Chủ Nhật, 11 tháng 8, 2019

Truyện Kiều, phòng thử nghiệm những cách đọc

Lịch sử văn học, thực chất, là lịch sử của những cách đọc. Bởi thế, với tư cách là một tác phẩm văn học, Truyện Kiều không chỉ là 3254 câu lục bát do Nguyễn Du viết, mà còn bao gồm cả những gì đương thời và hậu thế viết về cái văn bản ấy.
Người đọc, bằng kinh nghiệm sống và kinh nghiệm thẩm mỹ của mình, lấp đầy những khoảng trống/ trắng/ lặng, đáp trả những thách đố của văn bản, giả nhời những câu hỏi ẩn hiện của tác giả. Rồi lại có những người đọc những văn bản bậc hai ấy. Truyện Kiều, cứ như vậy, như được tiếp sức bởi hết những đợt sóng chữ này đến những đợt sóng chữ khác, nối dài, đi sâu và mở rộng cuộc sống của nó. Tác phẩm càng lớn, càng không cạn kiệt thông tin, thì càng được đọc nhiều, đọc bền, và quan trọng hơn, đọc mới.

Đối sánh kinh nghiệm với tác giả, mỗi người đọc, dường như, đều có một tác phẩm của mình và chomình. Truyện Kiều trong sự hình dung của anh và của tôi là không giống nhau. Nhưng không vì thế mà có bao nhiêu người đọc Truyện Kiều thì có bấy nhiêu cách đọc Truyện Kiều. Mỗi một cách đọc đều xuất phát từ một lý thuyết văn học và do đó, một phương pháp phê bình văn học. Tuy nhiên, chỉ có những siêu người đọc thì mới tìm ra được cách đọc mới, còn những độc giả thông thường chỉ là người đọc theo, mà đôi khi không tự biết, vì nó đã được xã hội hóa và đi vào tự động. Đến lúc ấy, để tránh nguy cơ nhàm chán, người ta lại phải đi tìm một cách đọc mới khác.

Cách đọc mới này, để thử thách tính hiệu quả của nó nhằm thuyết phục người theo, phải được đưa vào phòng thử nghiệm. Phòng thử nghiệm, đó là những tác phẩm lớn, chịu được thử thách của thời gian để trở thành cổ điển, như thơ Hồ Xuân Hương, thơ Nguyễn Công Trứ, Truyện Kiều… Tác phẩm lớn đã đành là không bao giờ cạn kiệt thông tin, nhưng, quan trọng hơn nó đã được những cách đọc trước khai phá, nên dễ nhận ra thành tựu của cách đọc sau qua một sự so sánh tối thiểu. Như vậy, mỗi một thử nghiệm cách đọc là một mũi tên bắn trúng hai đích: vừa khẳng định một phương pháp mới, lại vừa khám phá ra một chiều kích thẩm mỹ mới của tác phẩm. Hay nói khác, càng khám phá bao nhiêu thì càng khẳng định bấy nhiêu; hai là một không thể tách rời.

Với ý nghĩa đó, Truyện Kiều, từ khi ra đời đến nay, đã trở thành viên đá triết học, hoặc chiếc gậy điểm kim thạch của bao nhiêu cách đọc. Ở thời phê điểm trung đại chỉ có các ý kiến về Truyện Kiều nằm trong các bài luận, tựa, vịnh và tổng vịnh. Nếu người thơ viết để ký thác tâm sự, trình bày ý chí, thì người phê điểmviết chủ yếu cũng để ký thác tâm sự mình, bày tỏ sự đồng cảm với người. Thơ (bài, tập, truyện) chưa được coi như một thực - thể - chữ có thể tồn tại độc lập (tương đối, dĩ nhiên), mà chỉ là một mảnh gương phản chiếu lại phần nào chân dung tinh thần tác giả. Chỉ khi bước vào thời hiện đại có phê bình - như một bộ môn của khoa học văn học hẳn hoi, thì mới có cách đọc như một lý thuyết văn học. Đã có nhiều cách đọc Truyện Kiều, nhưng ở đây tôi chỉ nói đến một vài cách đọc tiêu biểu mang tính hệ hình và, cũng quan trọng không kém, là mang lại những khám phá nghệ thuật xuất sắc.

*

Trước hết là cách đọc/ phê bình tiểu sử học. Cách đọc này chủ yếu dựa trên quan niệm văn là người. Bởi vậy, nghiên cứu Nguyễn Du cũng là nghiên cứu Truyện Kiều, ngược lại nghiên cứu Truyện Kiều cũng là nghiên cứu Nguyễn Du. Truyền thống Đông Á xưa nay vốn là văn dĩ tải đạo, thi dĩ ngôn chí. Ngày xưa, Mộng Liên Đường Chủ Nhân viết: “Thúy Kiều khóc Đạm Tiên, Tố Như khóc Thúy Kiều, việc tuy khác mà lòng thì là một”. Thời nay, René Crayssac cũng viết: “Cảnh ngộ của cô Kiều với cảnh ngộ của tiên sinh (tức Nguyễn Du - ĐLT) hình như cũng là một hội một thuyền đâu xa”. Thi nhân xưa sáng tác chủ yếu để ký thác vào đấy những nỗi lòng, cảnh ngộ của mình. Và, tất cả những điều đó, ở Nguyễn Du, được Đào Duy Anh khái quát lại thành một từ tâm sự, hẹp hơn tâm sự Nguyễn Du. Một kết tinh những trải nghiệm, dằn vặt, u uất, là động lực bên trong của sáng tạo nghệ thuật.

Năm 1943, trong công trình Khảo luận về Kim Vân Kiều(1), Đào Duy Anh đã nghiên cứu kỹ về dòng họ, gia thế, thời thế, quê quán Nguyễn Du, thời điểm viết Truyện Kiều, để “dựng” nên một tiểu sử/ thân thế nhà thơ phù hợp với “lý thuyết tâm sự”. Nguyễn Du sinh ra trong một gia đình khoa bảng. Cha, anh đều là quan lớn đầu triều của nhà Lê - Trịnh. Khi Tây Sơn kéo quân ra Bắc, nhà thơ sa vào cảnh “Kìa những kẻ màn loan trướng huệ/ Những tưởng mình cung quế hằng nga/ Một phen thay đổi sơn hà/ Mảnh thân chiếc lá biết là về đâu” (Văn chiêu hồn). Rồi khi Lê Chiêu Thống chạy sang Tàu, ông theo không kịp. Ở lại chống Tây Sơn, nhưng âm mưu chống Tây Sơn cũng bất thành. Về sau, ông đành phải ra làm quan với nhà Nguyễn. Tuy được thăng tiến rất nhanh, nhưng Nguyễn Du vẫn giữ thái độ lừng khừng. Đặc biệt lúc hấp hối, chốc chốc ông lại sai người nhà sờ xem mình đã lạnh đến đâu rồi và sau cùng nói “được” và mất. Tất cả những điều đó chứng tỏ rằng đến chết Nguyễn Du vẫn ôm một nỗi cô trung với nhà Lê. Tâm sự này của ông cùng một tâm sự với Thúy Kiều: yêu một người mà phải trao thân gửi phận cho người khác. Bởi thế, Nguyễn Du phóng/ sáng tác ra Truyện Kiều để trút tâm sự, cái tâm sự hoài Lê ấy, giải tỏa và thanh minh, mong rằng hậu thế ba trăm năm sau sẽ có người hiểu/ khóc mình: “Bất tri tam bách dư niên hậu/ Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như”.

Thế là tâm sự hoài Lê trở thành một từ - chìa khóa không chỉ giải thích được nhiều điều trong Truyện Kiềuvà các sáng tác khác của Nguyễn Du, mà còn mở sang cả văn thơ của các tác giả khác với tư cách là các di thần của nhà Lê, thậm chí lan sang cả con cháu họ, như trường hợp như Bà Huyện Thanh Quan chẳng hạn. Cách đọc này được hưởng ứng nồng nhiệt, một mặt vì nó phù hợp ở một mức độ nhất định với cách đọc truyền thống, với quan niệm trung đại về văn chương, mặt khác nó là sản phẩm của mỹ học lãng mạn, đề cao chủ thể sáng tạo, coi mối quan hệ giữa tác giả và tác phẩm là quan hệ nhân quả, nên biết nhân/ tác giả sẽ loại suy ra quả/ tác phẩm.

Nhưng dần dần người ta cũng thấy được, nếu tâm sự tác giả ở đây, mà tác giả chỉ là tác giả tiểu sử, thì phần nhiều chỉ giải thích được những cạnh khía chính trị - xã hội của tác phẩm, mà không khám phá được đặc thù nghệ thuật của nó. Ví như, biết bao người có tâm sự hoài Lê, nhưng sao chỉ có Nguyễn Du viết nên Truyện Kiều? Hoặc cái gì làm nên sự đặc sắc của nghệ thuật Truyện Kiều thì chìa khóa tâm sự hoài Lê không giải đáp nổi. Để trả lời câu hỏi này, người ta phải đi tìm những cách đọc khác. Trước hết cần phải mở rộng khái niệm tác giả. Tác giả mở rộng với tư cách là một nguyên nhân. Từ đây có cách đọc theo trường phái văn hóa - lịch sử của H. Taine: tác phẩm được coi như là sản phẩm của một trạng thái văn minh với ba khởi nguyên của nó (hoặc để đánh giá nó) là chủng tộc, thời điểm và môi trường. Rồi đến E. Zola, người khởi xướng trường phái tự nhiên chủ nghĩa, thì ba khởi nguyên ấy hội tụ thành một:khí chất của tác giả. Khí chất, theo ông, là cửa sổ để nhà văn nhìn ra thế giới và do đó, theo tôi, cũng là cửa sổ để người đọc nhìn vào thế giới của nhà văn.

Người đầu tiên và duy nhất mang cách đọc này thực hành ở Truyện Kiều là Trương Tửu trong tác phẩmNguyễn Du và Truyện Kiều(2) (1942). Khởi nguyên thời điểm được ông gọi là thời đại (Nguyễn Du), chủng tộc thành giòng họ, môi trường thành quê hương nội và ngoại. Nguyễn Du thuộc giòng giống nho sĩ - thư/ quan lại có tài thơ văn. Nước Nam bấy giờ có năm cây bút tài giỏi nhất, An Nam ngũ tuyệt, thì nhà Nguyễn Du đã chiếm mất ba, trong đó có cá nhân ông. Hồng lĩnh Lam giang quê ông là một cảnh tượng hùng vĩ, nơi núi rừng, đồng bằng và biển cả chỉ một cái quay đầu là thu gọn vào trong tầm mắt. Nhưng đấy cũng là nơi khắc nghiệt: đất đai cằn cỗi, gió Lào khô nóng và bão tố lũ lụt. Hơn nữa, trong lịch sử, đây lại là miền biên viễn, nơi con người luôn phải đối mặt với chiến tranh, nhưng cũng là nơi tìm đến của những kẻ thành tích bất hảo, hoặc những người yêu thích tự do. Điều này làm nên tính cách Nghệcứng cỏi, ham hiểu biết, giàu ý chí ở Nguyễn Du. Nhưng ở thi nhân còn được bổ sung một nết đất khác là Kinh Bắc quê mẹ: mềm mại, trọng tình cảm và giàu óc tưởng tượng. Tuy vậy, quê hương và giòng họ là những yếu tố tĩnh, nó chỉ được đánh thức và trở nên sống động và tác động, cả ở cạnh khía tích cực lẫn tiêu cực, bởi một yếu tố động là thời đại. Thời đại Nguyễn Du là thời đại nội chiến liên miên, Nho giáo, thứ tôn giáo độc tôn và của nhà nước, trên đà suy tàn. Và cũng vì chiến tranh nên xuất hiện hai tầng lớp mới chưa từng có trong xã hội Việt Nam bấy giờ là quan binh và thương nhân. Họ lũng loạn tầng lớp quan/ thư lại bằng cách vừa đối lập với nó vừa trở thành nó, để phục hưng trở lại Phật giáo, Đạo giáo, văn hóa dân gian (lễ hội), nhưng có lẽ quan trọng hơn cả là cho ra đời tư tưởng thị dân. Đây là điều kiện cần cho sự lóe rạng của dân chủ, dù chỉ là thứ dân chủ đám đông.

Tất cả những khởi nguyên trên đã tạo ra khí chất, mà không hiểu sao Trương Tửu gọi là cá tính, của Nguyễn Du. Sự khác nhau giữa cá tính và tâm sự, theo Trương Tửu, là ở chỗ tâm sự thuộc về “cái phần sống hữu thức của con người”, còn cá tính là cái phần sống tiềm thức của người ta. Tiềm thức cũng là tư tưởng, nguyện vọng, tình cảm, ham muốn bị dồn nén xuống cõi vô thức, nhưng nó luôn tác động trở lại đời sống hữu thức ngoài sự nhận biết, sự kiểm soát của chúng ta. Cá tính Nguyễn Du là một tâm tính bất ổn “đi không yên ổn, ngồi không vững vàng”, một tình cảm thái quá, thường hay khóc mướn thương vay, mà tâm bệnh học gọi là hysterie (bệnh lo âu, ủy hoàng). Bệnh lo âu cũng dẫn Nguyễn Du đến hoang tưởng, thấy những điều mình tưởng tượng ra đều là thật. Nhưng, tâm bệnh này, từ góc độ người sáng tạo, lại trở thành lợi điểm. Nguyễn Du trở thành một nhà thơ có óc tưởng tượng phi thường. Đây là lý doTruyện Kiều trở thành một sản phẩm tuyệt vời của trí tưởng tượng, trong đó nhân vật không có thực, con ma Đạm Tiên, lại trở nên sống động, chân thực nhất. Ngoài ra, với tư cách là con cháu của một tầng lớp đang suy tàn, Nguyễn Du yêu thích sự tàn lụi, thậm chí nhìn thấy cái đẹp của sự lụi tàn. Không phải ngẫu nhiên mà trong Truyện Kiều nhiều buồn khổ, nhớ nhà, chia ly, đặc biệt là những trốn chạy của Kiều. Mà lần ra đi nào của nàng cũng vào lúc nửa đêm, có ánh trăng và tiếng gà gáy, cũng như cảnh tượng mồ mả. Những tượng trưng của chết chóc, tàn lụi, nhưng lại mang một chất thơ, một vẻ đẹp. Một vẻ đẹp của úa tàn. Như vậy, từ tâm sự đến cá tính (Nguyễn Du), nghiên cứu Truyện Kiều đã đi một bước từ nội dung xã hội sang đặc trưng nghệ thuật, từ cách đọc tiểu sử học sang cách đọc văn hóa - lịch sử, thậm chí cách đọc phân tâm học.

Việc mở rộng con người tiểu sử, hay cụ thể hơn tâm sự Nguyễn Du, sau 1945 còn đi theo một hướng khác. Người ta thừa nhận Nguyễn Du có tâm sự, nhưng không phải tâm sự hoài Lê, bởi Nguyễn Du gắn với Trịnh chứ không gắn với Lê. Còn thái độ của ông với Tây Sơn cũng dần dần thay đổi, nên mới xây dựng nhân vật Từ Hải như là ảnh xạ của Quang Trung. Và việc ông theo nhà Nguyễn là thực lòng, cái thái độ lừng khừng khi làm quan chỉ là một phép ứng xử mang tính chất tự vệ của văn hóa quan trường… Tâm sự Nguyễn Du, bởi thế, là nỗi lòng của ông trước xã hội, là những điều trông thấy của một “nhà thơ có con mắt rất hiện thực” (Trương Chính). Từ đó, cụ thể hơn, tâm sự Nguyễn Du thể hiện sự uất ức của thi nhân với giai cấp phong kiến mà vào thời đó người ta thường đồng nhất với thống trị thối nát. Và, cách hiểu tâm sự ấy giờ đây không chỉ bó hẹp ở nhân vật Thúy Kiều mà mở rộng sang tất cả các nhân vật khác, nhất là cái hiện thực xã hội được phản ánh trong tác phẩm. Đây chính là tiền đề cho cách đọc Truyện Kiều như là một phản ánh xã hội thời Nguyễn Du và, do đó, Truyện Kiều là một tác phẩm hiện thực chủ nghĩa, hay chí ít cũng là bước chuyển từ cổ điển sang hiện thực.

