Thứ Ba, 15 tháng 10, 2019

Nhà văn Thùy Dương: Trăn trở với mỗi thân phận Người

Nếu không biết Thùy Dương sinh ra và lớn lên ở Hải Dương, sẽ đoán  chắc nàng là người Hà Nội gốc. Gọi là nàng vì nàng không chỉ xinh đẹp, thời trang có gout, luôn chọn những gam màu trang nhã, kiểu dáng sang trọng mà nàng còn có phong cách nho nhã của người Hà Nội một thời...
Nhà văn Thùy Dương

Cách đây ít ngày, có cuộc ra mắt sách của NXB Trẻ với 3 cuốn của 3 nhà văn nữ khả ái: Y Ban, Võ Thị Xuân Hà và Thùy Dương. Và, “Lạc Lối” của Thùy Dương có trong số đó. Đây là cuốn thứ 6 của chị, một nhà văn kiêm nhà báo, từng giữ chức vụ Phó Tổng biên tập, nghĩa là một sức viết thật dồi dào, một khả năng lao động ở mức căng thẳng, nhưng thật ngạc nhiên, chị vẫn giữ được vẻ đẹp mặn mà, gương mặt duyên dáng với thời trang lúc nào cũng quyến rũ.

Nếu không biết Thùy Dương sinh ra và lớn lên ở Hải Dương, sẽ đoán  chắc nàng là người Hà Nội gốc. Gọi là nàng vì nàng không chỉ xinh đẹp, thời trang có gout, luôn chọn những gam màu trang nhã, kiểu dáng sang trọng mà nàng còn có phong cách nho nhã của người Hà Nội một thời.

Cũng không phải không mạnh mẽ như hai người bạn thân, nhưng Thùy Dương có khả năng tiết chế cảm xúc, thậm chí dám hy sinh những cảm xúc nhất thời, dù rất đẹp để chọn lựa sự an bình, vốn là cái mà văn nghệ sĩ thường giễu cượt. Thùy Dương biết tổ chức cuộc sống riêng, biết để dành cảm xúc của mình đặt lên trang văn, còn ngày thường, trong cuộc sống thường Thùy Dương chọn những xúc cảm mang tới cho chồng con niềm vui sống, hạnh phúc.

Điều đó không chỉ thể hiện trong gia đình, nó còn giúp Thùy Dương thể hiện và hoàn thành tốt công việc của mình trên cương vị Phó tổng biên tập Báo Diễn đàn Doanh nghiệp và sau này phụ trách Văn phòng Công tác Hiệp hội thuộc VCCI, nơi không chỉ có những phóng viên, biên tập viên giỏi chuyên môn báo chí mà còn là nơi những người có tri thức sắc sảo về nhiều phương diện làm việc.  

Tôi quen thân với cả ba người đàn bà kể trên, thiện cảm với những sáng tác của họ. Hôm nay viết về Thùy Dương, bởi vừa đọc xong “Lạc lối”, cuốn sách mới nhất, cuốn tiểu thuyết thứ 6 sau “Tam giác muôn đời”, “Ngụ cư”, “Thức giấc”, “Nhân gian”, “Chân trần”... “Lạc lối” viết về những mảng đời mạt kiếp, trong khi  Thùy Dương có một đời sống khá ổn định, có thể nói là khá giả, ấm áp. Điều đó cho thấy, nhà văn có tâm hồn đa cảm, có tình yêu thương đồng loại, nhìn thấy góc khuất tăm tối đau khổ của cuộc sống, rồi đồng cảm và sẻ chia…

Thuỳ Dương cho rằng khi nhìn vào cuộc sống thực tế, nhiều người luôn lo lắng và bức xúc bởi thang giá trị bị đảo lộn, nhiều nghịch lý phơi bày, những mục tiêu tốt đẹp mà loài người hướng tới ngày càng trở nên xa vời, trong khi đó hằng ngày cái xấu, cái ác điềm nhiên trưng ra bộ mặt trần trụi nhơn nhơn của nó... Sao nhà văn có thể ngồi yên? Chị nghĩ đã là nhà văn với ý thức trách nhiệm phải không ngừng tự vấn, xông vào “cuộc chiến” với cái xấu, cái ác để bảo vệ cái Đẹp, văn chương phải kêu gọi lòng khoan dung, khơi rộng con đường đến với điều thiện, lay động con người nói vâng với điều thiện… một cách không mệt mỏi…

 Chị từng chia sẻ: “Văn chương đi đến tận cùng sẽ gặp thân phận Người. Nhà văn như một cái “máy chiếu” soi rọi và đưa ra dưới ánh mặt trời những khía cạnh còn bị giấu kín của mỗi thân phận và mỗi tâm hồn Người. Mà ở đó lịch sử đọng đầy trong mỗi số phận, với ký ức chưa bị xóa, với hiện tại ngổn ngang bất ổn và tương lai vẫn đầy hồ nghi…”. Chị xây dựng những nhân vật có số phận riêng, có ngôn ngữ riêng, có nỗi ám ảnh và khắc khoải riêng, có phần thiện và phần ác khác nhau… Chị đặt cho mình song hành trải nghiệm cùng nhân vật, nhọc nhằn tìm lại “Cái Tôi” đích thực của mình.

Chị bảo: “Đôi khi trong tác phẩm của mình, tôi phải trả cho nhân vật cuộc sống của chính nó - khác xa với những dự định ban đầu của tác giả”. Chị cho rằng ở khía cạnh nào thì nhà văn cũng mong muốn "Nghe thấy cuộc đối thoại của thời đại mình – nghe thấy thời đại mình trong một cuộc đối thoại vĩ đại…" thông qua các nhân vật mình sáng tạo. Đó là sứ mệnh của nhà văn - để thời đại mình sống hiện lên qua tác phẩm trong mỗi hơi thở, mỗi gương mặt Người, cả sự thiện và sự dữ đi qua trái tim mỗi ngày…”.

Đọc sách của Thùy Dương thấy được sự khoan dung, lòng khát khao công chính, nỗi quan tâm đến kẻ yếu, mong mỏi cái thiện, chia sẻ với mất mát đau thương… và thấy sự mong ước bày tỏ, phản đối, thậm chí là phẫn nộ… của tác giả. Tuy nhiên, giống như bản tính của mình, tác giả tiết chế những xúc cảm chua ngoa, mà giãi bày bằng những trang sách nhiều rung cảm lắng sâu.

Nếu nhân vật chính trong "Chân trần" (Nxb Trẻ, 2013) là một nhà báo kỳ cựu trong nghề, được xây dựng theo hình ảnh "rút ruột" từ bản thân ra mà viết, khai thác mình cho đến cạn kiệt với một lối uyển chuyển và thâm hậu, thì trong "Ngụ cư" chị để bản thân mình khuất sau nhân vật ("Ngụ cư" đoạt Giải thưởng cuộc thi tiểu thuyết lần thứ II, 2002 -2004, của Hội Nhà văn Việt NamNam).
Các tác phẩm của nhà văn Thùy Dương.

Vẫn là cái nhìn đầy cảm thông với cuộc đời, trong "Ngụ cư", mãnh liệt hơn và có cái nhìn sâu xa hơn về nỗi mất mát của cuộc đời sau các cuộc chiến. Còn “Lạc lối” có lẽ chị lấy cảm hứng từ những trăn trở, đau đáu về cuộc sống, thông qua cuộc đời ba người bạn gái, đại diện cho ba tầng lớp, mỗi người mỗi vẻ, một số phận nhưng đều bị cuốn vào vòng tranh đoạt nghiệt ngã.

