạnh chức vụ Phó Tổng Thư ký Hội Nhà văn Việt Nam, ông làm Tổng Thư ký Hội Văn nghệ TP Hồ Chí Minh trong nhiều khóa, góp phần đặc biệt to lớn trong việc xây dựng phong trào văn nghệ ở thành phố mang tên Bác nói riêng và Nam Bộ nói chung trong những ngày đầu giải phóng.

Những tác phẩm lớn của ông chủ yếu được hình thành trong những ngày "xáp vô" trong cuộc chiến đấu lớn của bộ đội và nhân dân ta ở miền Nam; nhặt được những "hạt vàng" từ cuộc sống. Năm 1966, nhà văn chợt thấy và "găm" vào đầu cảnh trực thăng Mỹ - ngụy bắn người dân ở Ðồng Tháp Mười mùa nước nổi; người lớn thì lặn sâu xuống khi bị bắn. Trẻ em thì cho vào túi ni-lông, người lớn lặn phải kéo theo... Ðó cũng là một trong những chi tiết nói lên sự ác liệt đến tận cùng của chiến tranh. Chi tiết đó, đến hơn mười năm sau mới được viết thành kịch bản phim Cánh đồng hoang. Cánh đồng hoang là bộ phim có tính khái quát cao. Cuộc đọ sức giữa một bên là vợ chồng Ba Ðô và đứa con nhỏ mới sinh trơ trọi giữa mùa nước nổi mênh mông và một bên là trực thăng Mỹ đầy hỏa lực săn đuổi rát rạt. Căng thẳng từng giây một khi kẻ thù quyết sát hại và nhân văn từng giây một khi con người Việt Nam quyết bảo vệ sự sống đến cùng. Kết cục, Ba Ðô chết nhưng bất ngờ, bằng khẩu súng trường, lòng căm thù, cái kỳ diệu của sự sống, vợ Ba Ðô đã nhặt lấy súng của chồng và bắn rớt chiếc trực thăng. Từ túi áo của viên phi công Mỹ, rơi ra tấm ảnh vợ con hắn, một chi tiết đầy hàm nghĩa, đẩy tác phẩm lên một tầm cao nữa trong tố cáo chiến tranh, trong giá trị nhân văn; một kết thúc mở để cả đời sau còn suy nghĩ...

Nếu truyện ngắn Chiếc lược ngà chỉ viết trong một đêm, thì kịch bản này cũng chỉ viết trong một tuần, bắt đầu từ đêm 18-12-1978, đêm nhà văn đưa vợ đi đẻ. Người con ấy chính là đạo diễn điện ảnh Nguyễn Quang Dũng bây giờ. Cả hai đứa con được sinh hạ trong những ngày ấy đều nổi tiếng.

Phải rành và chín trong nghề văn là vậy. Nhưng cái điều sâu xa hơn mà tôi cảm nhận được là, nhà văn sẽ không viết được gì nên hồn nếu không gắn bó với cuộc sống, biết "mò lặn" mà tìm "quặng quý" trong đời. Và phải học, tự học suốt đời. Tôi là "cậu ấm" - ông nói, nhưng chỉ học đến lớp bảy. Ði theo cách mạng, được học thêm văn hóa. Rồi mình lại tự học. Năm 1963, đạo diễn Mai Lộc nói văn tôi có chất điện ảnh. Hồi đó tôi chưa ý thức hết. Sau này được đặt hàng viết kịch bản phim, tôi mới chăm chú đi rạp xem. Hết ngày này sang ngày khác. Hết phim này sang phim khác. Tự cắt nghĩa sao trường đoạn ấy nó hay, nó xúc động. Cứ học lỏm thế thôi, nhưng mà học thật, tin thật...

Và điều cốt yếu nhất là phải biết hy sinh. Hy sinh tính mạng là mất mát lớn nhất, nhưng lựa chọn nó không phải là khó khăn nhất. Hy sinh từng ngày trong cuộc sống để giữ gìn nhân cách, để bám giữ và tiến vượt lên trong nghề là điều không dễ, đòi hỏi một tầm nhìn lớn, can đảm lớn. Nguyễn Quang Sáng đã trọn đời cùng nghề viết văn, trọn đời là một chiến sĩ, một người dân yêu nước, một Tài tử Nam Bộ...

NGUYỄN SĨ ÐẠI
(NHÂN DÂN)

Tin bài khác:



Nhà văn Thùy Dương: Trăn trở với mỗi thân phận Người

Nếu không biết Thùy Dương sinh ra và lớn lên ở Hải Dương, sẽ đoán   chắc nàng là người Hà Nội gốc. Gọi là nàng v ì nàng không chỉ xinh đẹp, ...