Tác phẩm tiêu biểu cho cách đọc phản ánh hiện thực này là Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du(3) (1972) của Lê Đình Kỵ. Là một người say mê các phương pháp sáng tác (dù bị phê phán kịch liệt) và chịu ảnh hưởng của nguyên lý văn học phản ánh hiện thực, Lê Đình Kỵ đã chứng minh rằngTruyện Kiều đã từ chủ nghĩa cổ điển với lối viết ước lệ, phi cá biệt hóa chuyển sang chủ nghĩa hiện thực với lối viết tả thực, cá biệt hóa. Do dó, Truyện Kiều đã phản ảnh được tình hình xã hội mà Nguyễn Du sống. Từ đó, Lê Đình Kỵ cho rằng có một xã hội Truyện Kiều với đầy đủ các vấn đề của nó. Đây là điều mới mẻ mà các truyện nôm cùng thời không làm được. Nhưng điều nhà nghiên cứu chú trọng hơn là các nhân vật mang tính hiện thực xã hội như Tú Bà, Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Hoạn Thư, Bạc Hạnh, Bạc Bà,… Đây là những sở cứ để Lê Đình Kỵ kết luận về chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du. Và dường như ông tin rằng nếu đặt Truyện Kiều vào chủ nghĩa hiện thực thì tác phẩm sẽ có giá trị hơn khi để nó nằm trong chủ nghĩa cổ điển. Chỗ này là một sai lầm chết người của nhà nghiên cứu tài ba Lê Đình Kỵ, bởi tư tưởng văn học thì có sự tiến bộ, tức giai đoạn sau có thể hơn giai đoạn trước, nhưng sáng tác văn học ở những đỉnh cao của nó thì không có hơn kém, chỉ có khác mà thôi. Truyện Kiều hay, không vì nó đã thuộc về phạm trù chủ nghĩa hiện thực, mà là cái hay tự nó của một nghệ thuật đỉnh cao.

Trên đây là những cách đọc ngoại quan, tức từ bên ngoài nhìn vào văn bản, lấy yếu tố bên ngoài, cụ thể là tác giả tiểu sử và tác giả mở rộng (văn hóa - lịch sử, hiện thực xã hội, phân tâm học tiểu sử…), để giải thích văn bản. Còn cách giải thích văn bản từ văn bản, tức cách đọc nội quan được bắt đầu bằng phân tâm học văn bản ở các công trình của Đàm Quang Thiện, Lê Tuyên. Trên kia, trong phần nói về cách đọc văn hóa - lịch sử của Trương Tửu, tôi cũng có nhắc đến cái nhìn phân tâm học của ông vào Truyện Kiều. Nhưng phân tâm học kiểu Trương Tửu thì, rút cục, vẫn xuất phát từ tác giả. Trương Tửu đã khởi từ phân tích tâm bệnh chủ thể sáng tạo Nguyễn Du để cắt nghĩa về Truyện Kiều. Phân tâm học của Trương Tửu đem vào đọc Kiều, do vậy, vẫn là một phân tâm học tiểu sử, cách đọc ngoại quan đi từ tác giả đến tác phẩm. Phản ứng lại cách đọc của Trương Tửu, và phần nào là cả Đào Duy Anh, đó là lý do để tác giả Đàm Quang Thiện thực hiện công trình Ý niệm bạc mệnh trong đời Thúy Kiều(4) theo cách đọc phân tâm học văn bản, cách đọc nội quan.

Tài tử điện ảnh, bác sĩ, nhà phê bình văn học Đàm Quang Thiện tiến hành công trình Ý niệm bạc mệnh trong đời Thúy Kiều bằng một thái độ phản ứng rất gay gắt với các quan điểm phân tâm học “sinh lý và bệnh lý” của Trương Tửu khi lý giải Truyện Kiều. Khác với Trương Tửu, và khác cả với phần lớn những nhà nghiên cứu trước đấy, chủ trương lý giải Truyện Kiều từ các căn nguyên bên ngoài tác phẩm nhưtiểu sử, hoàn cảnh xã hội, văn hóa - lịch sử, Đàm Quang Thiện cắt nghĩa Kiều bằng chính các dữ kiện mà văn bản Truyện Kiều cung cấp, từ cái nhìn chủ đạo phân tâm học. Phương pháp đọc Truyện Kiều của Đàm Quang Thiện, ngày nay, ta gọi đích xác cách đọc phân tâm học văn bản.

Ngay từ mở đầu công trình, Đàm Quang Thiện đã quả quyết đời Kiều, và toàn bộ diễn biến Truyện Kiềubị chi phối và quy định bởi ý niệm “bạc mệnh”. Công trình của ông, do vậy, là một làm sáng, cắt nghĩa xoay quanh từ khóa hạt nhân trung tâm là ý niệm “bạc mệnh”, hay khác đi, còn gọi là mặc cảm bạc mệnh (complexe du pire destin). Không quan tâm đến các dữ kiện ngoài văn bản, tác giả đưa mọi lý giải về ý niệm bạc mệnh trong Truyện Kiều từ các dữ liệu được/trong văn bản cung cấp. Kiều trước nhất, tiên thiên của nàng là một người đa cảm, do được kế thừa sinh học (gènes) từ cha (Vương ông) và mẹ (Vương bà) đều là những người trọng tình cảm. Nhưng đa cảm chưa phải yếu tố quyết định, mà nó chỉ là một yếu tố thuận lợi để phức cảm bạc mệnh triển nở về sau. Ý niệm “bạc mệnh” đến với Kiều trước nhất ở lời tiên đoán tiền định của ông thầy coi tướng: “Nghìn thu bạc mệnh một đời tài hoa” ngay khi thuở nàng Kiều “năm hãy còn thơ”. Đàm Quang Thiện vận dụng các thuyết phân tâm học để nhấn mạnh ý nghĩa niềm tin “bạc mệnh” ấy sẽ neo đậu, và đeo bám tâm sự Kiều suốt đời như một “đá tảng ném vào lòng cuộc đời” ngăn dòng sông tâm thức nàng “anh hoa phát tiết ra ngoài”.

Ý niệm bạc mệnh ấy, đeo bám Kiều, đến mức Đàm Quang Thiện nói là “thấm nhuần vào não chất, tâm cơ”, khiến con người tài học này soạn thành “một thiên Bạc Mệnh lại càng não nhân”. Lời ca, khúc nhạc như đứt từng khúc ruột. Kiều gọi đó là thiên “Bạc mệnh” ai oán như một tiền định. Và đỉnh điểm của ý niệm bạc mệnh đến trong một biến cố định mệnh, đẩy hẳn đời Kiều vào “bạc mệnh” là lần viếng mả Đạm Tiên. Khác với mọi người, khác với hai em Vân và Quan, chỉ riêng Kiều là khóc như mưa gió thảm sầu, một cách khác lạ, khi nghe chuyện Đạm Tiên: “Anh hoa phát tiết ra ngoài/ Ngàn thu bạc mệnh một đời tài hoa/ Sống làm vợ khắp người ta/ Hại thay! thác xuống làm ma không chồng!”. Kiều khóc cho người mà như khóc cho mình. Ý niệm bạc mệnh đã vận vào thẳm sâu vô thức tâm hồn Kiều. Lần chạm mặt định mệnh với Đạm Tiên, con ma bạc mệnh này, như Đàm Quang Thiện bình luận: “đưa Vương Thúy Kiều vào một quỹ đạo “bạc mệnh” chính xác hơn, cụ thể hơn, thực tế hơn, và cũng tàn nhẫn, bỉ ổi hơn”.

Truyện Kiều cứ thế, là một triển diễn phức cảm bạc mệnh của nàng Kiều. Phức cảm bạc mệnh đã ăn sâu vào giấc mơ, mà giấc mơ là thế giới của vô thức. Ý niệm bạc mệnh như đá tảng neo đậu kết cấu nên tòa vô thức đời Kiều, và Truyện Kiều. Sử dụng lý thuyết hệ tâm thần của phân tâm học, Đàm Quang Thiện bằng ngôn ngữ của ông đã chứng minh mặc cảm bạc mệnh: “dù có khuynh hướng bị đẩy lùi nhưng không bao giờ chịu nằm im trong Bản ngã. Trái lại, chúng luôn luôn tìm cách hiện ra ở Cá ngã. Chúng lợi dụng mọi trường hợp nghỉ ngơi hoặc lơ đãng của Thượng ngã, trong việc kiểm duyệt, để ra khỏi Bản ngã và hiện ra ở Cá ngã”. Đàm Quang Thiện chú thích: Bản ngã (Es) tương đương với Vô thức (Inconscient), Cá ngã (Ich) tương đương với Hữu thức (Conscient) và Thượng ngã (Uber-Ich) là Cá ngã lý tưởng, tương đương với Lương tâm [ngày nay, ta thường dịch là Siêu thức (Sur-conscient)]. Và mặc cảm bạc mệnh chìm sâu, dồn nén dưới tầng vô thức đã quy định toàn bộ cuộc đời Thúy Kiều. Kiều dù nhiều lúc cố gắng chiến đấu, vật lộn với mặc cảm bạc mệnh để mong thoát ra, nhưng như quy luật phân tâm học: “khi Hữu thức và Vô thức xung đột với nhau thì bao giờ Hữu thức cũng thua, Vô thức cũng thắng”. Vì thế, mặc cảm bạc mệnh trong đời Thúy Kiều bao giờ cũng thắng thế trong những tình huống xung đột. Và mặc cảm bạc mệnh, mà các hình thức phong phú của nó sẽ hiện lên trong các khúc, đoạn đời Kiều dưới nhiều hình thức như mặc cảm đoạn trường, mặc cảm Tiền Đường... Và cái mà có nhà phê bình trước kia, siêu hình mà gọi là thuyết định mệnh trong đời Kiều, giờ đây, với Đàm Quang Thiện, ông thấy rằng không có định mệnh chi hết mà chỉ có một mặc cảm bạc mệnh chi phối và dẫn đưa toàn bộ đời Kiều. Tất cả bí mật đời Kiều nằm ở mặc cảm bạc mệnh. Và mặc cảm ấy khi từ vô thức, được hữu thức hóa qua quá trình chuyển đổi nội tâm tự thân Kiều do cơ duyên ngẫu nhiên giác ngộ đạo Phật bởi Tam Hợp Đạo Cô đã chấm dứt mặc cảm bạc mệnh, chấm dứt 15 năm lưu lạc đời Kiều. Đàm Quang Thiện như đã viết ở phần kết quyển sách, chứng minh Nguyễn Du viết Truyện Kiều, không vì gì khác như thuyết thiên mệnh Khổng giáo, thuyết nhân quả Phật giáo, tâm sự phù Lê... và càng không phải là chứng minh Kiều như một con bệnh ẩn ức tính dục. Ông viết Ý niệm bạc mệnh trong đời Thúy Kiều, để thấy Truyện Kiều là một phân tích tâm lý thiên tài. Truyện Kiều cho thấy sức mạnh chi phối của các mặc cảm tâm lý trong đời con người là vô cùng to lớn. Công trình của Đàm Quang Thiện dù nhiều chỗ còn cho thấy có sự khiên cưỡng trong cách đọc Truyện Kiều từ phân tâm học. Tuy nhiên, hoạt động đọc này của ông đã thay đổi một hệ hình đọc, đọc không sự vào các sự kiện tiểu sử, mà dựa vào các dữ liệu được cung cấp bởi văn bản, mở ra một cách đọc hiện đại về tác phẩm văn học, cách đọc nội quan.

Tuy nhiên, xét từ lịch sử vấn đề, cách đọc nội quan lấy văn bản làm trung tâm của hoạt động đọc xuất hiện sớm nhất thì phải kể đến cách đọc hiện tượng luận về Truyện Kiều của Lê Tuyên. Một người vừa tốt nghiệp tiến sĩ văn chương ở Pháp về dạy Viện Đại học Huế. Là người chịu ảnh hưởng trực tiếp của hiện tượng luận Hussert và Bachelard, Lê Tuyên đã ứng dụng lý thuyết này vào đọc Truyện Kiều trong công trình Thời gian hiện sinh trong Đoạn trường tân thanh(5). Xuất phát từ hiện tượng luận hiện sinh kết hợp với sự phân tích thi pháp học sắc sảo và tinh tế, ông đã phát hiện ra một thời gian hiện sinh tồn tại trongTruyện Kiều gồm: 1) Thời gian ngoại tại và sự chuyển vần; 2) Thời gian nội tâm và dòng tâm lý; 3) Thời gian xã hội và sự phối hợp giữa con người và vũ trụ. Cùng với thời gian, một phạm trù khác, như là một cặp đôi với thời gian, của hiện tượng học cũng được Lê Tuyên đề cập đến là tồn tại. Theo ông, tồn tại là một quá trình thu giản hay phóng chiếu ý tưởng tính (intertionnalité) của chủ thể đến ngoại giới. Quan niệm chủ đạo này được Lê Tuyên nhấn mạnh trong một công trình khác của ông: “Như nhiều lần tôi đã quan niệm, cái nhìn của chúng ta là một cái nhìn nội giới, và khi ta phóng chiếu vào hiện tượng là chủ để tìm bản thể của ta”6. Hướng cái nhìn hiện tượng luận hiện sinh vào đọc Truyện Kiều, Lê Tuyên đã phát hiện ra những đặc điểm của tư duy thời gian từ chủ thể hiện sinh trong tác phẩm vĩ đại này.

Như vậy, cách đọc hiện tượng luận của Lê Tuyên, lấy chủ thể văn bản làm ga đi và ga đến của hoạt động diễn giải, đã mở ra, lần đầu tiên trong lịch sử phê bình văn học Việt Nam nói chung và lần đầu tiên trong cách đọc Truyện Kiều nói riêng, một cách đọc mới, tiếp cận tác phẩm từ văn bản, lấy văn bản làm đối tượng trung tâm cho hoạt động diễn giải, mở ra thời kỳ hiện đại cho phê bình văn học Việt Nam. Điều mà khoảng trên dưới hai mươi năm sau, cách đọc nội quan này, lại được tiếp tục, một cách độc lập, bởi các nhà nghiên cứu Phan Ngọc, Trần Đình Sử và một vài người khác.

Năm 1985, trước đổi mới một năm, Phan Ngọc với tác phẩm Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều(7) đã đưa ra một cách đọc mới từ phong cách học. Theo Phan Ngọc, mỗi một ký hiệu ngôn ngữ có hai mặt, mặt thông báo và mặt biểu cảm. Phong cách học chính là một khoa học chỉ nghiên cứu cái mặt biểu cảm của ngôn ngữ. Cụ thể hơn, nó nghiên cứu các kiểu lựa chọn và giá trị biểu cảm của các kiểu lựa chọn ấy. Để lựa chọn, ít nhất phải có từ hai phương án trở lên. Vậy nhà nghiên cứu phải làm cái thao tác đối lập để tìm ra các phương án này. Đó là sự đối lập cái âm, cái từ, cái câu, cái kiến trúc ngôn từ, cái thể loại đã có ở văn bản, tức là những cái đã được tác giả lựa chọn, với cái âm, cái từ, cái câu, cái kiến trúc ngôn từ, cái thể loại có thể dùng được mà vắng mặt trong văn bản do tác giả không lựa chọn. Và để xác định được phương án mà tác giả đã lựa chọn là có giá trị biểu cảm tốt nhất, người phê bình phải dùng phương pháp thay thế: lấy một hoặc nhiều phương án bị bỏ qua lần lượt thế vào chỗ phương án được lựa chọn để xác định hiệu quả nghệ thuật. Nếu hiệu quả nghệ thuật kém hơn thì sự lựa chọn của tác giả là đúng, còn không thì cái bỏ qua trở thành cái bỏ lỡ.

Một kiểu lựa chọn có giá trị thẩm mỹ thì, theo Phan Ngọc, trước hết nó phải được chuẩn bị về mặt ngữ cảnh, tức tạo ra một môi trường sống cho nó và của nó. Đánh giá một hiện tượng phong cách học chính là nhận xét xem nó có phù hợp với ngữ cảnh hay không. Ví như từ chuộc (động từ, bỏ tiền ra lấy lại một cái gì đó) trong bài thơ Khóc Tổng Cóc của Hồ Xuân Hương, sở dĩ nó có nghĩa thứ hai, tức trở thành một đồng âm phong cách học (danh từ con chão chuộc, một loại ếch nhái), vì nó đã được chuẩn bị bởi ngữ cảnh gồm có những từ cóc, (nhái) bén, nòng nọc, (chẫu) chàng. Hoặc câu “Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông” của Nguyễn Du đã được nhà thơ chuẩn bị ngữ cảnh cho nó thật công phu. Trước hết, câu này lấy ý từ câu “Đào hoa y cựu tiếu đông phong” của Thôi Hộ nên nhờ tính liên văn bản này mà ta hiểu ngay. Cái ngơ ngác của Kim Trọng khi trở về vườn Thúy cũng chính là cái ngơ ngác của chàng thi sĩ đời Đường cách đây trên nghìn năm. Tuy nhiên, cây đào của Nguyễn Du còn là cây đào cụ thể, cá biệt từng chứng kiến cuộc gặp đầu tiên của Kim - Kiều và chiếc thoa của Thúy Kiều đã mắc vào đấy. Bởi vậy, ông nói “Hoa đào năm ngoái” chứ không nói “Hoa đào cười với gió đông như xưa” là vì ông muốn chứng minh một sự thực: Kim Trọng ra đi đúng một năm, nay trở về. Hơn nữa, nói hoa đào năm ngoái còn cười vớigió đông năm nay là đã xóa bỏ thời gian vật lý và thay vào đó thời gian tâm lý để khẳng định sự thống nhất của sự vật với con người.