Tác giả mô tả những người đàn bà thời nay, không ngây thơ, cũng không mòn mỏi giấu nỗi đắng cay sau vạt áo mỗi ngày, mà là những người đàn bà biết yêu bản thân mình, biết chăm chút cho cái tôi và có khả năng chịu đựng và vượt qua mọi va đập đủ loại của  cuộc đời. Trong “Lạc lối”, nếu có sự ưu ái với các thân phận đàn bà, thì tác giả bày tỏ sự tiếc thương và buồn giận với những nhân vật tha hóa về nhân cách, buôn thần bán thánh. Dường như chị xa xôi gọi tên “thời mạt kiếp”. Dù có mạnh mẽ hơn, sắc lạnh hơn, nhưng “Lạc lối” vẫn là giọng văn của một người nhân hậu, không đao to búa lớn, cứ kể, cứ phơi bày và để cho chính người đọc thẩm thấu và tự gọi tên ra…

Đôi khi, người ta thấy văn nghệ sĩ rất khác với những gì được viết, vẽ, sáng tạo ra. Có người còn nói, tốt nhất không nên đến gần vì thần tượng (ấn tượng về nghệ sĩ của họ) dễ bị hạ bệ. Nhưng với Thùy Dương thì có vẻ như, nàng vẫn thế, nàng không lên gân dạy dỗ ai thông qua nhân vật của mình trong sách. Nàng chỉ giãi bày, thậm chí giống như một lời cầu xin: chúng ta, cả tôi và mọi người hãy nhìn nhận lại, hãy cùng làm gì đó để thay đổi. Chỉ thế thôi. Nàng đã nghỉ hưu, nhưng vẫn tiếp tục làm Tổng biên tập tờ Tạp chí Thương Gia mà nàng xây dựng từ lâu và gắn bó đầy tâm huyết.

Trong tòa soạn, nàng không ra vẻ là người có địa vị Sếp, nàng thân ái hòa đồng với anh chị em. Rời tòa soạn, nàng là người vợ “biết điều”, biết thu xếp cái tôi để có cái chúng ta bên chồng. Nàng cũng phải cùng chồng chăm lo cho một gia đình, con cái học hành đến nơi đến chốn, và một đời sống thanh lịch. Đến nhà nàng bao giờ cũng có cảm giác đến một nơi chốn bình yên.

Cuộc sống của gia đình nàng ấm áp gắn bó đầy tình cảm. Nàng rất phù hợp và làm cho không gian của nàng, phù hợp với một địa chỉ mà chồng nàng có những người bạn là Đại sứ, là nghệ sĩ đôi khi ghé thăm. Phù hợp cả phong cách ra vào, đi lại, nói năng và phù hợp cả sự bài trí, đồ dùng và ứng xử lịch lãm. Nàng có thể không giàu, nhưng đủ và hợp cách.

Đấy, Thùy Dương, nhà văn của những nỗi bức xúc về sự bất toàn của xã hội là một người như vậy. Đừng có ai nghĩ, nhà văn hoặc là những người có dung nhan xấu, hoặc viết chỉ là để giải tỏa những ẩn ức nghèo khổ hoặc duyên phận kém nhé. Sự bất toàn của xã hội và ước muốn nó được cải thiện luôn là nỗi băn khoăn lớn nhất của những người cầm bút đấy ạ.

TRẦN THỊ TRƯỜNG
Nguồn: VNCA




Thứ Sáu, 11 tháng 10, 2019

Chân dung 2 nhà văn giải Nobel Văn học 2018-2019

Cuộc họp báo công bố hai tác giả thắng giải Nobel Văn học do Viện hàn lâm Thụy Điển tiến hành đã kết thúc với lời khẳng định từ ban tổ chức rằng cả hai nhà văn sẽ nhận được giải thưởng với trị giá 9 triệu krona Thụy Điển mỗi người (tương đương hơn 21 tỷ đồng).

Ngay sau khi tên hai nhà văn được xướng lên, phía ủy ban trao giải đã có cuộc phỏng vấn nhanh qua điện thoại với nữ tác giả người Ba Lan - Olga Tokarczuk. Được biết, lúc tên mình được xướng lên, bà Tokarczuk đang ngồi trong xe, đang di chuyển trên lãnh thổ nước Đức.

Bà Tokarczuk đã cho ra mắt nhiều tác phẩm tiểu thuyết, trong số đó, có nhiều cuốn đã được dịch sang tiếng Anh. Trong giới văn chương, bà Tokarczuk được biết tới là một học giả, một nhà hoạt động vì nữ quyền. Tại Ba Lan, bà đã giành được nhiều giải thưởng văn chương uy tín. Trong văn đàn Ba Lan, bà Tokarczuk thuộc vào nhóm các tác giả có sách bán chạy nhất.
Nobel Văn học 2018 được trao cho nhà văn người Ba Lan Olga Tokarczuk (57 tuổi)

Bà Olga Tokarczuk được biết tới với giọng văn huyền hoặc, bí ẩn. Thuở còn là sinh viên, bà từng theo học chuyên ngành tâm lý học tại Đại học Warsaw và ngay từ thuở ấy, bà đã bắt đầu cho ra mắt những tập thơ, những cuốn tiểu thuyết... Cuốn tiểu thuyết “Flights” của bà đã từng giành được giải thưởng Nike hồi năm 2008, đây là giải thưởng văn chương cao quý hàng đầu tại Ba Lan.

Với tác phẩm “The Books of Jacob”, bà tiếp tục giành giải Nike một lần nữa vào năm 2015. Trong văn đàn quốc tế, bà Tokarczuk đã được biết tới từ lâu và thường được mời tới các sự kiện về sách và văn chương để tham gia các hội thảo, diễn đàn.

Bà Tokarczuk sinh ra ở thị trấn Sulechów, Ba Lan. Trước khi bắt đầu sự nghiệp văn chương của mình, khi còn đang theo học chuyên ngành tâm lý học, bà đã từng xin vào thực tập tại một bệnh viện tâm thần dành cho trẻ vị thành niên, những người còn rất trẻ nhưng gặp phải những vấn đề về tư duy, hành xử.

Sau khi tốt nghiệp vào năm 1985, bà đã sống ở các thành phố khác nhau tại Ba Lan và làm một bác sĩ tâm lý. Bà chia sẻ rằng bản thân rất ngưỡng mộ nhà tâm lý học người Thụy Sĩ Carl Jung (1875-1961) và coi những nghiên cứu tâm lý của ông là một nguồn cảm hứng cho những tác phẩm văn chương của bà.

Kể từ năm 1998, bà Tokarczuk đến sống ở ngôi làng nhỏ Krajanów, tại đây, bà cũng tự mình điều hành một công ty xuất bản riêng.

Nhà văn người Áo Peter Handke còn được biết tới là một nhà viết kịch, một dịch giả. Thuở nhỏ, ông Handke học trong trường nội trú dành cho các nam sinh, chính tại đây ông đã sáng tác những truyện ngắn đầu tiên đăng trên tờ báo của trường. Về sau ông theo học ngành luật tại trường Đại học Graz ở thành phố Graz, Áo.
Nobel Văn học 2019 được trao cho nhà văn người Áo Peter Handke (76 tuổi)

Ngay trong quá trình học, ông Handke đã chăm chỉ sáng tác và có hướng theo đuổi sự nghiệp văn chương, thường giao lưu với giới các nhà văn trẻ, cùng sáng lập các hội nhóm văn chương và xuất bản những tác phẩm đầu tiên. Ông Handke đã từ bỏ việc học luật vào năm 1965 khi một nhà xuất bản tại Đức đồng ý xuất bản cuốn “The Hornets” của ông.

Dần dần, cùng với việc viết lách và hoạt động viết kịch, ông Handke nhận được sự chú ý trong giới văn chương - kịch nghệ quốc tế. Ông Handke cũng đã viết rất nhiều kịch bản phim và đã từng đạo diễn hai bộ phim - “The Left-Handed Woman” (1978) và “The Absence” (1992).

Chân dung hai nhà văn vừa nhận giải Nobel Văn học 2018-2019 - 4Nhấn để phóng to ảnh
Bộ phim “The Left-Handed Woman” từng được đề cử ở hạng mục Cành Cọ Vàng tại LHP Cannes 1978. Sau khi rời khỏi thành phố Graz mà ông từng gắn bó từ những năm tháng tuổi trẻ, ông Handke đã đến sống ở các thành phố Düsseldorf, Berlin, Kronberg của Đức, thành phố Paris của Pháp, Salzburg của Áo, ông cũng từng sống ở Mỹ trong hai năm.

Kể từ năm 1991, ông bắt đầu sống lâu dài ở xã Chaville gần Paris, Pháp. Trong vòng hơn 50 năm sáng tác, ông đã cho ra mắt số lượng tác phẩm đồ sộ thuộc đa dạng các thể loại. Nhà văn Peter Handke đã là một trong những cái tên có tầm ảnh hưởng lớn trong văn đàn Châu Âu kể từ cuối thập niên 1940.

BÍCH NGỌC
(NOBEL PRIZE/ DTO)

Tin bài khác:

·         Thi sĩ Du Tử Lê qua đời



Du Tử Lê: Người dâng hiến trọn đời cho thi ca

Sau sự ra đi của nhà thơ Tô Thùy Yên mấy tháng trước, ngày 9/10/2019, giới văn nghệ hải ngoại lại thêm một mất mát nữa. Đó là sự ra đi của nhà thơ Du Tử Lê.
Nhà thơ Du Tử Lê (1942-2019)

Nhà thơ Du Tử Lê  (1942) vừa qua đời. Ông học Đại học Văn khoa Sài Gòn, tu nghiệp báo chí tại Indianapolis, Indiana (1969). Giải thưởng Văn chương toàn quốc tại Sài Gòn năm 1973 (tập Thơ tình Du Tử Lê 1967-1972). Ông có tới 70 tập thơ và văn xuôi. Du Tử Lê cũng là nhà thơ châu Á duy nhất được phỏng vấn và có thơ đăng trên hai nhật báo lớn của Hoa Kỳ: Los Angeles Times (1983) và New York Times(1996). Thơ ông cũng đã và đang được đưa vào giảng dạy, làm tài liệu nghiên cứu, đọc thêm tại một số trường đại học tại Hoa Kỳ và Châu Âu. Vĩnh biệt ông, Tuần Việt Nam xin giới thiệu bài viết về ông của nhà thơ Nguyễn Thụy Kha và ba bài thơ của ông.

Sau sự ra đi của nhà thơ Tô Thùy Yên mấy tháng trước, ngày 9/10/2019, giới văn nghệ hải ngoại lại thêm một mất mát nữa. Đó là sự ra đi của nhà thơ Du Tử Lê.

Ngay sau ngày thống nhất, tôi đã đọc thơ Du Tử Lê in trên các tạp chí văn nghệ ở miền Nam trước 1975. Được biết ông đã đoạt giải văn chương năm 1972 do nhà thơ Vũ Hoàng Chương và nhà thơ Bàng Bá Lân làm chủ khảo. Tôi đồ rằng có lẽ Du Tử Lê rất thích bài hát “Lời du tử” của Nguyễn Đình Phúc nên mới lấy chữ “Du Tử” gắn với họ Lê của mình thành ra bút danh Du Tử Lê. Tôi gặp ông ở TP.HCM trong một cuộc bàn tròn trao đổi về thơ hồi cuối tháng 3/ 2007. Năm đó, tôi cũng sang Mỹ dự hội thảo về chủ nghĩa cổ điển tự nhiên tại đại học Dallas, người ta bảo Du Tử Lê cũng đã từng đến đây đọc thơ. Trong số các nhà thơ Việt Nam ở hải ngoại, có lẽ thơ Du Tử Lê được quảng bá ở Mỹ và châu Âu khá nhiều.

Có lẽ vì hơi thơ lãng mạn hòa trộn với hiện đại ở thơ ông đã khiến cho bạn đọc nước ngoài chú ý. Tới năm 2014, khi Du Tử Lê ra mắt tập thơ “Giỏ hoa thời mới lớn” ở Hà Nội, tôi mới có dịp đọc thơ ông nhiều hơn bởi được ông tín nhiệm để tôi giới thiệu thơ ông với mọi người. Ở tập thơ, tôi chú ý những bài viết về mảnh đất Gia Lai mà tôi đã từng gắn bó thời chiến tranh. Du Tử Lê cũng thế. Chỉ có khác là hai người ở hai chiến tuyến đối đầu nhau. Khác với Nguyễn Bắc Sơn trăn trở về cuộc chiến tranh thật rõ nét qua tập thơ “Chiến tranh Việt Nam và tôi”,  Du Tử Lê luôn lãng mạn hóa vùng chiến địa này qua những bài thơ tình, như thể ở đó chưa hề xảy ra bom rơi, đạn nổ. Ngay cả đến dấu vết “mai xa lắc trên đồn biên giới” như Vũ Hữu Định, cũng không có trong thơ Du Tử Lê. Đọc bài “Khi ngang qua Pleime” – một địa danh nổi tiếng với chiến công thắng Mỹ cuối 1966, không thấy một tí ti ùng oàng nào trong thơ Du Tử Lê: “Khi ta đến cây im rừng nín thở - một mặt trời rực rỡ đỉnh truông xa – một hồn xanh gọi rét mướt hiên nhà – một tóc chảy theo trăm dòng suối lạ…” Ở bài “Pleiku và hoa quỳ” cũng thế. Đọc thơ Du Tử Lê, thấy rười rượi một màu vàng hoa quỳ trên đất đỏ bazan phố núi: “Khi ta trở lại rừng – chỉ còn nghe gió hú – núi trong buổi chiều nay – nhìn ta bằng mắt lạ - hoa nở vàng chân mây – tái tê từng cánh nhỏ”. Có lẽ bởi thế,  Du Tử Lê được phổ nhạc khá nhiều. Trong những tình ca ấy, ám ảnh nhất là “Khúc Thụy Du” qua giai điệu Anh Bằng. Bài thơ nói về việc tìm kiếm người yêu ở miền Phú Lâm (bây giờ thuộc quận 6) Sài Gòn sau đổ nát của cuộc Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân 1968, từ đấy tác giả thấm thía về những mất còn mà chiến tranh mang lại.

Năm 2017, tôi sang Mỹ và ghé chơi quận Cam, lại gặp Du Tử Lê nhỏ thó nơi góc bàn cà phê quen thuộc. Cũng năm ấy, Nhà xuất bản Hội Nhà Văn đã ấn hành trường ca “Mẹ về biển Đông” của ông. Trường ca lấy cảm hứng từ sự ra đi của chính mẹ ông. Nó gồm 5 khúc. Khúc thứ nhất “Ngôi nhà trắng, chiếc quan tài và những cây phong ở đường Beach”. Khúc thứ hai “”Những cánh cửa sổ, hồi chuông và buổi sáng”. Khúc thứ ba “Những bông hoa birdflower, nắm đất và sự trở lại”. Khúc thứ tư “Chuyến bay muộn ký ức và mẹ ở xa”. Khúc thứ năm “Cõi mẹ về”. Thật rưng rưng khi ông viết: “Những ngôi mộ ở bên ngoài đất nước – ngàn năm sau hai tiếng Việt Nam – không ai gọi, không còn ai nhắc nữa! dúm xương xưa tanh lợm, thiếu nguồn”.  Nỗi bi kịch sinh tử của người xa xứ hình như đã được ông cảm nhận trước khi bước đến khoảnh khắc làm bạn với cái chết. Vĩnh biệt ông. Cầu mong linh hồn ông sớm bay về đất mẹ Việt Nam.