Tuy nhiên, không phải công trình nghệ thuật nào cũng có phong cách, mà chỉ có phong cách khi tác phẩm đạt được tính cấu trúc, tức sự thống nhất hữu cơ của các bộ phận trong một chỉnh thể. Bởi vậy, chỉ biết một bộ phận là có thể suy ra cái toàn thể, như lý thuyết toàn đồ đã chứng minh. Chính vì phong cách là một phạm trù chất lượng, nên trong nghệ thuật có được phong cách là một hiện tượng rất đáng quý. Và, vì thế, không phải tác giả nào cũng có phong cách, thể loại nào cũng có phong cách, và thời nào cũng có phong cách.

Sau khi đã trình bày một cách sáng rõ quan niệm của mình về phong cách và phong cách học, Phan Ngọc đi sâu vào Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều. Ông đã thực hiện một loạt những đối lập Truyện Kiều với tất cả những gì liên quan đến Truyện Kiều trước đó để tìm ra cái bước đổi mới của Nguyễn Du.

Trước hết, ông đối lập với Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân để chứng minh rằng tư tưởngtài mệnh tương đố là của riêng Nguyễn Du. Bởi, viết Truyện Kiều, Tố Như đã xóa bỏ cái chủ đề tình và khổ của Thanh Tâm Tài Nhân để thay vào đó triết lý tài mệnh tương đố. Và triết lý này, như ông đã chứng minh rất thuyết phục, không hề là một sáo ngữ mà là một vấn đề nóng bỏng của thời đại, đòi hỏi Nguyễn Du phải trả lời. Cũng đối lập với Kim Vân Kiều truyện, Phan Ngọc đã làm nổi bật phương pháp tự sự của Truyện Kiều bằng các biện pháp như gạt bỏ âm mưu, lập hồ sơ, rút gọn sự việc… Đây là những nhận xét rất đúng, tinh tế của Phan Ngọc. Có điều đây không phải là những sáng tạo hoàn toàn chủ động của Nguyễn Du như Phan Ngọc ca ngợi, mà có phần do sự quy định thể loại khi Tố Như chuyển một cốt truyện từ tiểu thuyết chương hồi bằng văn xuôi sang một truyện thơ.

Ngoài ra, đối lập với các truyện nôm xuất hiện trước, Phan Ngọc đã đi sâu vào những cống hiến mới của Nguyễn Du như bố cục Truyện Kiều theo yêu cầu của kịch, xuất hiện ngôn ngữ tác giả, ngôn ngữ nhân vật, xuất hiện nhân vật “ngồi một mình”, phương pháp phân tích tâm lý tàn nhẫn… để từ đó đi đến kết luận Truyện Kiều là một cuốn tiểu thuyết tâm lý. Là tiểu thuyết tâm lý, nó độc nhất vô nhị, chí ít là ở Việt Nam bấy giờ, và vượt xa tiểu thuyết chương hồi Trung Hoa để sánh ngang với, kể cả khi đã đi trước về thời gian, tiểu thuyết tâm lý của Stendale. Cũng từ những đối lập và nhờ những đối lập, mà Phan Ngọc đã tìm thấy những đặc sắc, độc đáo của Nguyễn Du trong kiến trúc câu thơ, trong ngôn ngữ, trong ngữ pháp. Có thể nói, cách đọc phong cách học đã giúp nhà nghiên cứu phát hiện ra những điều chưa từng được nói đến ở các đại gia nghiên cứu trước đó về Truyện Kiều.

Trong Thi pháp Truyện Kiều(8), Trần Đình Sử cũng có những khám phá mới, do một cách đọc mới, cách đọc thi pháp học. Ở đây, trong bài này, tôi chỉ nói đến một phát hiện giàu ý nghĩa của tác giả Thi pháp Truyện Kiều. Đó là chủ nghĩa cảm thương. Đây cũng là một mẫu mực của cách đọc đi từ cái cụ thể đến cái khái quát, từ hình thức của nội dung đến nội dung của hình thức, từ giọt nước đến biển cả. Nghiên cứu cốt truyện Truyện Kiều, một phạm trù của thi pháp học lịch sử, Trần Đình Sử rút ra mô hình cốt truyện, một khái niệm khái quát hơn, giàu ý nghĩa thao tác hơn. Ông so sánh mô hình cốt truyện củaTruyện Kiều với mô hình cốt truyện của các truyện nôm Việt Nam và truyện tài tử giai nhân Trung Hoa để đi đến kết luận Truyện Kiều có đặc điểm của cốt truyện tiểu thuyết. Rồi theo lý thuyết của Norman Frichman, người đã dựa vào ba tham số khả biến của cốt truyện là số phận, tính cách và tư tưởng để chia thành 14 loại hình tiểu thuyết: loại hành động, loại tình khổ, loại bi kịch, loại cảm thương, loại trừng phạt, loại khâm phục (đối với số phận), loại giáo dục, loại khải thị, loại cảm thụ, loại thất vọng (đối với tư tưởng), Trần Đình Sử xác định xem Truyện Kiều thuộc loại hình tiểu thuyết nào. Ông cho rằng, Truyện Kiều không thuộc loại tiểu thuyết tính cách như tiểu thuyết hiện thực phương Tây, bởi các nhân vật trong thế giới Truyện Kiều bước vào tác phẩm như thế nào thì bước ra tác phẩm vẫn có tính cách như thế. Bởi vậy, đúng hơn Truyện Kiều là một tiểu thuyết số phận gồm đủ cả ba yếu tố - loại hình: tình khổ, cảm thương, bi kịch, trong đó cảm thương là yếu tố chủ đạo.

Tình khổ là đặc điểm của tiểu thuyết tài tử giai nhân. Nguyễn Du có tiếp thu truyện tình khổ trong Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, nhưng nội dung tình khổ ở đây đã chen vào yếu tố cảm thương. “Đúng là một truyện tình khổ và cảm thương nhưng không phải chỉ là một số phận khổ, mà là ý thức sâu sắc về những nỗi đau khổ đó, là nỗi đau trong số phận khổ đó”. Đồng thời, Truyện Kiều cũng đậm chất bi kịch, bởi trong chuỗi bất hạnh của đời Kiều bao giờ cũng có một chút lầm lỡ nào đó của nàng. Nếu Kiều chỉ bị vùi dập thì là đáng thương, nhưng mọi cố gắng khôi phục địa vị làm người của nàng lại chỉ làm cho nàng bị vùi dập tàn nhẫn hơn thì đó là bi kịch. Ở Truyện Kiều cảm thương và bi kịch hòa quyện với nhau tạo nên một sắc thái độc đáo. Nhưng, “khi nào Kiều tỏ ra mạnh mẽ, tính toán, cương liệt thì nàng rơi vào bi kịch sâu hơn. Còn khi nào nàng tỏ ra là một con người cô đơn, yếu đuối, nhỏ nhoi, dại dột, hãi sợ thì nàng lại là đối tượng của sự cảm thương mạnh mẽ. Sự kết hợp hai loại hình làm sâu thêm cho quan niệm bi kịch và cảm hứng cảm thương của tác phẩm”. Tuy kết hợp cả ba loại hình như vậy, nhưng trong suốt Truyện Kiều, nhân vật luôn thấy mình là “chiếc lá lìa rừng”, “E dè sóng gió hãi hùng cỏ hoa”, nên, Trần Đình Sử kết luận, Truyện Kiều chủ yếu nghiêng về truyện thuộc loại hình cảm thương.

Lấy mô hình tiểu thuyết cảm thương của Truyện Kiều, như một khái niệm - chìa khóa, chúng ta có thể tìm hiểu tính chất của văn học cuối Lê đầu Nguyễn (ở đây, Trần Đình Sử trình bày ngược lại, ông lấy cả giai đoạn văn học thời đại Nguyễn Du này để chứng minh cho trường hợp Truyện Kiều). Chúng ta thấy ở trào lưu văn học vẫn được gọi bằng cái tên ít giá trị khái niệm hóa là nhân đạo chủ nghĩa này, cũng có ba xu hướng: hiện thực, cảm thương và lãng mạn. Và, chúng ta cũng dễ dàng nhận thấy được xu hướng cảm thương chủ nghĩa là chủ đạo, quy định tính chất của toàn bộ giai đoạn văn học này.

Trần Đình Sử cũng còn lấy nhiều dẫn chứng ở văn học cuối Minh, khi Nho giáo đã chuyển sang Tâm học. Từ đó, nảy sinh văn học dân chủ, giải phóng cá tính và khuynh hướng chủ nghĩa cảm thương. Điều này có thể thấy rõ trong một loạt tác phẩm như Đào hoa phiến, Trường sinh điện, Liêu trai chí dị và đặc biệt trong Hồng lâu mộng. “Dù là chủ đề tình yêu, chủ đề chính trị, chủ đề sắc không, đều hầu như không có cái gì nói rõ hơn được sự thăng hoa của trào lưu chủ nghĩa cảm thương vốn có cơ sở sâu sắc trong Hồng lâu mộng. Chính chủ nghĩa cảm thương làm cho Hồng lâu mộng tỏa ra những luồng ánh sáng khác lạ”.

Chủ nghĩa cảm thương được dịch từ Sentimentalisme trước đây vẫn gọi là chủ nghĩa tình cảm, theo Trần Đình Sử, là một trào lưu văn học có tính quốc tế. Ở châu Âu nó xuất hiện vào nửa cuối thế kỷ XVIII, khi chủ nghĩa tư bản phát triển mạnh mẽ, làm cho nông dân, thợ thủ công bị phá sản, quan hệ đồng tiền lạnh lùng thống trị xã hội. Chủ nghĩa tình cảm đề cao những giá trị con người phổ biến, đề cao tình cảm tự nhiên, tư tưởng dân chủ, chống lại lý tính lạnh lùng. Từ đó đau xót cho số phận con người, không kể giàu nghèo, sang hèn. Dịch từ Sentimentalisme là chủ nghĩa cảm thương, phải chăng Trần Đình Sử muốn nhấn mạnh sắc thái phương Đông, nơi chưa có chủ nghĩa tư bản và lý tính chưa phát triển thành chủ nghĩa duy lý?

Chủ nghĩa cảm thương, mà đỉnh cao là ở Truyện Kiều, rõ ràng là một nét đậm, một nhịp mạnh trong văn học Việt Nam trung đại. Và ảnh hưởng của nó còn kéo dài đến đầu thế kỷ XX qua Tương Phố, Đông Hồ, Tản Đà, Hoàng Ngọc Phách. Thậm chí, cả Thơ mới cũng giàu giọng điệu cảm thương. Chính chủ nghĩa cảm thương là một nhân tố quan trọng kìm hãm sự phát triển của chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa hiện thực. Cũng như cái cười của người Việt, tôi nghĩ, chủ nghĩa cảm thương, trong gốc rễ sâu xa của nó, bắt nguồn từ tâm thức dân tộc. Trước, từ tâm lý tiểu nông, những người có một thân phận bấp bênh trước một thiên nhiên thất thường và một bộ máy bạo quyền. Sau, từ tâm lý tộc người, một cộng đồng cư dân nhỏ phải sống sát nách một người láng giềng khổng lồ, hay gây sự, nên hay rơi vào thương thân, tủi phận. Bởi vậy, trong văn học cũng như trong đời sống hiện nay, để dấn bước vào tương lai, hòa nhập vào thế giới hiện đại, việc khắc phục chủ nghĩa cảm thương phải được chú trọng.

Còn một cách đọc Truyện Kiều khác của Phạm Công Thiện xuất phát từ Phật giáo. Nhưng, khác với Thích Nhất Hạnh và nhiều người khác nữa, Phật giáo với Phạm Công Thiện không phải là đích đến mà chỉ là ga đi và phần nào góp phần làm sâu sắc thêm tư tưởng của Truyện Kiều. Trọng tâm của công trìnhNguyễn Du đại thi hào dân tộc (1996) (9) vẫn là phân tích ngôn ngữ. Một nhà thơ đọc một nhà thơ thì trước hết chú ý đến ngôn ngữ tác phẩm. Song không phải ngôn ngữ như một công cụ nhằm diễn đạt tư tưởng, mà một ngôn ngữ phát sinh tư tưởng. Hay, như Heidegger, “ngôn ngữ là ngôi nhà của hữu thể”. Con người đi, đứng, nằm, ngồi và suy tư đều có ở trong ngôn ngữ. Phạm Công Thiện đã bộc lộ quan niệm đó về ngôn ngữ, khi thi nhân phân tích chữ trong ở câu mở Truyện Kiều: “Trăm năm trong cõi người ta”. Chữ trong của câu thơ trên, đáng lẽ phải gieo vần trắc, theo luật bb tt bb, thì Nguyễn Du lại đánh vần bằng. Nhưng, chính nhờ sự phá cách này, mà chữ trong giữ được thăng bằng giữa trăm năm chỉ thời gian và cõi người ta chỉ không gian. Như vậy, “chữ trong ở đây có thể chỉ mấy chữ đi trước, mà cũng có thể chỉ mấy chữ đi sau; có thể chỉ không gian và thời gian, và cũng có thể chỉ cái gì làm không gian thành không gian, làm thời gian thành thời gian, làm thời gian thành không gian và làm không gian thành thời gian, và đồng thời nói lên đồng thời tính và giới hạn tính của thời gian nguyên ủy” (tr. 46-47). Chữ trongcó được vai trò đó, theo Phạm Công Thiện, vì ở tiếng Việt nói trong (một cái gì đó) bao giờ cũng có ý nghĩa là trong lòng (một cái gì đó). Và, với sự phân tích chữ lòng chứ không phải chữ tâm, thi nhân chuyển từ triết lý “chữ” sang triết lý “nghĩa”, từ triết học ngôn ngữ sang triết học nhân sinh, hay triết học Phật giáo.

Trước đây, tôi cứ cho rằng, Phật giáo sau Lý - Trần, khi Nho giáo lên ngôi độc tôn, bị “đuổi” về quê sống với chùa làng, nên đã chuyển từ Thiền tông sang Tịnh độ tông, cho gần gũi với tầng lớp bình dân hơn. Bởi thế, Phật giáo Nguyễn Du trong Truyện Kiều, đặc biệt trong Văn tế thập loại chúng sinh, là Phật giáo dân gian. Bi kịch cá nhân và gia đình của ông kéo ông đến với Phật, nhưng cũng chỉ đủ mức độ để ông trở thành một nhà nho phi chính thống, nhà nho tài tử. Hẳn thế, nên các nhà nghiên cứu trước đây như Trần Trọng Kim, Đào Duy Anh, sau này như Cao Huy Đỉnh hoặc là đi tìm những chủ đề Phật học trongTruyện Kiều, tức là biến tác phẩm nghệ thuật thành tư liệu cho nghiên cứu Phật giáo, hoặc là lấy tư tưởng Phật giáo làm hệ quy chiếu cho nghiên cứu Truyện Kiều, tức là một thứ Phật giáo ở vành ngoài. Thậm chí gần đây, Thích Nhất Hạnh trong Thả một bè lau(10) còn lấy Truyện Kiều ra để làm tài liệu giảng dạy về kinh nghiệm tu tập cho chúng Phật tử. Phạm Công Thiện, ngược lại, cho thấy “tất cả tư tưởng Phật giáo đã thâm nhập vào từng chữ nghĩa của Truyện Kiều trong tinh thần “phương tiện thiện xảo” cho đại chúng bình dân mà chẳng bỏ quên tinh thần tham quảng ẩn mật thập huyền môn của Phật giáo ngay trong cách chuyển vận ngôn ngữ của nghệ thuật thơ ca và thế lực ẩn tàng của tư tưởng “siêu việt” (tr. 337). Đó là cách tiếp cận, mới và sâu, một tác phẩm nghệ thuật của ông.