Chùm thơ Du Tử Lê:

Chân dung

tôi ngồi trong nỗi tôi riêng
bên trong ghế lạnh, ngoài hiên bóng rời
phòng tôi trần thiết gương người
tường sơn kỷ niệm, vách bồi dáng xưa
tóc người chảy suốt cơn mưa
ngực thơm hoa bưởi, môi đưa bão về

tôi ngồi giữa cõi-tôi-khuya
có ai gõ cửa? mà nghe lá chào
tưởng người ngọn sóng lao xao
biển muôn năm gọi tôi nào có vui
người về có nén hương, thôi
cắm lên phần mộ hồn tôi úa vàng


Chẳng lớn lao nào hơn nỗi cô đơn

cảm ơn kỷ niệm nuôi em lớn.
như bóng nuôi hình lúc thiếu nhau.
cảm ơn ngực ấm nuôi thương bạn.
giọt lệ nuôi tình sâu kiếp sau.

cảm ơn xa, vắng nuôi em lớn.
như lá nuôi rừng thuở thiếu niên.
cảm ơn chăn, gối cho mưa, nắng.
quá khứ như người có tuổi, tên.

cảm ơn định mệnh nuôi em lớn.
hạt giống u tình kia, tự tâm.
cảm ơn lênh láng / đêm / da, thịt.
những ngón tay thơm chọn lựa, mình.

cảm ơn thần thánh nuôi em lớn.
như gió nuôi trời lúc bão lên.
cảm ơn núi nhắc sông xa, nhớ.
chẳng lớn lao nào hơn cô đơn.

cảm ơn sách vở nuôi em lớn.
con chữ nuôi người trong giấc mơ.
hồn nuôi rưng rưng từng khối đá.
tôi trầm mình trong em, đời sau.

cảm ơn hiện tại không sau, trước.


Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển

khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
đời lưu vong không cả một ngôi mồ
vùi đất lạ thịt xương e khó rã
hồn không đi, sao trở lại quê nhà
khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
nước ngược dòng sẽ đẩy xác trôi đi
bên kia biển là quê hương tôi đó
rặng tre xưa muôn tuổi vẫn xanh rì
khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
và nhớ đừng vội vuốt mắt cho tôi
cho tôi hướng vọng quê tôi lần cuối
biết đâu chừng xác tôi chẳng đến nơi
khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
đừng ngập ngừng vì ái ngại cho tôi
những năm trước bao người ngon miệng cá
thì sá gì thêm một xác cong queo
khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
cho tôi về gặp lại các con tôi
cho tôi về nhìn thấy lệ chúng rơi
từ những mắt đã buồn hơn bóng tối
.
khi tôi chết nỗi buồn kia cũng hết
đời lưu vong tận huyệt với linh hồn /.

(12-1977)

NGUYỄN THỤY KHA
Nguồn VietNamNet

Tin bài khác:



Thứ Năm, 10 tháng 10, 2019

Khi nhà văn viết bằng ngoại ngữ

Nhà văn sẽ làm gì khi rơi vào môi trường ngôn ngữ xa lạ? Anh ta có thể trở thành một tác giả khác và khám phá những thể loại mới. Có thể tìm thấy trong ngoại ngữ cái mà người bản ngữ cũng không nhìn thấy. Mà cũng có thể biến sự hàm súc ngôn ngữ thành phong cách nghệ thuật của mình.

Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc ba nhà văn sáng tác bằng ngoại ngữ: Samuel Beckett, Joseph Brodsky và Vladimir Nabokov.
Từ trái qua: Vladimir Nabokov, Samuel Beckett và Joseph Brodsky.

Trong ngôn ngữ học, nhà văn viết bằng ngoại ngữ được gọi là exophone. Đây là thuật ngữ mới do các nhà nghiên cứu văn học Đức đưa ra năm 2007, thế nhưng bản thân hiện tượng thì không mới: Nhà văn Ba Lan Joseph Conrad trở thành nhà văn cổ điển Anh, nhà văn Do Thái thuộc cộng đồng tiếng Czech Franz Kafka viết tiếng Đức, nhà văn Romania Emil Cioran viết tiếng Pháp, còn Milan Kundera vừa viết cả tiếng Czech lẫn tiếng Pháp.

Nhà lý luận văn học Mikhail Bakhtin cho rằng ngôn ngữ là thế giới quan riêng "được thẩm thấu bởi một hệ thống đánh giá, và gắn liền với thực tiễn đời sống". Ngôn ngữ mẹ đẻ của nhà văn hình thành nên nhân cách của anh ta, được thể hiện trong các cấu trúc ngôn ngữ và tư duy ngôn ngữ nói chung. Nhưng bản sắc ngôn ngữ của các nhà văn song ngữ, nghĩa là những người có khả năng sáng tạo những tác phẩm có giá trị thẩm mỹ bằng hai hoặc ba ngôn ngữ, là gì?

Wilhelm von Humboldt cho rằng có một "hình thái ngôn ngữ bên trong" nào đó - phương thức phản ánh hiện thực đặc trưng cho mỗi dân tộc, từ đó hình thành nên thế giới quan ngôn ngữ của dân tộc đó. Trong ngôn ngữ học hiện đại, người ta sử dụng các thuật ngữ như "ý thức ngôn ngữ", "tồn tại ngôn ngữ" và "bản sắc ngôn ngữ". Bản sắc ngôn ngữ của nhà văn hình thành nên phong cách, từ vựng và thông điệp văn hóa của anh ta.

Samuel Beckett

Nhà văn Nga Anatoly Ryasov nhận xét: "Ngoài Samuel Beckett, không một nhà văn nào thể hiện sự tiến triển đáng kinh ngạc và sâu rộng từ sự dư thừa ngôn ngữ của những tác phẩm sơ kỳ đến sự kiệm lời của những tác phẩm hậu kỳ".

Khi bàn về những thử nghiệm văn học đầu tiên của Beckett, James Joyce viết: Beckett biểu diễn ngôn ngữ, cất giấu trong tác phẩm những ẩn dụ văn chương, ông triết lý, nhưng vẫn bám chặt các quy tắc cổ điển về thể loại. Đặt chân tới Paris vào năm 30 tuổi, nhà văn để lại phía sau những khuôn khổ văn chương, và cùng với chúng là cái tiếng Anh phức tạp và phong phú. Và chuyển sang tiếng Pháp một cách có ý thức, đồng thời giảm bớt lối văn hoa mỹ.

Bộ ba tiểu thuyết viết bằng tiếng Pháp "Molloy" (1951), "Malone meurt" (Malone hấp hối, 1951) và "L'innommable" (Không thể gọi tên, 1953) đã mở đầu cho sự tối giản ngôn ngữ của Beckett - nhân vật không có lai lịch, không hành động, lối viết này đạt tới cực điểm trong các tác phẩm hậu kỳ của nhà văn.

Beckett đến với tiếng Pháp không nhằm mục đích tận dụng sự phong phú của nó, mà để nó giúp ông nói ít hơn. Nếu như tiếng Anh vô tình đẩy nhà văn tới sự dư thừa ngôn ngữ, thì tiếng Pháp giúp ông thoát khỏi những điền phạm, thói quen văn học và tìm thấy phong cách "lánh đời" khiến ông trở nên nổi tiếng.

Joseph Brodsky

Joseph Brodsky, ngược lại, mong muốn sử dụng sự đa dạng của các hình thái ngôn ngữ của cả hai ngôn ngữ ông biết là tiếng Nga và tiếng Anh: "Hai ngôn ngữ  dường như chơi đùa với nhau. Giữa chúng diễn ra một sự giao thoa, các truyền thống va chạm nhau, còn tôi sử dụng, khai thác điều đó" - Ông nói năm 1982 trong một bài trả lời phỏng vấn của nhà báo Hà Lan.

Phần lớn những bài thơ của Brodsky được viết bằng tiếng Nga, còn văn xuôi - hầu như tất cả bằng tiếng Anh. Tiếng Nga đối với Brodsky là nguồn sáng tạo thi ca, còn tiếng Anh là lý tưởng về sự hữu dụng ngôn ngữ, vô cùng thích hợp với sáng tác tiểu luận. Từ giã "vũ trụ Kafka" của Liên Xô năm 1972, để lại sau lưng một hệ thống xã hội, chủ nghĩa bài Do Thái, sự dung tục... xét về mặt nào đó, ông đã để lại ở đấy hình ảnh thi sĩ Nga Joseph Brodsky: thay đổi ngôn ngữ (tiếng Anh), tên tuổi (Joseph Brodsky) và loại hình văn học (văn xuôi). Từ chối làm thơ bằng tiếng Anh, ông chuyển sang viết phê bình văn học. Với học hàm Giáo sư Đại học Michigan, sau đó là Đại học Columbia và các đại học khác của Mỹ, ông giảng bài chỉ bằng tiếng Anh và tránh dùng tiếng Nga.

Sau khi nhận giải Nobel văn học năm 1987,  Brodsky phát biểu: "Tôi là người Do Thái, nhà thơ Nga và nhà tiểu luận viết bằng tiếng Anh".

Độc giả Nga hầu không biết Joseph Brodsky như một nhà thơ viết bằng tiếng Anh. Ông bắt đầu từ việc dịch và biên tập các tập thơ của mình, ngày càng tham gia tích cực hơn vào công việc xuất bản chúng. Các bài thơ  tự dịch của Brodsky bị phê phán: để gìn giữ hình thức và nội dung ông đã làm biến dạng ngữ pháp tiếng Anh, thay đổi cú pháp, vi phạm quy tắc sử dụng mạo từ và động từ. Với mong muốn biểu đạt những ẩn dụ phức tạp của nguyên bản, Joseph Brodsky đã khiến các nhà phê bình nổi giận, họ không bỏ qua những sai sót ngôn ngữ của ông và sự thán phục những người biết hai ngôn ngữ.

Dù sao, trong ý thức độc giả tiếng Anh, hình ảnh Joseph Brodsky - nhà văn đậm nét hơn Joseph Brodsky - nhà thơ. Bản thân ông cũng rất chú ý để hình ảnh nhà tiểu luận Mỹ trưởng thành từ zero trong môi trường văn hóa Anh ngữ không trộn lẫn với hình ảnh nhà thơ Petersburg bị trục xuất.

Vladimir Nabokov

Nabokov, "con bướm song ngữ của văn hóa thế giới", từ nhỏ đã biết tiếng Nga, tiếng Anh và tiếng Pháp. Năm 1946, trong bài trả lời phỏng vấn tạp chí "Playboy", Nabokov nói: "Tôi là nhà văn Mỹ, sinh ra ở Nga, được giáo dục ở Anh, nơi tôi học văn học Pháp, trước khi sống 15 năm ở Đức".

Cũng vào năm đó, khi phóng viên tạp chí "Life" hỏi Nabokov ngôn ngữ nào đẹp nhất đối với ông, nhà văn trả lời: "Lý trí mách bảo tôi rằng đó là tiếng Anh, trái tim - tiếng Nga, còn lỗ tai - tiếng Pháp".

Nabokov công bố những truyện ngắn và tiểu thuyết đầu tiên tại các nhà xuất bản ở Paris và Berlin với bút danh Sirin, thời trẻ ông đã nổi tiếng là nhà văn Nga tài năng. Đến Mỹ năm 1940, ông chuyển sang tiếng Anh và bắt đầu gây dựng sự nghiệp văn học từ zero với bút danh Nabokov. Sự lựa chọn ngôn ngữ gắn liền với việc di cư, môi trường văn hóa khác, với sự tìm tòi những hình thức sáng tạo mới và mong muốn chối bỏ tất cả những gì xảy ra trên Tổ quốc mình, lúc bấy giờ đã là Liên Xô.

Sự thay đổi ngôn ngữ và phong cách diễn ra không dễ dàng đối với Nabokov; trong lời tựa cuốn tự truyện "Những bờ bến khác" (1954), ông viết: "Năm 1940, khi tôi quyết định chuyển sang tiếng Anh, tai họa của tôi là ở chỗ trước đó, trong vòng 15 năm có lẻ, tôi viết bằng tiếng Nga và trong những năm này tôi đã để lại dấu ấn lên ngòi bút của mình".

Vẫn còn coi tiếng Nga là  ngôn ngữ "chính", nhà văn nhớ lại những khó khăn khủng khiếp của sự thay đổi sắp tới và nỗi sợ hãi của việc đoạn tuyệt với cái ngôn ngữ sống động mà Nabokov - Sirin đã chinh phục được một cách tài tình. Bốn năm sau, ông vẫn còn âu yếm gọi tiếng mẹ đẻ là ngôn ngữ  "không nói hết nhạc điệu", và cay đắng mô tả việc chuyển sang tiếng Anh "hàm súc" trong lời bạt tiểu thuyết "Lolita" được xuất bản ở Mỹ: "Bi kịch riêng của tôi... là việc tôi buộc phải từ bỏ ngôn ngữ tự nhiên, tiếng Nga giàu có, không bị gò bó, hết sức dễ bảo đối với tôi vì một thứ tiếng Anh loại hai".

Nhưng đến năm 1965, Nabokov đã thất vọng nhận thấy "tiếng xủng xoảng của những sợi dây đàn Nga han gỉ" khi dịch tiểu thuyết của mình: "Than ôi, cái "tiếng Nga tuyệt đẹp" tưởng như vẫn chờ đợi tôi đâu đấy, vẫn nở hoa như một mùa xuân trung thành sau cánh cổng kín mít mà bao nhiêu năm nay tôi vẫn giữ chìa khóa, hóa ra không hiện hữu, và sau cánh cổng ấy không còn gì nữa ngoài những gốc cây đã cháy trụi và chân trời mùa thu vô vọng, còn chiếc chìa khóa trong tay tôi giống như một cái móc sắt".

Mô típ chìa khóa xuất hiện trong tác phẩm "Quà tặng": nhân vật chính viết thư cho mẹ rằng sẽ trở về nước Nga, vì anh ta "mang theo chìa khóa của nó". Cuối tiểu thuyết, trong những dòng cuối cùng được Nabokov viết bằng tiếng Nga, chiếc chìa khóa như là biểu tượng của tình yêu quê hương và tiếng mẹ đẻ, đã bị đánh mất, và nhân vật Fyodor dừng lại trước cánh cửa bị khóa.

Chuyển sang tiếng Anh, Nabokov không giấu giếm sự lạ lẫm của mình trong đó; nhưng rồi ông biến nó thành một ưu điểm về phong cách. Dường như ông bay lượn trên ngôn ngữ, không hoàn toàn hòa lẫn với nó.

Jean Bloch, nhà nghiên cứu tác phẩm của Nadokov kiêm nhà văn song ngữ, viết về tiếng Anh của ông: "Ngôn ngữ này rất độc đáo và, dĩ nhiên, nó bộc lộ nguồn gốc của tác giả, nghĩa là về hình thức cũng như về sự hàm súc của trí tuệ nó mang sắc thái Nga khá đậm nét... vũ trụ của nhà văn, cách biểu cảm và tư duy của nhà văn bay bổng trên ngôn ngữ và địa lý, nâng nhà văn không những lên tầm xuyên quốc gia và xuyên văn hóa, mà còn xuyên ngôn ngữ ".

TRẦN HẬU
Theo báo Nga

Thứ Tư, 9 tháng 10, 2019

Thi sĩ Du Tử Lê qua đời

Trái tim nhà thơ Du Tử Lê vừa ngừng đập lúc 8 giờ 6 phút tối thứ hai 7-10 (theo giờ Mỹ) tại nhà riêng của ông ở Garden Grove (Mỹ), hưởng thọ 77 tuổi, theo thông tin từ người nhà phát đi trên trang cá nhân trưa nay.