Để cắt nghĩa thành tựu nghệ thuật của Truyện Kiều và địa vị đại thi hào dân tộc của Nguyễn Du, Phạm Công Thiện cho rằng Nguyễn Du không chỉ là một nhà Phật học, hay một học giả Thiền tông chỉ biết thuần về phương diện kiến thức, mà chính là một hành giả Thiền tông, tức người đã trải qua một quá trình tu tập có thành tựu. Như vậy, Nguyễn Du không chỉ là một thi sĩ - triết gia như Nguyễn Gia Thiều, Tagore, Holderlin…, mà chính là một thi sĩ - thiền sư, dù một thiền sư - cư sĩ. Trong bài thơ “Lương Chiêu Minh Thái tử phân kinh thạch đài” nhân chuyến đi sứ Trung Quốc, Nguyễn Du đã nói đến quá trình tu tập và đốn ngộ của mình:

Ngã độc kim cương thiên biến linh,
Kì trung áo chỉ đa bất minh.
Cập đáo phân kinh thạch đài hạ,
Chung tri vô tự thị chân kinh.

(Ta đọc Kim Cương hơn nghìn biến
Áo chỉ trong kinh không tỏ nhiều.
Cho đến dưới đài đá phân kinh,
Cuối cùng “vô tự” biết là chân kinh.)

Bỏ ra hàng nghìn lần để ngồi đọc kinh Kim Cương thì không phải là việc làm của nhà nghiên cứu, mà của người hành trì Thiền tông, người có trình độ căn cơ vượt lên trên hệ thống nhân quả, người nắm bắt được thực tướng của các pháp qua kiến thức nhờ vào định thức Duyên khởi, người biết vượt qua ngôn ngữ (công cụ) để thấy kinh không chữ mới là chân kinh. Hơn nữa, trong bài thơ đề động Nhị Thanh ở Lạng Sơn, Nguyễn Du còn viết:

Mãn cảnh giai không hà hữu tướng
Thử tâm thường định bất ly thiền
(Mọi cảnh đều không sao có tướng
Tâm này thường Định chẳng lìa Thiền)

Tuy nhiên, Nguyễn Du không hoàn toàn là một thiền sư “đạo sĩ”, bởi nếu là một người toàn thành như vậy thì ông không thể sáng tạo ra tác phẩm nghệ thuật theo nghĩa thông thường. Người nghệ sĩ thuần túy thì không cần sáng tác. Còn một Thiền sư - “đạo sĩ” như Nguyễn Du thì luôn luôn trở về với cuộc đời để cứu giúp kẻ lâm nạn bởi vọng tưởng bằng những Truyện Kiều, Văn tế thập đại chúng sinh, thơ chữ Hán, mà không hề biến tác phẩm nghệ thuật thành công cụ truyền giáo. Chính sự cân bằng, đúng hơn sự là một, của/ giữa nhà thơ và thiền giả đã tạo ra một tác phẩm mà trong đó triết học Phật giáo vừa ở bình diện tổng thể vừa nằm trong từng tế bào tác phẩm là từ ngữ. Nhà phê bình, do đó, có thể chuyển từ phân tích văn bản sang khoái lạc văn bản, phạm trù thưởng ngoạn.

***

Cuối cùng, đọc những cách đọc cũng là một cách đọc. Một mặt, cách đọc này cho người ta thấy được một lịch sử tiếp nhận thi phẩm. Mỗi một cách đọc lại lấn biên, thậm chí mở ra một không gian mới. Truyện Kiều, vì thế, là một đa thế giới, những thi giới khi thì tồn tại song song, khi thì lồng ghép, xoắn luyến vào nhau. Mặt khác, đọc những cách đọc còn cho thấy một tiến trình nhận thức Truyện Kiều nói riêng và văn học nói chung. Đây chính là lịch sử của phê bình văn học, đúng hơn lịch sử tư tưởng phê bình văn học, nhìn từ lý thuyết hệ hình.

Trước hết, có thể thấy cách đọc Truyện Kiều của Đào Duy Anh, của Trương Tửu, của Lê Đình Kỵ đều xuất phát từ tác giả tiểu sử hoặc tác giả mở rộng. Đây là phương pháp phê bình ngoại quan, lấy tác giả để giải thích tác phẩm theo nguyên tắc ngoại suy nhân quả. Tôi gọi đó là lối tiếp cận tác phẩm từ tác giả. Lối tiếp cận này so với phê điểm trung đại và phê bình ấn tượng thì nó đã mang tính khoa học, tìm ra những duyên cớ sáng tác và động cơ sáng tạo, đồng thời lý giải được một số những đặc sắc nghệ thuật, như trong trường hợp các sự kiện tiểu sử được Đào Duy Anh và Trương Tửu khái quát hóa lên thành các từ - chìa khóa như tâm sự Nguyễn Du hay cá tính Nguyễn Du. Tuy nhiên, thời đại Nguyễn Du cũng đã lùi xa và bản thân ông cũng ít được ghi chép, nên người ta không biết được nhiều về tác giả Truyện Kiều. Hơn nữa, kể cả khi đã biết chắc chắn một sự kiện nào đó thì việc lý giải nó ở mỗi người cũng mỗi khác, như các sự kiện: thái độ của Nguyễn Du với nhà Tây Sơn, lý do ông ra làm quan với nhà Nguyễn… Nhưng có lẽ, điều đáng nói hơn cả, lối tiếp cận tiểu sử học nhiều khi do quá chú trọng đến nhân thân tác giả, hoặc những hoàn cảnh văn hóa, kinh tế, xã hội tác động đến tác giả, đã tạo ra sự đảo lộn mục đích - phương tiện: đáng lẽ nghiên cứu tác phẩm thì hóa ra thành nghiên cứu tác giả. Tác phẩm chỉ còn là tài liệu để làm sang và làm sáng tác giả mà thôi. Hoặc trong trường hợp không đến nỗi tệ như vậy, thì lối tiếp cận từ tác giả dễ khiến nhà nghiên cứu chỉ chăm chăm đi tìm nghĩa chủ ý mà tác giả đan cài vào tác phẩm. Nhưng tác phẩm lại không chỉ có nghĩa chủ ý mà còn có nghĩa kiến tạo, tức là nghĩa do văn bản tạo ra. Bởi lẽ, thứ nhất văn bản là một hệ thống ngôn ngữ/ ký hiệu có tính tự trị, tự phát sinh ra tư tưởng;thứ hai tác phẩm không phải chỉ được sáng tác bằng hữu thức, mà chủ yếu còn bằng vô thức của nhà văn, nên tác phẩm bao giờ cũng dài rộng hơn nhà văn, khiến anh ta cũng không biết hết tác phẩm của mình. Đây chính là chỗ cần sự có mặt của những cách đọc mới, những cách đọc từ lối tiếp cận tác phẩm từ văn bản. Tôi gọi đấy là phương pháp phê bình nội quan dựa trên sự phân tích văn bản. Như cách đọcTruyện Kiều từ hiện tượng luận hiện sinh của Lê Tuyên, phân tâm học văn bản của Đàm Quang Thiện, phong cách học của Phan Ngọc, thi pháp học của Trần Đình Sử…

Từ lối tiếp cận tác phẩm từ tác giả đến lối tiếp cận tác phẩm từ văn bản là sự thay đổi hệ hình những cách đọc: từ tiền hiện đại sang hiện đại. Đây là một sự thay đổi lớn, sự thay đổi ở tất cả những ý niệm ngôn ngữ, nghĩa và ý nghĩa… Ví như, từ đây nó quan niệm rằng mấy ngàn câu thơ Truyện Kiều do Nguyễn Du viết ra chưa phải là tác phẩm mà mới chỉ là văn bản. Truyện Kiều như là một tác phẩm chỉ tồn tại khi có người đọc văn bản ấy, tức tác phẩm = văn bản + sự đọc. Từ đây hình thành lối tiếp cận thứ ba,tiếp cận tác phẩm từ người đọc, hoặc các phương pháp phê bình nội - ngoại quan, với những cách đọc mỹ học tiếp nhận, thông diễn học, nữ quyền luận, hậu thực dân/ thuộc địa… Sự chuyển đổi từ lối tiếp cận thứ hai sang lối tiếp cận thứ ba ở Việt Nam còn đang biến diễn, nên chưa có nhiều thành tựu. Riêng ởTruyện Kiều thì người ta có thể thấy đậm nhạt cách đọc hiện tượng học thông diễn từ cái nhìn Phật học của Phạm Công Thiện.

Như vậy, qua việc đọc những cách đọc Truyện Kiều, hay lấy Truyện Kiều làm phòng thử nghiệm những cách đọc, bạn đọc không chỉ thấy lịch sử phát triển của tư tưởng phê bình văn học Việt Nam, mà còn là lịch sử thám mã những không gian nghệ thuật tác phẩm. Tức một lịch sử văn học thực chất.

(Bài viết này được sự trợ giúp của Quỹ khoa học Công nghệ Quốc gia Nafosted)

Tháng 6.2014
ĐỖ LAI THÚY
Nguồn: SH308/10-14


-----------------------------
1. Đào Duy Anh, Khảo luận về Kim Vân Kiều, Quan hải tùng thư xb, Huế, 1943.
2. Trương Tửu, Nguyễn Du và Truyện Kiều, Nxb. Hàn Thuyên, H., 1942.
3. Lê Đình Kỵ, Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du, Nxb. Khoa học Xã hội, H.,1972.
4. Đàm Quang Thiện, Ý niệm bạc mệnh trong đời Thúy Kiều, Nam Chi Tùng Thư xb, 1965, Sài Gòn.
5. Lê Tuyên, Thời gian hiện sinh trong Đoạn trường tân thanh, T/c Đại học, số 9/1959.
6. Lê Tuyên, Thể tánh của thi ca, Seacapt, Hoa Kỳ, 2000.
7. Phan Ngọc, Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều, Nxb. Khoa học xã hội, H., 1985.
8. Trần Đình Sử, Thi pháp Truyện Kiều. Nxb. Giáo dục, 2002.
9. Phạm Công Thiện, Nguyễn Du đại thi hào dân tộc, Viện Triết lý Việt Nam và Triết học Thế giới xuất bản, California, USA, 1996.
10. Thích Nhất Hạnh, Thả một bè lau, Nxb. Tôn giáo, 2008.  


Tin bài khác:



Thứ Sáu, 9 tháng 8, 2019

Hồn buồn trường cửu trong thơ Huy Cận

Với tôi, Huy Cận (1919 - 2005) trước sau vẫn là nhà thơ số một trong các nhà thơ mới (1932 - 1945). Sự xuất hiện của ông trên thi đàn Thơ mới có thể ví như mạch sóng ngầm, trầm buồn xiết chảy mạnh mẽ giữa sôi sục của cơn hồng thủy Thơ mới đang cuồn cuộn dâng trào, hòng cuốn bay đi bức tường thành thơ nghìn năm cổ kính Đông phương mà dường như chưa có hồi kết. Cái hồn buồn trong thơ Huy Cận là cái hồn buồn của chàng trai 19 tuổi đầy sức sống mãnh liệt. Chính cái hồn buồn trẻ trung đầy sức sống ấy đã làm nên sự trường cửu trong thơ ca của ông.
Nhà thơ Huy Cận. Ảnh tư liệu

Tròn 100 năm tính từ ngày nhà thơ Cù Huy Cận ra đời (ông sinh ngày 31-5-1919) trong một gia đình nhà nho nghèo dưới chân núi Mồng Gà, bên bờ sông Ngàn Sâu (Hương Sơn, Hà Tĩnh). Tuổi thơ ông gắn liền với bờ ao, mảnh ruộng nghèo khó trên quê hương - nơi mà đại thi hào Nguyễn Du rồi Nguyễn Công Trứ đã từng cất lên những vần thơ trác việt giữa đất trời sông núi. Lớn lên, ông vào Huế học trung học, đậu tú tài, sau đó ra Hà Nội học Trường Cao đẳng Canh nông. Ông sống ở phố Hàng Than cùng với Xuân Diệu, sau chuyển về 24 Cột Cờ (nay là phố Điện Biên Phủ). Ông tham gia cách mạng từ năm 1942, là thành viên Ủy ban Dân tộc giải phóng toàn quốc. Ông cũng từng cộng tác với nhóm Tự Lực Văn Đoàn, từng giữ các chức vụ: Bộ trưởng kiêm Thanh tra đặc biệt của Chính phủ cách mạng lâm thời 1945, Bộ trưởng Bộ Canh nông, Bộ trưởng đặc trách văn hóa tại Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng... Tháng 8-1945, ông là một trong 3 thành viên của phái đoàn Chính phủ lâm thời (gồm Nguyễn Lương Bằng, Trần Huy Liệu và Cù Huy Cận) đi vào kinh đô Huế để tiếp nhận lễ thoái vị của vua Bảo Đại. Sau này ông về làm Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học-Nghệ thuật Việt Nam, Ủy viên Ủy ban chấp hành UNESCO, Viện sĩ Viện Hàn lâm thế giới về thơ, Chủ tịch Đại hội Văn hóa thế giới năm 1968... Ông mất ngày 19-2-2005, tại Hà Nội.

Huy Cận có thơ đăng báo từ năm 1936. Ông cho in tập thơ đầu “Lửa thiêng” năm 1940 và lập tức trở thành tên tuổi hàng đầu của phong trào Thơ mới lúc bấy giờ. Tập “Lửa thiêng” bao trùm một nỗi buồn mênh mang da diết. Thiên nhiên trong thơ ông bao la, hiu quạnh, đẹp và buồn. Nỗi buồn của phận người, của cuộc đời, buồn về quê hương đất nước. Các tập thơ sau này của ông tuy có cố gắng hòa vào mạch sống âm thầm trong vũ trụ và cõi đời, nhưng vẫn phảng phất một nỗi buồn man mác.

Tập “Lửa thiêng” chỉ gồm 50 bài thơ, nhưng lại ghi một dấu ấn sâu đậm, trở thành bước ngoặt quan trọng cho con đường đi của thơ ca dân tộc giữa cao trào Thơ mới lúc ấy. Vào những năm 30 của thế kỷ trước, khi mà loại thơ quy phạm viết theo lối Đường luật cổ xưa cũ kỹ đã quá chật chội, bức bối, không còn đủ khả năng phô diễn những tâm trạng, cảm xúc mới trong cõi thẳm sâu của tâm hồn, thì cũng là lúc nhiều nhà thơ đương thời mạnh dạn viết nên những bài thơ mang âm hưởng mới của thời đại, với những cách tân mạnh mẽ về cả nội dung và hình thức thơ. Nhiều tranh luận giữa mới và cũ diễn ra sôi nổi, thậm chí rất quyết liệt. Đúng lúc đó, một tập thơ mang tính cách tân triệt để xuất hiện, đó chính là tập “Mấy vần thơ” của Thế Lữ. Với “Mấy vần thơ”, người đọc lần đầu tiên được biết đến một phong vị thơ hoàn toàn khác lạ, một trải nghiệm mới với một cảm xúc mới, tâm hồn mới, cách nhìn mới. Bởi thế, ngay lập tức, “Mấy vần thơ” được tôn vinh như là sự khởi xướng, một sự bắt đầu của thời đại mới trong thi ca. Nó chấm dứt mọi tranh cãi giữa cũ và mới, mở ra một thế giới khác lạ đầy sôi động và háo hức, để rồi sau đó hàng loạt tập thơ gây tiếng vang lớn trên thi đàn liên tiếp ra đời: “Điêu tàn” (năm 1937) của Chế Lan Viên; “Thơ thơ” (năm 1938) của Xuân Diệu; “Tiếng thu” (năm 1939) của Lưu Trọng Lư; “Thơ say” (năm 1940) của Vũ Hoàng Chương... Cũng chính vào lúc cao trào Thơ mới đang dâng lên chót vót với đỉnh cao Xuân Diệu là đại diện, thì hình như trong sâu thẳm đâu đó, người đọc vẫn cảm thấy còn cái gì gờn gợn, chưa trọn vẹn. Cái sự gờn gợn, chưa trọn vẹn ấy là gì, người ta chưa thể minh định rạch ròi chính xác, nhưng cảm nhận thấy cái mới ấy đã đi quá xa chăng? Xa đến mức mới quá, Tây quá... Và đó cũng là lúc “Lửa thiêng” ra đời. Sự ra đời của “Lửa thiêng” giống một mặt hồ rộng lớn tĩnh lặng, cổ kính Đông phương, như muốn kéo chậm lại dòng chảy Thơ mới đang gầm gào cuộn xiết giữa muôn hình vạn trạng thác ghềnh, với những ồn ào náo động đậm chất Tây phương xa lạ, muôn vẻ sắc màu. Hình như trong thẳm sâu tâm hồn của thi hào Huy Cận, sự rộng lớn, khác lạ, mới mẻ của phương Tây cũng không đủ để ông bày tỏ những xúc cảm nhiều trắc ẩn, chân thực, thăm thẳm của cõi lòng ông. Có phải vì lẽ đó mà sau những bài thơ đậm chất Tây phương, ông lặng lẽ trở về với nỗi buồn vạn cổ Đông phương. Cái hồn thơ ấy thẳm vời về sâu xa ký ức ngàn năm dân tộc. Ông cô đơn một mình giữa mênh mông Thơ mới, cô đơn trong chính cõi lòng, trong chính sự ồn ào náo động Thơ mới. Phải chăng chính nỗi niềm ấy đã biến chàng trai đang tràn trề sức của tuổi hai mươi lại mang trong mình một tâm hồn thơ vạn cổ, nhưng đầy cuốn hút, trẻ trung.