“Tôi quan niệm, mỗi cá nhân trước khi sinh ra đã được Thượng đế chọn trước một nghề nghiệp hay công việc thích hợp. Điều mà chúng ta gọi một cách nôm na là năng khiếu hay "cái khiếu". Cá nhân, tôi nghĩ tôi sống sót được tới ngày hôm nay nhờ tình yêu văn chương. Trước đây khi còn ở trên quê hương, tôi không thấy văn chương thực sự "cứu rỗi" tôi như những năm tháng tôi luân lạc xứ người... Vì thế, tôi tự nhủ, hãy viết, cứ viết cho tới ngày nào sức khỏe, khả năng không còn cho phép”- nhà thơ Du Tử Lê từng tâm sự với báo Tuổi Trẻ tháng 6-2018.
Nhà thơ Du Tử Lê 

Du Tử Lê tên thật là Lê Cự Phách, sinh năm 1942 tại Kim Bảng, Hà Nam. Ông là nhà thơ có tiếng tại miền Nam từ trước 1975. 

Du Tử Lê tham gia giới viết văn làm báo, là chứng nhân của nhiều trào lưu văn nghệ tại miền Nam trước đây. 

Những kinh nghiệm từ quãng đời này giúp ông viết thành một số công trình có tính chất tổng thuật và khảo cứu về văn nghệ miền Nam trước 1975: Phác họa toàn cảnh sinh hoạt 20 năm VHNT miền Nam 1954-1975, Sơ lược 40 năm văn học nghệ thuật Việt 1975-2015.

Du Tử Lê làm thơ từ rất sớm, bút hiệu Du Tử Lê được dùng chính thức từ năm 1958 trên tạp chí Mai.

Nhiều thế hệ bạn đọc Việt Nam từng yêu thơ Du Tử Lê, đặc biệt cả giới trẻ trước và sau 1975 có nhiều người hâm mộ bài hát Khúc Thụy Du vốn được nhạc sĩ Anh Bằng phổ từ bài thơ cùng tên của Du Tử Lê. 

Khúc Thụy Du được Du Tử Lê viết từ tháng 3-1968, như một phần cảm thức của người trẻ trước cuộc chiến đang lan rộng tại Việt Nam.

Du Tử Lê định cư tại Mỹ sau ngày 30-4-1975.

Theo thống kê chưa đầy đủ, Du Tử Lê có hơn 70 tác phẩm đã xuất bản. Những năm gần đây, một số sách của ông trở lại với bạn đọc trong nước thông qua các đơn vị xuất bản:

- Du Tử Lê tùy bút tuyển chọn (2015)

- Với nhau, một ngày nào (tản văn, 2018)

- Trên ngọn tình sầu (tập thơ, 2018)

- Chỉ nhớ người thôi, đủ hết đời (tùy bút dạng hồi ký, 2017)

- Khúc thụy du (tuyển thơ, 2018)

- Giữ đời cho nhau (tuyển tùy bút, 2018)

- Chúng ta, những con đường (thơ, 2019)...

Theo ghi nhận của người trong giới, Du Tử Lê bên cạnh Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Bùi Giáng, Nguyên Sa, Thanh Tâm Tuyền và Tô Thùy Yên làm nên bảy gương mặt thơ xuất sắc nhất miền Nam thời trước 1975.

Về hoạt động liên quan đến thơ, từ năm 1981 tới nay, nhà thơ Du Tử Lê có nhiều buổi thuyết trình tại một số đại học tại Hoa Kỳ, Pháp, Đức, và Úc. Ông từng hai lần được mời đến đại học Harvard để nói chuyện về thơ của mình.

Từ năm 2009 tới 2012, mỗi năm Du Tử Lê đều có ít nhất một lần thuyết trình về thơ tại đại học UC Berkeley và đại học Cal State Fullerton.

Sự nghiệp thơ của Du Tử Lê từng được một học viên cao học tại Đại học Khoa học, xã hội và nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội là Trần Thị Như Ngọc chọn làm luận văn tốt nghiệp, nhan đề Thơ Du Tử Lê dưới góc nhìn tư duy nghệ thuật thuộc chuyên ngành Lý luận văn học. 

Một số sách và bản thảo của Du Tử Lê vẫn đang được các đơn vị làm sách trong nước giao dịch với ý định sẽ ấn hành trong tương lai.

_______________________

Du Tử Lê (Lê Cự Phách) sinh năm 1942 tại Kim Bảng, Hà Nam. Ông là tác giả của 70 tập thơ, văn xuôi. Ông học Đại học Văn khoa Sài Gòn, tu nghiệp báo chí tại Indianapolis, Indiana (1969). Giải thưởng Văn chương toàn quốc tại Sài Gòn năm 1973 (tập Thơ tình Du Tử Lê 1967-1972).

Thập niên 1980-1990, thơ ông xuất hiện trên Los Angeles Times và New York Times. Thơ ông được dịch trong tuyển tập Understanding Vietnam (liên Đại học Berkeley, UCLA, London ấn hành; là sách giáo khoa về văn học Việt Nam cho nhiều đại học tại châu Âu).

Ông là một trong sáu nhà thơ Việt Nam thế kỷ 20 có thơ dịch trong tuyển tập World Poetry - An Anthology of Verse from Antiquity to Our Time (W.W. Norton New York, 1998). Ông từng thuyết trình về sáng tạo thơ ca tại một số đại học ở Mỹ, Pháp, Đức và Úc. Ông cư ngụ tại Garden Grove, Nam California (Mỹ).

Nhiều bài thơ của ông đã được phổ nhạc thành các ca khúc nổi tiếng.

LAM ĐIỀN
Nguồn: TTO





Chàng kỹ sư yêu biển viết văn Trương Anh Quốc

Nhà văn Trương Anh Quốc (đứng) tại buổi giới thiệu “Sóng”
 do nhà thơ Phan Hoàng và nhà văn Trần Nhã Thụy chủ trì. Ảnh: THÁI HỌC SINH

Trương Anh Quốc là một trong những người bạn có nhiều gắn bó với Phú Yên trong các hoạt động văn học. Sinh trưởng ở Quế Sơn, Quảng Nam, anh tốt nghiệp kỹ sư điện Trường Hàng hải, định cư tại TP Hồ Chí Minh, làm việc trong ngành vận tải biển và dầu khí. Biển cả không chỉ là nơi mưu sinh mà còn là tình yêu, nguồn cảm hứng cho chàng kỹ sư trẻ sáng tác văn học mà mới nhất là tiểu thuyết du ký độc đáo “Sóng” do NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 9/2019.

Tiểu thuyết du ký là thể loại hiếm thấy trong văn học Việt Nam và thế giới. Và có lẽ “Sóng” của nhà văn Trương Anh Quốc là tiểu thuyết du ký biển đầu tiên của nước ta. Tác phẩm giúp cho người đọc hiểu rõ hơn nghề đi biển của các thủy thủ và nhân viên tàu viễn dương, một nghề vốn rất quyến rũ nhưng cũng đầy khó nhọc và còn xa lạ với nhiều người. Đồng thời “Sóng” còn mang lại những kiến thức, vẻ đẹp của các vùng biển, vùng đất, con người ở nhiều nơi trên thế giới mà tác giả đặt chân tới bằng góc nhìn, cảm nhận tinh tế riêng biệt.

Chính những điều trên, tiểu thuyết du ký “Sóng” lôi cuốn sự tò mò của bạn đọc, nhất là giới trẻ thích xê dịch khám phá. Ngoài ra, theo nhà văn Trương Anh Quốc: “Viết “Sóng” mình chọn lối viết nhẹ nhàng, không tập trung vào xây dựng cốt truyện với tuyến nhân vật xung đột mâu thuẫn rồi đi tìm cách gỡ, mình chú trọng đến nét mới lạ của văn hóa vùng miền của bước chân nhân vật du hành bằng đường biển trải qua. Đi bằng đường biển sẽ có sự thú vị riêng, dưới đôi mắt của nhân vật - người đi biển sẽ có cách nhìn khác qua một lăng kính khác, nhất định sẽ khác với lăng kính của người du hành bằng đường hàng không hay đường bộ, đường sắt. Góc nhìn từ ngoài biển vào bờ, có cả sự mong ngóng, trìu mến và bao dung”.

Trương Anh Quốc xuất hiện trên văn đàn hơn mười năm trước và nhanh chóng gặt hái thành công. Anh đã xuất bản ba tập truyện ngắn “Sóng biển rì rào”, “Lũ đầu mùa”, “Hợp đồng chiều thứ bảy” cùng một tiểu thuyết “Biển” và bây giờ là “Sóng”. Anh cũng được trao những giải thưởng có giá trị: Giải nhì Văn học tuổi 20 lần 3 và Giải nhất Văn học tuổi 20 lần 4 do NXB Trẻ phối hợp Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh tổ chức, giải các cuộc thi truyện ngắn của báo Sài Gòn Giải Phóng, tạp chí Văn Nghệ Quân Đội.

Trong số 5 tác phẩm đã xuất bản của Trương Anh Quốc thì có 3 tập viết thuần về biển là tập truyện ngắn đầu tay “Sóng biển rì rào”, 2 tiểu thuyết “Biển” và “Sóng”. Có thể nói biển đã mang lại nguồn cảm hứng lớn lao, giúp cho chàng kỹ sư trẻ sớm tự phát hiện và chọn cho mình con đường riêng để bước vào thế giới văn chương. Như lời tâm sự của anh: “Có lẽ mình may mắn khi chọn viết về biển trong lúc có rất ít người viết về đề tài này và họ không phải là người trong cuộc. Mình viết sẽ dễ dàng hơn khi ngành hàng hải đặc thù với rất nhiều ngôn ngữ chuyên ngành. Ngôn ngữ chuyên ngành tiếng quốc tế có khi không thể tìm từ tiếng Việt sát nghĩa để thay thế. Tiểu thuyết “Sóng” chỉ gói ghém trong một hành trình đi trên một con tàu, trong khi mình đã làm việc trên nhiều con tàu đi khắp nơi như thế”.
Tiểu thuyết du ký “Sóng” của Trương Anh Quốc

Hành trình để nhà văn Trương Anh Quốc viết nên tiểu thuyết “Sóng” chính là chuyến đi biển xa đầu tiên sau khi anh rời trường đại học với tấm bằng kỹ sư điện ngành hàng hải. Theo lời anh: “Chuyến tàu biển vòng quanh thế giới đầu tiên trong cuộc đời đi biển của mình đã để lại nhiều ấn tượng đẹp và thú vị. Khi đó, mỗi lần đến cảng nào, nước nào, đi bờ ra sao… khi về tàu mình đều ghi lại trong những tập giấy A4. Cũng trong chuyến đó mình mua được chiếc máy tính xách tay nên cặm cụi gõ chữ từ xấp giấy vào máy tính. Mình cũng mua được một chiếc máy ảnh kỹ thuật số bấy giờ mới ra nên quý lắm, đi bờ chụp hình về tàu lưu hết trong máy tính”.

Thế nhưng điều bất ngờ đã xảy ra. Khi Trương Anh Quốc cùng con tàu trở về nước thì chiếc máy tính đó bị trộm vào nhà cuỗm mất. Bao nhiêu công sức, chữ nghĩa, hình ảnh anh lưu trong máy bay luôn. Anh cất công tìm kiếm mua lại nhưng cái máy vẫn biệt tăm, không thể nào tìm lại được. Thế rồi một điều kỳ diệu lại đến với anh khi khởi động viết tiểu thuyết “Sóng”, đó là bao nhiêu cảm xúc hơn 15 năm trước chợt ùa về với những hình ảnh rõ mồn một.

Dù chuyến đi biển đầu tiên Trương Anh Quốc đặt chân lên hơn ba chục quốc gia, hàng mấy chục bến cảng nhưng anh chỉ chọn những bến cảng, vùng đất đã để lại ấn tượng thật sâu sắc để đưa vào tiểu thuyết du ký “Sóng”. Anh cho biết: “Mình chọn những điểm nhấn điển hình nói lên được tập tục, văn hóa của vùng ấy nhưng không sa đà vào chi tiết, tránh không đưa ra những thông tin có thể tra tìm trên gu gồ (google). Nơi đến nhiều khi chỉ là cái cớ để có câu chuyện mà thôi. Với phương châm ấy, “Sóng” nhẹ nhàng như một cuộc dạo chơi thăm thú các vùng đất mới, mỗi nơi để lại một câu chuyện thú vị nho nhỏ vậy”.

Đúng vậy, có nhiều câu chuyện độc đáo trong tiểu thuyết “Sóng” của nhà văn Trương Anh Quốc. Chẳng hạn, chuyện về hòn đảo Tenerife cách châu Phi chưa đầy 300km và cách Tây Ban Nha đến vài ngàn cây số nhưng nó là khu tự trị thuộc Tây Ban Nha. Thật kỳ lạ. Mỗi năm Tenerife đón lượng khách du lịch quốc tế gấp mười lần số dân trên đảo. Chính quyền ưu tiên phát triển đảo còn hơn đất liền. Biển đảo gắn liền lợi ích kinh tế, du lịch cả vị trí địa lý, vùng trời lòng biển lòng đất…

Cũng ở châu Phi, theo nhà văn Trương Anh Quốc, khi tàu đi qua một hòn đảo bé tẹo thì thuyền trưởng người Pháp cho tàu tạt gần hòn đảo một chút rồi thông báo cho thuyền viên ra xem. Chỉ một thoáng, từ trong đảo có các canô chạy ra xua đuổi tàu hàng vì xâm phạm 12 hải lý chủ quyền hòn đảo. Họ phát loa thông báo bằng tiếng Anh, tiếng Pháp một cách kiên quyết. Bất ngờ, thuyền trưởng tàu hàng cho căng cờ Pháp lên và cũng đáp lại bằng tiếng Pháp. Vậy là mấy chiếc canô kia quay đầu vào bờ. Thuyền trưởng cùng mấy thuyền viên người Pháp cười khoái chí và tỏ ra rất tự hào. Hóa ra thuyền trưởng biết hòn đảo xa tít mù khơi tận biển châu Phi này là của nước Pháp nên trêu đùa cho vui với thuyền viên trên tàu.

Còn trẻ và còn nhiều cơ hội lênh đênh trên khắp các đại dương, chàng kỹ sư yêu biển Trương Anh Quốc nhất định sẽ tiếp tục mang lại cho bạn đọc nhiều trang văn hay và độc đáo như “Sóng”.

PHAN TẤN HÙNG
(Theo PYO)
Tin bài khác:








Thứ Ba, 8 tháng 10, 2019

Nghệ thuật sinh thái: Không còn là dấu ấn mờ nhạt

So với văn học sinh thái, nghệ thuật sinh thái (eco-art) ở Việt Nam vẫn là hình thức khá mới mẻ. Nếu trước đây dấu ấn của nghệ thuật sinh thái còn mờ nhạt thì đến nay, hễ dự án nào ra mắt, nó đều để lại dư chấn mạnh mẽ, thôi thúc công chúng bắt tay hành động vì mẹ Trái Đất.

Trung tuần tháng 9, triển lãm "Loài Plastic" tại TP Hồ Chí Minh thu hút đông đảo các bạn trẻ bởi những tạo hình quái vật 3D độc đáo, sống động. Những con quái vật này được lắp ráp từ rác thải nhựa quen thuộc như muỗng, ống hút, nắp chai, ly nhựa, túi nilon, khăn ướt....Đây là các tác phẩm xuất sắc bước ra từ dự án cùng tên được khởi động từ tháng 7.

Không chỉ tham quan mô hình quái vật, người xem còn được tìm hiểu về đặc trưng của các "loài" rác thải nhựa từ hình ảnh đồ họa, tên gọi, xuất xứ, số năm phân hủy đến tốc độ sinh sôi và độ nguy hiểm của chúng. Tất cả được thể hiện sinh động như bản phân tích khoa học một cá thể sống. Chủ đích của dự án "Loài Plastic" nhằm đánh động một vấn đề nhức nhối: rác thải nhựa đang trở thành những con quái vật đáng sợ hủy diệt đời sống, hệ sinh thái của con người. Từ đó, ban tổ chức mong muốn mọi người trước khi sử dụng đồ nhựa, đặc biệt là nhựa dùng một lần, hãy cân nhắc kỹ càng. Đối tượng để dự án phi lợi nhuận này hướng đến là người trẻ.