Cảm hứng trong thơ Huy Cận khác hẳn với vẻ ồn ào nồng cháy trong thơ Xuân Diệu. Ông không dấn mình lạc sâu vào thế giới Tây phương, mà âm thầm bộc bạch một cách trung thực nhất cõi lòng mình, cái cõi lòng không biết từ bao giờ đã bao trùm một nỗi buồn xa xăm u tịch, cổ kính mà thâm trầm sâu sắc. Những vần thơ của ông cất lên như tự một cõi xa xăm nào đó của cố nhân: “Một hôm trận gió tình yêu lại/ Đứng ngẩn trông vời áo tiểu thơ” (“Học sinh”). Nhà thơ chợt giật thót mình trước cơn cuồng phong mê sảng của Thơ mới, nên bần thần, ngơ ngác trông vời ký ức đẹp đẽ đang trôi qua đi mất. Bởi vậy, khi tĩnh tâm trở lại thì: “Lòng êm như chiếc thuyền trên bến/ Nghe rét thu về hạ bớt mui” (“Mưa”). Chao ôi! Nỗi buồn ấy sao mà mênh mông diệu vợi hắt hiu đến thế. Nỗi buồn ấy cũng chính là tâm trạng của thi sĩ sau những ồn ào náo động, lặng lẽ trở về với chiều sâu tĩnh lặng thâm trầm của tri âm cổ kính ngàn xưa.

Cảm nhận vẻ đẹp u hoài, có thể ví như những bức tranh thủy mặc Đông phương trong thơ Huy Cận, để ta biết một hồn thơ thâm trầm lặng lẽ giữa vũ trụ bao la nhưng hoang vắng đơn côi. Trong tập “Lửa thiêng”, những bài thơ trác việt nhất là những bài mang màu sắc thâm u huyền bí Đông phương... Với Huy Cận, “cái đẹp bao giờ cũng hơi buồn”. Bởi thế, ví như cái buồn trong “Tràng giang” của ông cứ tầng tầng lớp lớp nối tiếp nhau như những đợt sóng xô dạt vào bất tận. Bản thân cái tên “Tràng giang” đã gợn lên một nỗi buồn xa xăm thầm kín mà âm vang mênh mông. Ngay từ câu thơ đầu “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp” đã cho một thông báo về nỗi buồn sâu, chảy dài bất tận. Từ nỗi buồn điệp điệp chuyển sang nỗi buồn hai ngả “Con thuyền xuôi mái nước song song” rồi bỗng vỡ òa ra “trăm ngả”, bởi tâm thế “Củi một cành khô lạc mấy dòng”. Từ nỗi buồn “điệp điệp” đến “song song” rồi òa ra “trăm ngả” đã trào dâng một nỗi buồn cùng tận, nỗi buồn ẩn chứa bao đau đớn, xót xa. Một nỗi buồn chơ vơ không nơi bấu víu, bị dồn đến bước đường cùng trong vô định thời gian “lạc mấy dòng”... thì còn đâu có chỗ cho sự hồ hởi, vui tươi náo động kiểu “Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!” như Xuân Diệu nữa.

Cái buồn của “Tràng giang” cứ lơ thơ tan loãng đìu hiu từ cồn cát nhỏ lan sang tận nơi chợ chiều phía làng xa, rồi phát triển mở rộng đến: “Nắng xuống, trời lên sâu chót vót/ Sông dài, trời rộng, bến cô liêu”. Lớp lớp nỗi buồn triền miên trên con đường vô định “Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng” để trở về với “Lòng quê dợn dợn vời con nước/ Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”. Cái buồn sao mà vắng lặng, hoang vu đến thế, cái buồn của nỗi day dứt khôn nguôi về tình người, tình đời giữa sa mạc cô đơn, dường như vắng bóng mọi sinh linh trên mặt đất. Nó chặn đứng mọi khát vọng mong manh của con người trên con đường vô định...

Có lẽ trong tất cả các nhà thơ mới, Huy Cận là người mang trong mình niềm trắc ẩn thầm kín sâu xa nhất. “Tai nương nước giọt mái nhà/ Nghe trời nặng nặng, nghe ta buồn buồn” (“Buồn đêm mưa”). Cái sự nghe nỗi buồn này không phải nghe bên ngoài, nghe bằng tai mà nghe bằng tâm cảm thẳm sâu của thi sĩ. Chỉ là giọt nước rơi trên mái nhà mà “Lòng run thêm lạnh nỗi hàn bao la”. Chính bản thân Huy Cận tự nhận: “Chàng Huy Cận khi xưa hay sầu lắm”. Nhưng cái sầu, cái buồn của Huy Cận lại mang vẻ đẹp thâm trầm của Đông phương, của dân tộc. Đọc thơ ông, tự sâu thẳm lòng ta dào lên niềm xúc động cảm thương sâu sắc. Đi suốt tập “Lửa thiêng”, ta bắt gặp triền miên nỗi buồn mênh mang sâu thẳm. Nỗi buồn Huy Cận thường là bột phát, vô cớ mà tự nhiên như chính con người ông. Nỗi buồn được coi là “ảo não bậc nhất” ấy, đậm sâu mà vẫn thanh thoát lạ thường. Nó không gay gắt, bực bội kiểu “Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất/ Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật” (“Vội vàng”-Xuân Diệu) hay “Người ta khổ vì cố chen ngõ chật/ Cửa đóng bưng nên càng quyết xông vào/ Rồi bị thương, người ta giữ gươm dao/ Không muốn chữa, không chịu lành thú độc” (“Dại khờ”-Xuân Diệu). Cái buồn của Huy Cận là cái buồn đẹp, cái buồn mang khuynh hướng lãng mạn, của lý tưởng thẩm mỹ trong chính con người cá nhân nhà thơ. Cái buồn về thân phận con người giữa vũ trụ bao la. Nó chính là cái đẹp, là sự chiến thắng của thơ. Nỗi buồn ấy là cảm thức về con người thiên nhiên, vũ trụ, luôn khao khát vươn lên đi tìm ánh sáng của sự sống dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Lần theo “Những chân xa vắng dặm mòn lẻ loi” mà nghe “Trăm muôn giọt nhẹ nối lời vu vơ” (“Buồn đêm mưa”) để nhận ra tiếng tiền nhân cổ xưa vang vọng trong thơ ông. “Vạn lý sầu lên núi tiếp mây” (“Vạn lý tình”), “Buồn gieo theo gió veo hồ”, “Phất phơ buồn tự thuở xưa thổi về” (“Chiều xưa”). Hồn thơ thi sĩ lặng lẽ trôi về miền xa xăm, mà ngẩn ngơ níu giữ: “Xuống rừng nẻo thuộc nhìn thu mới về/ Sắc trời trôi nhạt dưới khe/ Chim đi lá rụng, cành nghe lạnh lùng” (“Thu rừng”). Cái nỗi buồn ấy thăm thẳm chùng xuống đến tận đáy: “Ôi nắng vàng sao mà nhớ nhung/ Có ai đàn lẻ để tơ chùng?” (“Nhớ hờ”)...

Hồn buồn Huy Cận không ngẫu nhiên mà có. Chúng ta biết vào thời bấy giờ, xã hội Việt Nam đang trong giai đoạn ngổn ngang muôn nỗi. Cuộc sống rối ren, tơi bời của xã hội nửa thực dân, nửa phong kiến dẫn đến tâm trạng u uất, buồn rầu, lạc lõng giữa thế gian của các nhà thơ. Bản thân Huy Cận cũng mệt mỏi, ngột ngạt giữa hiện thực của người dân bị mất nước, tràn ngập thói hư tật xấu, bức bối nên tự nó đã dẫn tâm hồn thi sĩ của ông trở về đắm mình trong tòa lâu đài thi ca cổ kính nơi tiền nhân. Cái buồn, sự trống rỗng, cô đơn trong thơ ông là cái buồn mang đậm truyền thống thẩm mỹ thơ ca dân tộc. Nếu Xuân Diệu luôn mộng mơ, cứ bám riết vào đất mà nồng nàn say đắm thì Huy Cận vừa sâu sắc thâm trầm, vừa cao xa thăm thẳm...

Tiếng thơ của ông cất lên như tiếng vọng từ ngàn năm trước. Vẻ đẹp của tiếng thơ ông nghe như khúc độc huyền cầm vút lên giữa đêm trăng thu tĩnh lặng bên hồ Ngọc Bích. Một ai đó nhận xét: Chính bằng nghệ thuật kỳ ảo, vừa thông thái vừa giản dị, vừa vũ trụ vừa ngày thường, mà thơ ông đã đạt đến tính phổ biến của nhân loại...

Huy Cận - nhà thơ buồn nhất trong các nhà thơ mới và cũng là nhà thơ với những kiệt tác thơ còn sống mãi cùng thời gian.

TRẦN ANH THÁI
Nguồn: QĐND

Tin bài khác:

Nhà phê bình văn học Chu Văn Sơn: Suốt một đời đi tìm cái đẹp

Từ CHLB Nga, Tiến sĩ Toán học Nguyễn Hùng Phong chia sẻ: “Trời phú cho Chu Văn Sơn một khả năng cảm nhận, một con mắt nhìn ra cái đẹp của văn chương”.

Khóa “Kiêu binh”

Vậy là thầy đã đi xa thật rồi. Ánh hồi quang cuối cùng của một thế hệ vàng giảng dạy và nghiên cứu văn học vụt tắt. Học trò của thầy không còn được trò chuyện cùng thầy khi gặp gỡ cafe hay chat cùng thầy trên facebook.
Tiến sĩ Chu Văn Sơn (1962 – 2019).

Có lẽ sẽ phải nhiều năm nữa mới lại có một người thầy giảng văn tài hoa và tinh tế ở trường phổ thông, khiến học trò yêu văn đẹp, mê văn hay như thầy đã làm được.

Thầy đã đi quãng đường 58 mùa xuân, mới thêm 8 nhịp của một phần hai kiếp nhân sinh ba vạn sáu nghìn ngày, vậy là cũng đủ tài hoa trọn một cuộc đời. Một người bạn đồng niên với thầy đã lặng đi khi em báo tin thầy rời cõi tạm. “Có lẽ trời xanh kia muốn giữ mãi hình ảnh trẻ trung của Chu Văn Sơn chứ không muốn có một Chu Văn Sơn lụ khụ”.

Nói xong, anh cố giấu những nỗi xúc động, vờ quay mặt nhìn xa xa... Cái đẹp bao giờ cũng mỏng manh và người tài hoa tuổi thọ hình như chẳng được dài?

Trương Trào chẳng phải có câu: "Tài tử mà lại đẹp, mỹ nhân mà lại biết làm văn ắt là không thọ được. Không phải do tạo hóa đố kỵ mà bởi hạng người đó không chỉ là báu vật của một thời mà là báu vật của muôn đời, nên không thể lưu lại lâu trên cõi thế mà hóa ra nhàm".

Đầu năm Kỷ Hợi này, một người bạn đồng niên, đồng môn của thầy là chị Lại Thái Hưng từ CHLB Đức về, hai chị em trò chuyện, chị lại nhắc đến thầy, đến những kỷ niệm của khóa kiêu binh.

Trong hơi thở của trời xuân rất khẽ, từng kỷ niệm của chị và những mẩu chuyện thầy từng kể cho em nghe cứ đan cài để thành một bức tranh xinh xắn về khóa học có một không hai ấy.

Năm học 1979-1983 của khoa Văn, cái tên hồi đó còn thêm số I đằng sau là Trường Đại học Sư phạm Hà Nội I, với nhiều cái đầu tiên. Lần đầu tiên tổ chức thi học sinh giỏi trên quy mô toàn quốc.

Lần đầu tiên có chuyện đội tuyển được vào thẳng Sư phạm. Khóa ấy, như lời thầy kể thì “toàn những tay khá cả”. Đi kèm với đó là kiêu và quậy. Như lời chị Hưng nói, đó là đám “kiêu binh” đã khiến các thầy cô phải điên đầu.

Có những giờ giảng mà nhìn xuống lớp học chỉ lưa thưa vài sinh viên, còn đâu là nghỉ học cứ như bãi khóa. Nguyên nhân cũng bởi nhiều thầy cô dạy “buồn chết đi được”, đấy là sau này lúc vui chuyện thì thầy tỉ tê kể cho em nghe. Nhiều biện pháp đã được Đảng ủy khoa, Ban chủ nhiệm khoa, Liên chi đoàn khoa áp dụng nhưng chẳng ăn thua. Kiêu binh vẫn cứ bỏ tiết.

Chỉ đến khi những giờ giảng của các giáo sư Nguyễn Khắc Phi, Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Hoành Khung, Phan Trọng Luận… thì lạ thay, chẳng ai bảo ai, lớp học lúc nào cũng chật kín.

Sau đó, xuất hiện những bài vè, bài họa thơ chân dung các thầy: “Vừa dạy vừa hát/ Là thầy Thế Cường/ Vừa dạy vừa “lườm”/ Là thầy Trường Phát/ Vừa dạy vừa quát/ Là thầy Hoàng Dung/ Thầy Lưu Đức Trung/ Hiền chi hiền thế…”.

Nhắc đến chuyện làm vè, thì đỉnh cao phải kể “nửa đêm truyền hịch”, “rạng ngày bố cáo” đã làm náo loạn xô chậu và ầm ĩ đèn đuốc trong khu nhà A7 ký túc xá của sinh viên khoa Văn. Nhiều bài hịch, bài cáo, những khoá sau vẫn còn truyền tụng, như “Cáo cử nhân đăng trường ứng thí”, “Cáo tú tài tựu trường”, “Hịch sống vệ sinh”....

Lụy cái đẹp

Hình như trong quãng thời gian vừa tròn một con giáp được làm học trò của thầy, tôi chưa bao giờ gặp thầy vào mùa hè? Có lẽ như thế. Tôi chỉ gặp thầy vào mùa xuân và mùa thu. Tại sao tôi nhớ như vậy, vì hình như thầy cũng không ham la đà bia rượu. Mà bia rượu thì tập trung mùa hè.

Phải rồi, mùa hè, còn là mùa thầy bị “nhốt” để ra đề thi học sinh giỏi và đề thi tuyển sinh quốc gia, đề thi tuyển sinh đại học. Tốt nghiệp, ra trường đi làm tôi mới hiểu vì sao những giờ giảng của thầy luôn được đông đảo học trò đến lớp ngồi nghe như thế.

Có bạn tôi mới đây nhắc lại bài giảng, thầy đã nói sự khác nhau của sinh viên năm 1-2-3-4 là ở chữ R.

Năm nhất thì “Rạo rực”, năm hai “Ríu rít”; năm 3 “Rộn ràng” và năm tư thì “Rệu rã” Cảm giác của chúng tôi thì giờ học của thầy lúc nào cũng đầy đủ và không khí thầy trò rất gần gũi. Gần như giờ thầy lên lớp ai cũng ghi chép rất đầy đủ về cái thế giới nghệ thuật có vườn tình và tình nhân.

Ra trường, đi làm, thầy trò càng có thêm những dịp chia sẻ chuyện của khoa khi những cơn lốc bất ngờ ào qua, tôi càng biết, càng hiểu và càng thêm yêu quý thầy.

Mặc dù tôi không theo nghề dạy học mà đi làm báo nhưng đôi lúc hứng chí tôi vẫn lên lớp cho một số sinh viên chuyên ngành báo chí. Thầy là tấm gương để tôi soi vào làm sao có những giờ giảng mà chẳng cần điểm danh sinh viên vẫn đến lớp đều.

Muốn vậy, người thầy, ngoài kỹ năng sư phạm, còn phải có yếu tố của một nhà khoa học và một người nghệ sĩ. Lý thuyết thì đơn giản như vậy đấy nhưng để thực hành được thì phải rèn luyện kiên trì cộng với một chút của trời cho mà không phải ai cũng có.

Trời đã phú cho thầy con mắt nhìn ra cái đẹp của văn chương, bằng tư duy khoa học và kỹ năng sư phạm, thầy như một khối nam châm có sức hút sinh viên vào các bài giảng, dù chúng có tản mát hay nhẩn nha rong chơi, mải mê chinh chiến và yêu đương ở góc biển chân trời nào cũng đều thấy tiếc nếu không được nghe thầy giảng bài.

Đôi khi, tôi lại vẩn vơ nghĩ, bây giờ công nghệ hiện đại, sinh viên lên lớp có thể quay clip toàn bộ bài giảng, hay livestream bài giảng của thầy, nhưng cái thú vẫn là được trực tiếp ngồi nghe thầy giảng bài rồi đôi khi hỏi cắt ngang một câu vừa nảy ra trong đầu. Dù bị bất ngờ nhưng thầy vẫn trả lời gãy gọn và lại nhập vào làn bài giảng mà không hề lạc hướng.
“Tự tình cùng cái đẹp” – cuốn sách cuối cùng của Tiến sĩ Chu Văn Sơn.

Trong ghi chép của tôi về giờ giảng của thầy có một lát cắt về sinh viên sư phạm. Ngay từ đầu thầy đã muốn kích thích sinh viên sáng tạo bằng cách phá vỡ và vượt lên những nếp tư duy cũ kỹ hằn sâu và ăn sâu thành thói quen vô thức, phản xạ khó bỏ của con người. Thầy cắt nghĩa màu sắc để người ta nhận ra sinh viên sư phạm là gì: là cái chất chân phương, mực thước.

“Điều này yếu tố tích cực của nó là đem lại cho số đông những người trong xã hội, đặc biệt là những người già một cảm giác yên tâm”. Chỉ một câu nhưng thầy dừng lại đôi chỗ, cười thành tiếng như muốn nhấn mạnh đến mấy chữ “người già”, đến “cảm giác yên tâm”.

Bỗng có tiếng một nữ sinh hỏi vọng lên: “Chúng ta là lãng tử”. Thầy trả lời ngay: Chúng ta đừng hiểu lãng tử theo nghĩa phất phơ. Lãng tử, nghĩa gốc của nó là người lãng mạn. Mà lãng mạn không phải là người sống kiểu tài tử, phù phiếm, thậm chí nhom nhem.

Theo tôi, lãng tử là người có một đời sống tinh thần thật sự phóng túng”. Câu trả lời của thầy thuyết phục sinh viên ngay để thầy tiếp tục lái vô-lăng về làn bài giảng.

“Các bậc phụ huynh nhìn thấy chân phương mực thước là yên tâm để họ trao gửi con gái mình cho chúng ta”. Lẽ ra phải là trao gửi “con cái” nhưng thầy nháy mắt đùa vui với mấy cậu sinh viên chúng tôi, “mỳ chính cánh” trong lớp, mà đổi thành “con gái”. Trao gửi con gái cho mấy anh sinh viên văn khoa thì cứ yên tâm.

Thầy cắt nghĩa, thực chất sinh viên sư phạm tự cắt xén mình mà không biết. Điều đáng buồn ở tuổi trẻ sư phạm đó là bị đám đông vô hình cuốn đi.

“Theo tôi nghĩ, khi chúng ta có cá nhân mạnh thì chúng ta sẽ có ý thức cá nhân mạnh. Ý thức cá nhân mạnh tức là luôn luôn khao khát mình được là mình chứ không phải là bản sao của người khác. Mình không phải là cái bóng của người khác, và mình không phải là sự hòa tan vào đám đông. Mình phải là mình. Tất nhiên đừng phủ nhận đám đông, đừng bất chấp đám đông. Tôi nhắc lại: không nên để mình bị hòa tan vào đám đông. Càng không nên là người bị uốn nắn. Chúng ta phải là mình, trước hết là mình”.

Thầy đi xa mãi rồi, một đời tài hoa, một đời luỵ cái đẹp, sẽ chẳng còn cơ hội cho em được đọc những bản thảo thầy gửi qua email như “Ăngkor những đối cực của cái đẹp”, như ngày nào nữa.

Nhớ đến Hoài Thanh

“Đọc Chu Văn Sơn, hoặc một bài viết nghiêm túc đăng báo hay chỉ một note nhỏ trên facebook, tôi luôn thấy thú vị. Thú vị vì ở anh luôn có những phát hiện rất tinh tế, bất ngờ. Anh nhìn thấy, phát hiện ra những cái đẹp mà ít người nhìn thấy. Một ngòi bút thật tài hoa và tinh tế. Trời phú cho Chu Văn Sơn một khả năng cảm nhận, một con mắt nhìn ra cái đẹp của văn chương.

Không hiểu sao, đọc Chu Văn Sơn tôi cứ hay liên tưởng đến Hoài Thanh. Có lẽ vì bởi ở Chu Văn Sơn có những điểm tương đồng với tác giả của "Thi nhân Việt Nam"?

Tiến sĩ Toán học Nguyễn Hùng Phong - CHLB Nga

Tiếng kêu vô nghĩa

“Ở một đoạn khác, thầy giảng về hai mệnh đề. Thứ nhất, chúng ta trưởng thành trong cô đơn. Thứ hai, chúng ta sáng tạo trong cô đơn.

“Cô đơn là khi mà cái tôi đối diện với chính nó. Đối diện với chính nó thì bao giờ cũng trả lời được câu hỏi rất tốt thế này: Mình là ai nhỉ? Mình là ai trong cõi đời này? Mình định trở thành ai? Mình là gì ở trong cõi đời này?”

Vừa lúc đó, ngoài đường Xuân Thủy có tiếng hú dài của ôtô cấp cứu 115 hay cảnh sát 113 dẹp đường, khiến cả lớp cười rộ lên. Còn thầy cũng tếu táo: “Đó, câu trả lời: Mình chỉ là tiếng kêu vô nghĩa”.

Nhật ký của Khải Mông

KIỀU MAI SƠN
Nguồn: ANTGCT
Tin bài khác:




Thứ Năm, 8 tháng 8, 2019

Tia nắng Thu Bồn…

Năm 1972 tôi được phân công dạy văn lớp 10 (hệ 10 năm) ở trường cấp III Quốc Oai, Hà Tây. Trong chương trình văn học hiện đại có Bài ca chim Chơ rao của Thu Bồn. Trong lời giới thiệu tác phẩm, sách giáo khoa viết: “Thu Bồn là một nhà thơ miền Nam trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Bài ca chim Chơ rao là bản trường ca ca ngợi tinh thần đấu tranh quật khởi của đồng bào Tây Nguyên, ca ngợi mối tình đoàn kết Kinh Thượng”.

Lúc ấy tôi không hề biết Thu Bồn là ai chỉ đoán rằng Thu Bồn là một nhà thơ từ miền Bắc vào lấy bút danh Thu Bồn, tên một dòng sông miền Trung, như Xuân Thiều lấy bút danh Nguyễn Thiều Nam… Và rồi suy nghĩ ấy cứ định vị trong tôi nhiều năm. Nhưng có một điều: đọc và dạy Bài ca chim Chơ rao của Thu Bồn tôi thật sự cảm phục, ngạc nhiên đến sững sờ. Hồi đó tôi chưa hề đến Tây Nguyên, chỉ biết Tây Nguyên qua Trường ca Đam Sam và nhất là qua tác phẩm Đất nước đứng lên... Thế mà đọc Bài ca chim Chơ rao, tôi đã cảm nhận được chất bi tráng, dữ dội, chất Tây Nguyên thấm đẫm trong từng lời thơ. Đến nay đã hơn 40 năm trôi qua, tôi vẫn nhớ đoạn trích nói về cái chết của hai chiến sĩ cách mạng: Hùng người Kinh và Rin người Thượng.
Nhà thơ Thu Bồn

Đây là đoạn mở đầu:

Máy rú xe từ từ lăn bánh
Hai chiến sĩ điềm nhiên đến pháp trường
Hùng và Rin nhìn trời mây cây cỏ
Lần cuối cùng vĩnh biệt quê hương
Hai chiến sĩ bị kẻ thù trói chặt vào cây để hành hình
Trên nương sáng nay lúa vừa ngậm sữa
Chúng đem Hùng, Rin trói chặt vào cây
Thu Bồn ca ngợi tinh thần dũng cảm bất khuất của hai anh
Ôi chim đại bàng trong bão tố
Đầu sắp rơi mà cánh vẫn tung bay

Trước cái chết Rin nhớ về người mẹ đã cơ cực suốt đời để nuôi anh:

Mẹ ơi! Con vẫn ở giữa lòng đất nước
Trời nắng thiêu nghe rìu mẹ chém cây
Chiếc rìu cùn như đời mẹ cực
Đã cho con bao bát cơm đầy

Anh xót xa nhớ tới người yêu, cô Sao, đang bị giặc giam cầm:

Sao ơi! Em là con bướm trắng
Mắc giữa cành gai sắc dập vùi
Bao giờ em thoát đời tù ngục
Về với lũ làng múa hát vui

Rin nuối tiếc vì đã không còn được trở về quê Hùng uống nước dừa và gặp người con gái đẹp, người yêu của Hùng, Rin nghĩ về mối tình đoàn kết Kinh Thượng:

Thôi, những người con dân tộc
Sẽ thay Rin đi uống nước dừa
Nước ngọt như mối tình Kinh Thượng
Gạt hết hiềm thù cay đắng năm xưa

Kẻ thù man rợ tra tấn Hùng và Rin và chúng thiêu sống các anh. Giọng thơ Thu Bồn vừa đau đớn vừa hào sảng:

Sợi dây trói cháy thành tro bụi
Nhưng tim anh hùng còn đập giữa khói đen
Hai ngọn đuốc rùng rùng tiến lại
Cái chết đâu làm ta phải yếu hèn

Lửa rực hai khuôn mặt bầu rạng rỡ
Hai vòng tay lửa siết vào nhau
Người anh em ơi ! Đây là lời của Đảng
Gắn bó đến cùng cả lúc thương đau

Hai chiến sĩ hy sinh rồi, Thu Bồn đã miêu tả một cách thật gợi cảm sống động nỗi đau thương uất hận. Đây là của con người:

Ơi ới tiếng người tiếng cồng gào thét

Và của cảnh vật:

Dừa réo lên vuốt cong ngàn tia kiếm

Loài vật cũng tỏ thái độ:

Con hổ gầm rung vách núi
Bầy voi đi phun nước trắng dòng sông

Tình thương yêu của dân làng với hai chiến sĩ người Kinh và người Thượng khiến linh hồn các anh luôn được sưởi ấm:

Lệ dân làng thấm sâu vào đất
Ủ nóng hai anh giữa núi đồi
Hãy nhận lấy những hoa rừng đẹp nhất
Cả quê hương vùng dậy kia rồi

Toàn bộ đoạn trích trong sách giáo khoa hay từng câu từng chữ, từng hình ảnh. Nhưng tôi thấy Thu Bồn đặc biệt xuất thần trong đoạn kết:

Chim Chơ rao ơi! Bay về buôn vắng
Báo tin buồn đi khắp mọi nơi
Mặt trời đã rụng hai tia nắng
Rừng Tây Nguyên lửa đỏ sáng ngời

Người ta thường ví kẻ thù là bóng tối, bóng đêm và cách mạng là ánh sáng, ánh nắng. Ví hai chiến sĩ cách mạng người Kinh và Thượng như hai tia nắng nhà thơ muốn nói: họ là những người góp phần làm nên ánh sáng, nắng ấm trong cuộc đời này. Họ đã hy sinh, như hai tia nắng rụng nhưng ánh sáng, nắng ấm của cách mạng thì còn mãi. Sự hy sinh của hai anh càng làm ánh lửa của tinh thần bất khuất của người dân Tây Nguyên thêm rạng rỡ.

 Bài ca chim Chơ rao để lại trong tôi ấn tượng về tài thơ độc đáo của Thu Bồn. Tuy câu chữ, hình ảnh không mới lạ nhưng đọc lên thấy cả một không khí Tây Nguyên đầy bi tráng, giọng thơ cuồn cuộn như nước sông Ba… Sau đó tôi còn được nghe nhiều chuyện về ông. Chuyện ông cõng con vượt Trường Sơn ra Bắc, chuyện càng uống rượu nói càng hay và những mối tình thường xuyên thay đổi của ông. Đến khi Thu Bồn vào Sài Gòn rồi về Bình Dương đóng đô ở suối Lồ Ồ thì tôi mới có dịp gặp. Lúc ấy tên tuổi nhà thơ, đại tá Thu Bồn lan rộng cả dải đất miền Đông. Ông đi nhiều nơi, gặp gỡ nhiều người, giao tiếp bằng rượu, thơ và… cải lương cùng vợ ông, nghệ sĩ cải lương Lý Bạch Huệ biểu diễn. Ở Đồng Nai, vợ chồng ông thường tham gia sinh hoạt ở Hội Văn nghệ. Các buổi họp mặt anh em văn nghệ Đồng Nai, lễ mừng thọ nhà văn Hoàng Văn Bổn 70 tuổi, các trại sáng tác do Hội văn nghệ tổ chức tại Đà Lạt đều có mặt. Ông có mối quan hệ thân thiết với nhiều anh em văn nghệ Đồng Nai, trong đó nhà văn Hoàng Văn Bổn là bạn viết cùng trang lứa. Ngoài ra còn có các cây bút đàn em khác như Nguyễn Đức Thọ, Phạm Thanh Quang, Xuân Bảo, Hiền An Giang, Đặng Minh Hân, Hải Ba… đều coi ông như người thầy, người anh. Ông đã từng giới thiệu chất lính trong thơ Phạm Thanh Quang, phóng xe đến nhà Hải Ba để lấy bài thơ in trong một tuyển tập, uống rượu và nói chuyện văn cùng nhà văn Nguyễn Đức Thọ. Các cây bút Đồng Nai vẫn nhớ những lời nhận xét thẳng thắn, thấu lý đạt tình của ông về thơ trong trại sáng tác ở Đà Lạt năm nào. Trên dọc đường đi và khi tới Đà Lạt ông gặp từng người trao đổi về sáng tác của họ nhằm giúp anh em văn nghệ nâng cao chất lượng thơ lên. Vợ chồng ông còn rất thân thiết với Trường trung học sư phạm Đồng Nai, Sở giáo dục đào tạo Đồng Nai, đã từng đi biểu diễn giao lưu ở một số trường trong tỉnh. Không chỉ giới văn nghệ sĩ, các nhà giáo mà cả những người làm kinh tế cũng biết đến Thu Bồn. Ông là một nhà thơ đầy cá tính. Vóc dáng cao lớn, tóc bạc phơ phủ kín gáy, giọng Quảng Nam đặc sệt. Ở ông, người ta vừa thấy sự tinh tế, thông minh, tài hoa của một người có tầm văn hóa sâu rộng lại vừa đậm chất Tây Nguyên: bộc trực, chân thật, hoang dã… Sự tinh tế, tài hoa thể hiện rõ nét trong bài thơ Tạm biệt, một tuyệt bút của ông. Bao nhiêu người làm thơ về Huế, về sông Hương thấy ở sông Hương dòng sông thơ mộng, trữ tình. Nhưng ít người như Thu Bồn, phát hiện ở dòng sông này cái khía cạnh văn hóa, lịch sử:

Con sông dùng dằng con sông chẳng dứt
Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu

Con sông chảy vào lòng tạo nên nét thâm trầm, sâu lắng, dịu dàng của xứ Huế, con người Huế.

Chất Tây Nguyên thì đã thành gốc rễ của đời ông. Đến nhà Thu Bồn chúng ta sẽ thấy cả Tây Nguyên giữa đồi núi Bình Dương. Một căn nhà rông với đủ gùi, rựa, cồng chiêng, rượu cần. Nghe đâu bằng sức lao động của mình ông đã dựng nên căn nhà này, Thu Bồn rinh cả Tây Nguyên về nhà ông. Còn chất bộc trực, chân thật thì nhiều người phải ngạc nhiên, buồn cười. Ông đã không ưa ai thì nói vỗ vào mặt, không ngại ngùng nể nang, nhưng ông lại là người rất tình nghĩa, quý trọng nghĩa tình đồng đội, quý trọng bạn văn.

***

Cuộc đời và tác phẩm của Thu Bồn là một minh chứng cho sự gắn bó máu thịt của nhà thơ với nhân dân, với Tổ quốc và cuộc kháng chiến chống Mỹ. Nhờ sự gắn bó đó Thu Bồn đã có hàng chục tập trường ca, thơ, tiểu thuyết, tiểu luận có giá trị. Sinh ra ở quê hương Quảng Nam, nhập ngũ từ năm 16 tuổi, tập kết ra Bắc trở về chiến đấu ở chiến trường Tây Nguyên vào năm 1960, anh bộ đội Hà Văn Trọng đã viết nên bản  trường ca Bài ca chim Chơ rao. Cái bút danh Thu Bồn có từ đó. Cánh chim Chơ rao đã đưa Thu Bồn ra nước ngoài nhận giải thưởng Văn học Á-Phi, đưa thẳng Thu Bồn vào Hội nhà văn Việt Nam, chẳng phải qua thủ tục hai người giới thiệu. Thu Bồn trở lại Tây Nguyên tiếp tục sáng tác và sau đó trở ra Hà Nội làm giáo vụ ở trường viết văn Nguyễn Du (cùng nhà văn Phan Tứ). Với năng khiếu bẩm sinh cộng với sự trải nghiệm cuộc sống, trải nghiệm văn hóa Thu Bồn luôn có một bút lực dồi dào. Tiếp theo Bài ca chim Chơ rao, ông đã viết nhiều trường ca và tập thơ, tiểu thuyết và tập sách cuối cùng của ông là tập tiểu luận Đánh đu cùng dâu bể. Con người sức vóc ấy, hăm hở đi, hăm hở viết, hăm hở làm kinh tế vườn đã phải dừng lại ở cột mốc 69 tuổi vào ngày 17/6/2003. Sau chuyến đi thực tế Tây Nguyên bị đột quỵ, ông yếu dần. Ngày Hội thơ Việt Nam đầu tiên ở Đồng Nai tổ chức ở Trung tâm văn hóa tỉnh, ngồi cạnh giáo sư Trần Thanh Đạm, ông còn gật gù khen nghệ sĩ Hồng Vân ngâm bài thơ Tạm biệt hay. Khi bước lên bục để chụp ảnh chân ông cất bước nặng nề, nhọc nhằn. Một thời gian sau trong buổi liên hoan tổng kết ở Hội văn nghệ Đồng Nai ở khách sạn 57 tôi để ý thấy ông buồn lặng lẽ không nói.

Bây giờ ông đã về trời. Cuối năm 2002 chúng ta mất nhà thơ lớn Tố Hữu, đầu năm 2003 nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Thi ra đi. Giữa năm 2003 nhà thơ Thu Bồn rời khỏi cõi đời. Một thế hệ nghệ sĩ cách mạng đã từng góp phần làm hưng phấn cả dân tộc trong chiến tranh và cách mạng lần lượt ra đi. Nhớ đến ông tôi nhẩm đọc câu thơ tuyệt vời của ông viết về cái chết:

Mặt trời đã rụng hai tia nắng

Mỗi nghệ sĩ chúng ta bằng tác tác phẩm của mình đã chiếu rọi vào tâm hồn, trí tuệ người đọc. Cái tia nắng lộng lẫy có tên Thu Bồn ấy đã rụng xuống nhưng ánh sáng từ những vần thơ của ông thì còn mãi.

BÙI QUANG TÚ
(VĂN NGHỆ 30/2019)

Tin bài khác:



Nguyễn Đăng Điệp: Hướng đến nhất thể mới con người - tự nhiên- xã hội (trích)

Xuất hiện tại Anh, Mỹ vào những năm cuối thế kỷ XX, trong bối cảnh môi trường sinh thái toàn cầu bị khủng hoảng trầm trọng, Phê bình sinh thái (hay còn có tên gọi khác là Nghiên cứu Xanh) đã nhanh chóng lan rộng đến nhiều quốc gia và trở thành bộ môn khoa học có khả năng thu hút sự quan tâm của tất cả những ai quan tâm đến vấn nạn môi trường. Đây là bộ môn nằm ở vị trí giao thoa giữa khoa học tự nhiên và khoa học xã hội nhân văn, có mục đích chung là nghiên cứu về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, văn học và môi trường sinh thái. Bởi thế, về bản chất, tiếp cận theo hướng nghiên cứu phê bình sinh thái là hướng tiếp cận liên ngành.
PGS.TS. Nguyễn Đăng Điệp

Thuật ngữ sinh thái học (Ecology) có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp, bao gồm Oikos (chỉ nơi sinh sống) và Logos (học thuyết). Theo đó, sinh thái học là bộ môn nghiên cứu về nơi sinh sống của các sinh vật, đối tượng của nó là toàn bộ mối quan hệ giữa các loài sinh vật với môi trường. Trong cái nhìn của sinh thái học, giữa các loài sinh vật và môi trường sống luôn có mối quan hệ chặt chẽ, một khi sinh thái bị đảo lộn, sự sống của muôn loài cũng chấm dứt. Trong thế giới sinh vật, con người được coi là sinh vật phát triển cao nhất, bởi thế, từ chỗ tập trung nghiên cứu mối quan hệ “cơ thể - môi trường”, sinh thái học dần chuyển sang nghiên cứu mối quan hệ “con người - tự nhiên”, “xã hội - sinh quyển”. Cùng với những chuyển dịch theo hướng mở rộng, sinh thái học đã vượt ra khỏi “phạm vi sinh vật học thuần túy; tiếp cận với những vấn đề triết học”.

Từ Hoa Kỳ và Anh quốc, phê bình sinh thái nhanh chóng ảnh hưởng đến các quốc gia châu Á như Trung Quốc, Nhật Bản và Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Ngay từ đầu thế kỷ XXI, một số nhà nghiên cứu Việt Nam đã bắt tay dịch và giới thiệu về phê bình sinh thái, tạo đà cho bộ môn khoa học này thâm nhập vào các trường Đại học, các Viện nghiên cứu, trở thành một hướng nghiên cứu trong các luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ.

Đến nay, sự xuất hiện của phê bình sinh thái được hiểu như là một chuyển hướng đầy thích ứng của nghiên cứu văn học trước bối cảnh văn hóa đương đại, nhưng về bản chất, đây là khuynh hướng mở, vì thế, nó cho phép các nhà nghiên cứu có thể tìm hiểu mối quan hệ giữa văn học và môi trường trong các thời đại văn học khác nhau, từ tiền hiện đại đến hậu hiện đại. Với một hướng nghiên cứu giàu tiềm năng như phê bình sinh thái, còn rất nhiều vấn đề cần đến sự chung sức tìm hiểu của giới nghiên cứu, giảng dạy văn học và của đông đảo những ai quan tâm đến chủ đề sinh thái trong các diễn ngôn văn học, nghệ thuật.

Phê bình sinh thái bắt đầu được nói đến ở Việt Nam trong khoảng trên dưới vài chục năm qua. Trước hết, trong lĩnh vực sáng tác, người đọc có thể nhận thấy tư tưởng sinh thái xuất hiện trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Ngọc Tư, Mai Văn Phấn, Đỗ Bích Thúy, Cao Duy Sơn,… Có thể coi Sống mãi với cây xanh của Nguyễn Minh Châu là tác phẩm mở đầu cho khuynh hướng văn học sinh thái ở Việt Nam đương đại. Trong lĩnh vực học thuật, bài thuyết trình của GS. Karen Thornber (Đại học Harvard – Hoa Kỳ) tại Viện Văn học vào năm 2011 là cú hích quan trọng để các nhà nghiên cứu Việt Nam hứng thú tìm hiểu về phê bình sinh thái. Mối quan tâm về phê bình sinh thái gần đây đã được nhiều nhà nghiên cứu hưởng ứng, trong đó đáng chú ý là các công trình của Trần Đình Sử, Đỗ Văn Hiểu, Trần Ngọc Hiếu, Nguyễn Thị Tịnh Thy, Lê Lưu Oanh, Trần Thị Ánh Nguyệt, Huỳnh Như Phương, Nguyễn Đăng Điệp, Đặng Thị Thái Hà,… Đặc biệt, hai chuyên luận về phê bình sinh thái của Trần Thị Ánh Nguyệt – Lê Lưu Oanh và Nguyễn Thị Tịnh Thy đã được xuất bản.

So với văn học sinh thái, phê bình sinh thái xuất hiện muộn hơn và gây nhiều tranh cãi hơn. Nhiều người cho rằng, những sáng tác đầu tiên của văn học sinh thái đã xuất hiện trong thời kỳ lãng mạn thế kỷ XIX,trong bối cảnh con người bị cuốn theo phát triển kinh tế và choáng ngợp bởi những thành tựu của văn minh công nghiệp, gần như sao lãng môi trường sinh thái, thờ ơ với những thương tổn môi trường do chính con người gây ra. Từ thời đại khởi đầu công nghiệp hóa ấy, một số cây bút nhạy cảm của chủ nghĩa lãng mạn đã bắt đầu nhìn thấy được mặt trái của văn minh - đó là sự tước đoạt tàn nhẫn môi trường sinh thái của con người.

Phê bình sinh thái giai đoạn sơ kỳ coi trọng vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học và sự bình yên của môi trường sống ở các địa phương. Đến giai đoạn sau, nhất là từ thế kỷ XXI đến nay, phê bình sinh thái gắn với nhân học và văn hóa học, đặt bình diện xã hội làm trung tâm, đặc biệt quan tâm đến vấn đề đô thị hóa và công lý môi trường. Thực tế, ngay từ cuối thập kỷ 80, trong nhiều báo cáo về môi trường, người ta đã bắt đầu quan tâm đến sự biến đổi khí hậu, mức độ của carbon dioxide trong khí quyển và nguy cơ cạn kiệt tài nguyên, làn sóng tị nạn môi trường do hạn hán, bão lụt, mưa axit diễn ra ở nhiều nơi. Tiến trình phá hủy sinh quyển ở quy mô lớn đã khiến cho nhiều loại sinh vật bị tuyệt chủng, nhiều dòng sông bị bức tử, ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng.

Những kêu gọi của các nhà khoa học theo chủ nghĩa môi trường hầu như bị lờ đi trong thực tế. Trước thực trạng ấy, sự vào cuộc của văn học sinh thái và phê bình sinh thái có ý nghĩa như một cam kết tự nguyện về trách nhiệm của nhà văn trước vấn nạn môi trường. Trong cái nhìn của các nhà phê bình sinh thái “mọi hành vi của con người đều làm biến đổi môi trường”. Vì thế, xây dựng đạo đức môi trường trên tinh thần nhân văn hiện đại phải được coi là câu chuyện liên quan đến bất cứ ai và ở bất cứ quốc gia nào, không phân biệt giới tính, giàu nghèo, địa vị xã hội.

Trước hết, sự xuất hiện của phê bình sinh thái có ý nghĩa như một đối thoại văn hóa, khi nó đề xuất tư tưởng lấy sinh thái làm trung tâm thay thế tư tưởng coi con người là trung tâm.

Thứ hai, như là hệ quả của việc định vị tư tưởng triết học sinh thái trung tâm, các nhà phê bình sinh thái không đối lập mà luôn tìm kiếm mối quan hệ giữa “văn hóa” và “tự nhiên”, “văn minh” và “hoang dã”. Họ nhận thấy một thực tế hiển nhiên rằng, xã hội ngày càng phát triển và quá trình đô thị hóa ngày càng diễn ra với tốc độ cao thì sự tàn phá của con người đối với tự nhiên nhiên ngày càng khủng khiếp. Sức tác động này không chỉ đơn giản dừng lại ở việc chặt phá một cánh rừng, giết chết một dòng sông mà ở mức độ lớn hơn, có thể làm đảo lộn chu trình sinh học tự nhiên, từ đó, gây mất cân bằng và phá vỡ ổ sinh thái, đe dọa đến sự sống còn của chính con người. Những nghiên cứu của phê bình sinh thái về văn học châu Á cũng đem đến những phát hiện bất ngờ. Trong tư tưởng triết học và văn học phương Đông, người ta bắt gặp đầy rẫy các câu nói thể hiện thái độ tôn trọng tự nhiên, ngợi ca vẻ đẹp của thiên nhiên, coi con người chỉ là một phần của vũ trụ.

Bởi vậy, bên cạnh các nguồn nghiên cứu đến từ phương Tây, một số nghiên cứu về phê bình văn học sinh thái của Trung Quốc, Nhật Bản cũng bắt đầu được giới thiệu khá công phu. . Hơn nữa, văn minh nông nghiệp kéo dài ở phương Đông cũng đã phần nào khiến cho văn học viết về thiên nhiên phát triển mạnh. Nhưng thực tế không hoàn toàn diễn ra êm đẹp như thế. Có rất nhiều bằng chứng để nói về sự xâm hại của con người đến tự nhiên, thậm chí mang danh để bảo vệ tự nhiên nhưng lại cưỡng bức tự nhiên để tạo nên những công trình, khu vườn nhân tạo. Karen Thornber trong Mơ hồ sinh thái. Khủng hoảng môi trường và Văn học Đông Á đã dẫn lại lập luận của Suzuki Takehiro, Tổng Giám đốc Hiệp hội du lịch Hẻm núi Shosen tháng 8 năm 2008 để nói về hiện tượng này. Nói thế để thấy rằng, sự can thiệp của con người đến môi trường chưa bao giờ dừng lại kể cả khi con người nghĩ đến những viễn cảnh “nhân đạo” nhất trong quá trình sắp xếp lại tự nhiên bởi đó là sự sắp xếp để thu hút khách du lịch, mà ai cũng biết, phía sau nó là lợi ích kinh tế.

Có thể thấy ý nghĩa khoa học của phê bình sinh thái là hết sức rõ nét, nó được toát lên từ tư tưởng tìm kiếm sự hài hòa giữa con người với tự nhiên. Đây có thể coi là một tư tưởng thấm đầy tính nhân văn nhằm góp phần điều chỉnh mâu thuẫn trong phát triển, không vì mục tiêu phát triển mà hủy hoại môi trường sinh thái, bởi hủy hoại môi trường sinh thái chính là việc con người tự hủy hoại mình và hủy hoại mưu cầu hạnh phúc của toàn nhân loại.

Hội thảo khoa học quốc tế Phê bình sinh thái tiếng nói bản địa, tiếng nói toàn cầu do Viện Văn học tổ chức trong dịp này chính là nhằm nỗ lực thiết tạo một diễn đàn khoa học thực sự dân chủ, mời gọi những bàn thảo, đối thoại về phê bình sinh thái, khẳng định ý nghĩa và vị thế của nó trong khoa học nhân văn hiện đại. Hy vọng, những phân tích, diễn giải và bàn luận của các nhà khoa học Việt Nam và thế giới tại diễn đàn khoa học này sẽ góp phần làm sâu sắc hơn nền tảng triết – mỹ và những vấn đề trọng yếu nhất của phê bình sinh thái, từ đối tượng đến bản chất, chức năng, nhiệm vụ và phương pháp tiếp cận, phương pháp phân tích văn bản,… Với tư cách là một diễn ngôn khoa học, phê bình sinh thái tất nhiên không thể thể đưa ra những giải pháp trực tiếp, tức thời để khắc phục những vấn nạn môi trường, nhưng trên cơ sở phân tích và truy vấn mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, nó sẽ góp phần làm thay đổi nhận thức của cộng đồng, điều chỉnh  những nhầm lẫn tại hại về môi trường sinh thái, từ đó có những ứng xử phù với tự nhiên, biết lắng nghe tiếng nói của tự nhiên vì mục tiêu phát triển bền vững. Đây cũng là lý do để chúng ta hy vọng, với sự xuất hiện của sinh thái học nhân văn, một trào lưu nhân văn mới sẽ được hình thành trên cơ sở hài hòa giữa tam vị nhất thể: con người – xã hội – tự nhiên trong ngữ cảnh văn hóa đương đại.

PGS.TS. NGUYỄN ĐĂNG ĐIỆP
(VĂN NGHỆ, SỐ 50/2017)

Tin bài khác:



Thứ Ba, 6 tháng 8, 2019

Nguyễn Tất Nhiên - Thà như giọt mưa vỡ trên tượng đá

Tài hoa một cách kỳ diệu trên sáng tác, một cách ngông nghênh của thi sĩ, và cái nhìn tình yêu bằng đôi mắt châm chọc, đập vỡ cả não cân xé tung cả thân xác… để so sánh bản thể si mê ngập ngụa điêu tàn. Trong khối tình mà Nguyễn Tất Nhiên bắt phải dại khờ vì ngày ta buồn thần thánh cũng thôi linh…

Cách đây hơn 40 năm, những năm đầu thập niên 70, trong giai đoạn đất nước dầu sôi lửa bỏng, những tác phẩm phản chiến được phát triển rầm rộ. Một phần, trước cuộc chiến càng ngày càng leo thang một cách cùng cực, sinh mệnh người dân như tấm bia thử nghiệm cho những thể chế, không biết ngày nào hy vọng bình yên trở lại quê hương. Một phần sự loạn ly làm đình trệ tư tưởng, đời sống và văn minh văn hóa khoa học, đem lợi ích phát triển hơn là sự tàn phá nghiệt ngã vô ích. Thơ văn là tiếng nói của người làm văn nghệ, được bày tỏ bằng những bức xúc, chứa đầy cảm năng đối thoại với chiến tranh đang phủ chụp khắp xóm làng. Thật vậy, nghệ sĩ với lửa con tim đều biểu lộ bằng những sáng tác trên hội họa, văn chương, âm nhạc,…Trịnh Công Sơn là một hình ảnh tượng trưng về nét phản chiến thực tiễn trong những thập niên 60-70. Chuỗi tác phẩm của Trịnh Công Sơn đã ghi lại những dấu ấn siêu việt ảnh hưởng từ trong và ngoài nước, mà bất cứ hàng quán nào kể cả tư gia của người thôn dã đều chất đống âm vang những ca khúc giữa đời sống hằng ngày…
Nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên

Nghệ sĩ miền Nam có một tư thức sáng tạo và bày tỏ riêng mình, tất cả những khuynh hướng sáng tác đều không quy củ trong một phương hướng chủ đạo, rập khuôn như nhau. Chính vậy, sự đa năng được bộc phát một cách kỳ diệu, dù trong những thời khắc đầy khói lửa, nhưng bước tiến của nghệ thuật miền Nam lại đa dạng. Mỗi khuynh hướng lại là một sự tinh khôi bù đắp làm phong phú cho văn chương phía Nam. Dù trong thời buổi chiến tranh, cũng rộ nở đầy những vườn hoa khoe muôn màu sắc, đậm nét bác học không thua sút văn hóa văn chương thế giới.

Trong môi trường thi ca, bên cạnh thơ lửa, chất đầy ngôn ngữ bày tỏ trước thời cuộc, mà sự sống thì còn cần chứa chan thêm một hạnh phúc tinh yêu và trong lành ở viễn cảnh xô bồ hằng ngày. Tuổi trẻ phần đông cũng biết chọn cho thế hệ mình phần hồn, để bộc lộ những khoảnh khắc của con tim. Nét lãng bạt vẫn là yếu tố phong lưu trong hàng trăm nét sống tư thức dấu yêu. Sự phơi phới hồn nhiên trong tình yêu giúp bảo tồn được nét thuần khiết chân thành trong bản năng con người. Vì vậy, nếu những thi phẩm chan đầy nét kỳ diệu long lanh sinh khí từ trái tim yêu thương, thì được đón nhận như cơn mưa rào thấm đất. Đầu thập niên 60, Nhất Tuấn xuất bản thi phẩm Chuyện Chúng Mình, ba thi tập nối tiếp trong một thời gian ngắn, đã tạo cho thơ tình một sức hút dữ dội. Tập thơ Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím của nhà thơ Kiên Giang tức khắc được độc giả đón nhận nồng nhiệt, cho đến bây giờ thỉnh thoảng vẫn còn tái bản với 2000 đến 3000 bản. Thơ Nguyên Sa cũng là một dòng thơ tình quý phái, trí thức và lãng mạn.

Tất cả những thi nhân kể trên, đều ít nhiều kỷ niệm và có kinh nghiệm tình trường, nên sự chiêu niệm của độc giả chỉ hướng về nét sáng tạo tích cực trong văn chương. Ngôn ngữ tích lũy trong thi phẩm đều nhiều ẩn dụ gần như giả định, dù rằng thi hóa một cách tuyệt vời. Năm 1969, lúc nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên xuất bản tự lực với những tập thơ còn mang nặng nét học trò, tôi và Lưu Nhữ Thụy nhiều phen bay về Biên Hòa tìm thăm, để trả lễ những dịp Nhiên về Sài Gòn thăm tôi. Sự bộc phát hình như là một định mệnh, không thể ngờ trước được, khi tập Thiên Tai ra đời năm 1970 lúc Nguyễn Tất Nhiên vừa 18 tuổi, bỗng nhiên tên tuổi Nguyễn Tất Nhiên bùng vỡ một cách ngoạn mục. Nhac sĩ Phạm Duy bằng sự lão luyện tài hoa cùng cực, đã làm say mê những dòng thơ tình đầy ngây thơ, ngộ nghĩnh, ông đem hết tâm huyết phổ nhạc cho nhà thơ nhiều bài, và thành công một cách kỳ diệu, đặc thù. Thời đó, nhạc Trịnh Công Sơn chiếm lĩnh hầu hết thị trường, đi đâu cũng chất đầy ngôn ngữ Trịnh Công Sơn, làm quánh đặc cả không gian bão táp giữa lòng người điên đảo. Thì sự thanh thoát tươi trẻ của hơn mươi bài nhạc phổ thơ Nguyễn Tất Nhiên, được quảng bá rộng rãi không thua kém, bằng cách giới thiệu xen kẽ thay thế dòng nhạc Trịnh Công Sơn, một dòng nhạc cô đọng âm hưởng monotone bấy lâu vưởng vất quanh đời sống…Sự giải tỏa uẩn ức của cuộc sống, bằng sự huyền diệu thanh khiết và ngây thơ cực điểm của dòng thơ Nguyễn Tất Nhiên, và âm thanh phù thủy Phạm Duy, thì không gian như trôi chảy giữa bốn bề âm vọng tình yêu, mà những ví von so sánh lạ lùng, ngây dại trong ngôn ngữ chứa đầy biểu tượng sáng hóa: người từ trăm năm/về ngang sông rộng/ ta ngoắc mòn tay…, hoặc nào hay đời cạn vì người từ trăm năm/ về khơi tình động/ ta chạy vòng vòng/ ta chạy mòn chân.(Khúc Buồn Tình). Thơ Nguyễn Tất Nhiên có không khí bừng nở đầy trí tuệ liên tưởng tự nhiên, đưa đẩy sự phá cách của tưởng tượng, mà tha nhân không thể dõi bước kịp ý tưởng của dòng thơ vừa băng mình chưa hết lộ trình thơ mộng, bỗng nhiên đóng khung ở một lý luận ví von như những giải đáp lạ thường ngộ nghĩnh: đời chia muôn nhánh khổ/ anh tận gốc gian nan/ cửa chùa tuy rộng mở/ tà đạo khó nương thân/ anh đành xưng quỷ sứ/ lãnh đủ ngọn dao trần/ qua giáo đường kiếm Chúa/ xin được làm chiên ngoan/Chúa cười run thánh giá/ bảo: đầu ngươi có sừng! (Đám Đông).

Ngoại trừ những năm 60-70, với một khí thế hực lửa của những biến động thời cuộc, sự say mê nhạc Trịnh làm bừng cháy ý thức phản kháng một cách quy mô. Thì ta không ngạc nhiên, để hiểu rằng sự hòa đồng nhiều lúc cũng xu hướng, mà lịch sử còn phải xâm soi định vị cả một khoảng thời gian sau, mới khẳng định được đúng sai trong quá trình vừa trôi qua. Ảnh hưởng của nhạc Trịnh đã bước vào tâm thức của tầng lớp thanh niên, giục giã cái nhìn nhân chứng, sáng hóa hòa quyện giữa thi ca và âm nhạc, nhưng không biết có tác động được để vượt thời gian, đó là điều nan giải! Thanh lịch của thi ca cũng như những bộ môn nghệ thuật khác, là sự tinh túy, tạo lập chân tướng bằng tất cả phương pháp sáng tạo tùy tài năng và chân tâm của nghệ sĩ. Bởi cái giả không là thật, mà cái thật không được là giả, người ta thường khoác lên vai nghệ sĩ bằng y phục lòe loẹt, còn trái tim thì treo trên cành cây trước gió. Chính vậy, sáng tác có thể dùng hết lửa để thai sinh, nhưng cũng có lúc lửa cũng hủy diệt sáng tác. Cái tâm không của nghệ sĩ thật cần thiết. Tôi cảm nhận thơ Nguyễn Tất Nhiên có những ý hướng vô ngã, chỉ cần đạt đến một điều là hóa hiện bản ngã, bằng những hình tượng lập dựng để dánh dấu cho một ý niệm bừng rõ nét tình yêu. Chính vậy, nhiều lúc tôi so sánh giũa hai ý thức sáng tác thơ tình của Nguyễn Tất Nhiên và Trịnh Bửu Hoài, một đàng chân thật xem tình yêu như một thánh tượng, lãng đãng giữa không gian đầy hoa cỏ, gió và mây. Một đàng xé nát vật thể, kể cả bản thân để phát minh cho thơ một sự khắc nhập, hoá hiện lại cùng cực bản thể tình yêu và tình người. Nhiều lúc, có người đọc thơ Nguyễn Tất Nhiên, những ví dụ ngây thơ, phù thủy làm đánh động sự phân tâm, bởi những ngôn ngữ tân lập cho hình ảnh lạ lùng Thơ. Giống như một hình ảnh tân lập thật bình dân của Bùi Chí Vinh, khiến thơ Vinh có một nét ngông linh động và hoạt bát, mà có lúc tôi đùa với Vinh, như hai mặt đồng tiền, mặt phải là Bùi Giáng, mặt trái là Bùi Chí Vinh. Còn thơ Nguyễn Tất Nhiên hẳn nhiên có nét sáng tạo thật lạ, cung cách so sánh làm câu thơ bừng lên một nét kỳ diệu, nhưng thật đau thương. Khác với cung cách hoa dạng trong thơ tình Nguyên Sa, với cuộc đời và trái tim, Nguyễn Tất Nhiên đã xé nát hết tư tưởng và bản thân, để tung rải cạn láng chân khí đem đối chiếu tình yêu so sánh những dị thường: dĩ vãng là địa ngục/ giam hãm đời muôn năm/ tôi-người yêu dĩ vãng/ nên sống gần Satan/ ngày kia nghe lời quỷ/ giáng thế thêm một lần/ trong kiếp người linh mục/ xao gầy cơn điên trăng……………… vì tôi là linh mục/ giảng lời tình nhân gian/ nên không có thánh kinh/ nên không có bổn đạo/ nên không có giáo đường/( một tín đồ duy nhất/ vừa thiêu hủy lầu chuông!) (Linh Mục).

Sự hóa thân cho chính nhà thơ đã vỗ về cho thơ xuất hiện trong một lớp áo biến đổi bản ngã, sự nhị trùng thật ra chỉ là chiếc bóng của một hiện thân duy nhất. Mà chính tác giả độc thoại trong sự phân vai giữa bản thân cô độc, lạnh lẽo ở một không gian tưởng tượng trù dập tận cùng cái si mê ngây dại, bởi ru ta suốt cuộc đời/ (cuộc đời tên vô đạo/ vết thương hành liệt tim). (Ma Soeur)…

Tài hoa một cách kỳ diệu trên sáng tác, một cách ngông nghênh của thi sĩ, và cái nhìn tình yêu bằng đôi mắt châm chọc, đập vỡ cả não cân xé tung cả thân xác… để so sánh bản thể si mê ngập ngụa điêu tàn. Trong khối tình mà Nguyễn Tất Nhiên bắt phải dại khờ vì ngày ta buồn thần thánh cũng thôi linh.

Năm 1979, buổi sáng còn vang vọng tiếng loa tuyên truyền nhức óc của Ban Thông tin Văn xã Phường, thì thà như giọt mưa vỡ trên tượng đá bỗng dưng xuất hiện trước cửa Thư trang. Nguyễn Tất Nhiên với y trang đơn giản hơn ngày xưa, sơ mi bỏ ngoài loáng thoáng theo cơn gió nhẹ, chờ tôi trước cửa còn khép hờ. Tôi khoác vai Nhiên bước vội về một quán cà phê, cách nhà chừng 100m, với sự chào đón im lìm và cuộc thăm viếng cũng như một cuộc giấu giếm với thế gian. Bản thân Nguyễn Tất Nhiên thư sinh ốm yếu cao nghệu, nhưng hiện tại càng thu liễm hơn, với vẻ mặt xanh xao giữa mái tóc lòa xòa bất cần nhân thế. Tuy vậy Nguyễn Tất Nhiên cũng giữ lại được nét liếng thoắng, và nụ cười nở đầy trên môi. Nhiên bắt xe từ Biên Hòa lúc 4 giờ sáng, tâm sự ghé thăm tôi, sau gần 4-5 năm không gặp mặt: “kỳ này em chắc ít có dịp về thăm anh”. Nguyễn Tất Nhiên vẫn cười nói thản nhiên, suốt buổi tri ngộ thâm tình giữa huynh đệ tin yêu. Tôi lại cứ ngỡ Nguyễn Tất Nhiên và gia đình về khu kinh tế mới, như bao nhiêu gia đình khác được vận động di dân lập nghiệp, nên trả lời : “Nhiên muốn về thành phố thì xin một giấy giới thiệu, đóng mọc đỏ của một hợp tác xã nơi ở, sẽ đăng ký được giấy xe, lo gì. Tôi phục vụ bên y tế nên cũng cấp cho nhân viên như vậy”. Nghe tôi phân trần, Nguyễn Tất Nhiên vẫn cười cười nói nói, không bộc lộ một ý hướng gì hơn nữa. Thời gian khoảnh khắc lại là một cách biệt ngàn trùng, đằng đẵng đến ngày hay tin Nguyễn Tất Nhiên cư trú tại Pháp qua đài BBC, tôi không có dịp thư tín trò chuyện với nhau. Sự cật lực sống trong một xã hội xa lạ, Nguyễn Tất Nhiên không hội nhập được, bởi bản chất nghệ sĩ chan đầy ý tưởng huyễn hoặc, không có thời gian thực tiễn, khiến nhà thơ chìm ngấm trong cơn lốc trầm cảm cách biệt đời thường… Thỉnh thoảng cũng được truyền thông Nguyễn Tất Nhiên còn hoạt động văn nghệ, xuất bản được vài tác phẩm, tôi đón nhận như tin vui chia sẻ với cố nhân…

Tất cả đều trong nghiệp chướng vô thường, không ai thoát khỏi thành trụ hoại diệt, nhưng sao tôi vẫn thảng thốt khi nghe đài VOA báo tin, Nguyễn Tất Nhiên vừa giã biệt cõi đời lúc 14 giờ 30 ngày 03 tháng 08 năm 1992, bằng thuốc ngủ trong một chiếc xe hơi Toyota cũ kỹ đầy hoa, và một bài thơ mới sáng tác có chữ ký còn giữ kỹ trong túi áo. Ngày giã từ cõi đọa đày suốt một đời thơ, Nguyễn Tất Nhiên gởi lại nhân thân giữa thơ và hoa, tại sân Chùa Việt Nam, do Thượng Tọa Thích Pháp Châu trụ trì, ở thành phố Garden Grove, Nam California như trở lại chính bản thể và đạo pháp: đường không gian- đã phân ly/ đường thời gian- đã một đi không về…

NGÔ NGUYÊN NGHIỄM
Viết tại Thư trang Quang Hạnh
 (Mùa đông, 1992, nhuận sắc tháng 7/2011)

_____________________________________

NGUYỄN TẤT NHIÊN (1952 - 1992)

Tên thật: Nguyễn Hoàng Hải

Sinh ngày 30 tháng 5 năm 1952 tại quận Đức Tu, Biên Hòa.

Mất ngày 3 tháng 8 năm 1992 tại Califonia, Hoa Kỳ vào lúc 14 giờ 30, Nguyễn Tất Nhiên lái xe vào thành phố Garden Grove đến chùa Việt Nam tại Nam California, tự tử bằng thuốc ngủ. Trong giây phút tuyệt cùng, phát hiện trong túi áo dạ phục Nguyễn Tất Nhiên còn để lại một bài thơ tình ký tên trang trọng.

Bút hiệu đầu tiên của Nguyễn Tất Nhiên là Hoài Thi Yên Thi. Anh làm thơ từ năm 13 tuổi bằng sự lãng bạt của một hồn thơ tài hoa.

Các tác phẩm đã in:

1966, thi phẩm Nàng Thơ Trong Mắt (in chung Đinh Thiên Phương)

1968, thi phẩm Dấu Mưa Qua Đất

1970, thi phẩm Thiên Tai

1980, Thơ Nguyễn Tất Nhiên (NXB Nam Á, Paris, Pháp)

1984, thi phẩm Những Năm Tình Lận Đận (gồm những nhạc tuyển, NX B Tiếng Hoài Nam, Mỹ)

1989, thi phẩm Chuông Mơ (NX B Văn Nghệ, California, Mỹ)

1989, thi phẩm Tâm Dung (NXB Người Việt, Mỹ)

Ngoài ra, Nguyễn Tất Nhiên còn một số nhạc phẩm được chú ý như nhạc bản Chiều Trên Đường Hồng Thập Tự. Anh đã hoàn chỉnh thi tập Tâm Khúc, gồm 10 bài thơ photo vài bản để lưu trữ.

Nguyễn Tất Nhiên có thơ được phổ nhạc do các nhạc sĩ Phạm Duy, Anh Bằng, Nguyễn Đức Quang…


Tin bài khác:



Nhà văn Thùy Dương: Trăn trở với mỗi thân phận Người

Nếu không biết Thùy Dương sinh ra và lớn lên ở Hải Dương, sẽ đoán   chắc nàng là người Hà Nội gốc. Gọi là nàng v ì nàng không chỉ xinh đẹp, ...