Nhờ kết hợp hài hòa giữa hình thức online và offline cũng như giữa nghệ thuật và công nghệ, dự án cung cấp các kiến thức về nhựa, về môi trường rất dễ hiểu, tạo được sức lan tỏa mạnh mẽ.
Mô hình quái vật trong triển lãm "Loài Plastic" thu hút đông đảo bạn trẻ tham quan.

Năm nay, dự án "Phố bên đồi" được khởi động bằng cuộc thi sáng tác "Vào miền nghệ thuật" tại dốc Nhà Làng, Đà Lạt. Cuộc thi dành cho các gương mặt đam mê nghệ thuật, thiết kế, kiến trúc và mong muốn chung tay cùng cộng đồng tạo nên những không gian sống thân thiện với môi trường.

Cụ thể, các thí sinh sẽ thực hiện bản vẽ, phối thiết kế... và phóng tác trên bối cảnh dốc Nhà Làng để biến con dốc ít người biết đến này trở nên cuốn hút, độc đáo nhờ nghệ thuật đương đại. Điều quan trọng, ngôn ngữ nghệ thuật đương đại của tác phẩm phải hài hòa với hệ sinh thái, giữ gìn cấu trúc bản địa và gắn bó với cộng đồng dân cư.

Theo ban tổ chức, người dự thi thậm chí không cần thiết kế cầu kỳ mà chỉ cần bố trí sáng tạo các mảng xanh, trồng thêm cây cối, hoa cỏ... thì cũng được coi là một tác phẩm nghệ thuật. Từ các tác phẩm này, người dân sẽ có thêm cảm hứng, ý thức giữ gìn không gian sống của chính mình. "Phố bên đồi" vốn được biết đến là dự án nghệ thuật cộng đồng đa hình thái đầu tiên tại Việt Nam.

Dự án ra đời năm 2016 do nghệ sĩ Nguyễn Trung Hiền và các bạn trẻ hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp sáng tạo thành lập. Mỗi năm, dự án có một chủ đề riêng biệt. Thông qua nghệ thuật đương đại, cộng đồng và du lịch, "Phố bên đồi" hướng đến nâng cao nhận thức về bảo tồn di sản, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.

Trước đó, hồi tháng 4, triển lãm sắp đặt "Rồng rắn lên" của nghệ sĩ đương đại Trần Nguyễn Ưu Đàm gây choáng ngợp cho công chúng thưởng lãm. Những con rắn nilon được thổi căng bằng hệ thống ống pô xe máy, bò ngoằn ngoèo trên sàn khiến người xem hãi hùng. Con voi nilon khổng lồ, những vật dụng hằng ngày bị nhồi nhét bởi rác thải, khí thải… ngả ngốn, ngột ngạt trong không gian chật hẹp. Ưu Đàm muốn đem đến ẩn dụ: vì mưu sinh, con người ngụp lặn trong những dòng khí thải do mình tạo ra mỗi ngày. "Chúng ta phải chống lại con mãng xà độc ác, bò ra từ những chiếc xe gắn máy. Nó siết lấy chúng ta, len trong hơi thở, tràn vào từng ô nhỏ trong phổi, dần giết chết ta. Nếu chúng ta không sớm hành động, nó sẽ ngày càng mạnh" - anh chia sẻ.

Ở lĩnh vực nhiếp ảnh, gây dấu ấn thời gian qua phải kể đến triển lãm "Hãy cứu biển" của nhiếp ảnh gia Lekima Hùng hồi tháng 6 tại Hà Nội. Đây là triển lãm ảnh đầu tiên về rác thải nhựa ở Việt Nam, đánh dấu bước khởi đầu của dự án "Save Our Seas" của chính Lekima Hùng. Triển lãm giới thiệu hơn 100 bức ảnh được chọn lọc từ 3.000 bức do anh ghi lại trong năm 2018 bằng hành trình 7.000km xuyên Việt.

Thông qua triển lãm, công chúng có cái nhìn bao quát về thực trạng rác thải nhựa đang báo động tại nước ta. Những bức ảnh ghi lại rác thải, bao nilon, chai nhựa ngập các bờ biển, sông nước… khiến ai cũng nhói buốt. Lekima Hùng tâm sự: "Tôi không muốn áp đặt mọi người phải làm cái này cái kia, nhưng hãy nhìn những điều đang bày ra trước mắt, thử một ngày không dùng đồ nhựa, sẽ cảm nhận được sự nhẹ nhõm của Trái Đất này như thế nào.

Với thông điệp "Chỉ có hành động mới mang lại sự thay đổi", thông qua các bức ảnh, tôi muốn kêu gọi sự chung tay hành động của cả cộng đồng, của các ban, ngành, tổ chức, doanh nghiệp để giảm thiểu ô nhiễm rác thải nhựa".

Nghệ thuật sinh thái (eco-art) là thuật ngữ chỉ các loại hình nghệ thuật gắn liền với các hoạt động về sinh thái, nhấn mạnh các nguy cơ, kêu gọi và nâng cao nhận thức của cộng đồng về môi trường. Nghệ thuật sinh thái hướng đến cải thiện mối quan hệ giữa con người và tự nhiên. Loại hình nghệ thuật này thường gắn liền với các nghệ sĩ đương đại và chính các nghệ sĩ nhiều lúc cũng là nhà hoạt động môi trường. Do đó, rất nhiều tác phẩm nghệ thuật theo trường phái này là kết quả hợp tác của nhiều nghệ sĩ, nhà khoa học, các cộng đồng sinh hoạt và các nhà giáo dục.
Một tác phẩm làm từ bao nilon trong triển lãm sắp đặt
"Rồng rắn lên" của nghệ sĩ Trần Nguyễn Ưu Đàm.

Eco-art xuất hiện từ thập niên 60 của thế kỷ trước và phát triển rất mạnh trên thế giới nhưng chỉ mới xuất hiện ở Việt Nam trong vài năm trở lại đây. Có thể kể đến một số dự án như triển lãm sắp đặt "Những can thiệp nối dài" của Lê Phi Long năm 2017, "Cây ký ức - Cây hy vọng" của nghệ sĩ thị giác Ly Hoàng Ly năm 2018. Tuy nhiên, hai dự án này đều không để lại ấn tượng mạnh.

Theo phân tích của bà Lê Thanh Hải, Trưởng ban tổ chức cuộc thi ảnh "Di sản Việt Nam", cái khó của nghệ thuật sinh thái, nhất là ở mảng nhiếp ảnh, đó là dễ đụng chạm đến lợi ích của cá nhân, tổ chức hoặc địa phương nào đó khi nhiếp ảnh gia ghi lại cảnh quan bị tàn phá, ô nhiễm… Chưa kể, khi tác phẩm ra đời, việc xin cấp phép để được trưng bày, giới thiệu rộng rãi đến công chúng cũng vướng nhiều khó khăn.

Phải đến năm 2019, nghệ thuật sinh thái mới thực sự trỗi dậy và bùng nổ bằng hàng loạt dự án được đầu tư bài bản, quy mô. Lý giải về điều này, nhiều người cho rằng năm 2019 là năm nước ta đẩy mạnh các hoạt động về môi trường trên nhiều lĩnh vực. Việc giảm thiểu đồ nhựa dùng một lần, hạn chế bao nilon, sử dụng ống hút tre hoặc giấy thay cho ống hút nhựa… đã được nhiều nơi triển khai. Bởi rõ ràng, vấn đề ô nhiễm môi trường hiện nay không còn là chuyện xa xôi mà đến ngay cửa ngõ mỗi nhà. Tại triển lãm "Hãy cứu biển", ban tổ chức thông tin mỗi năm trên toàn cầu có tới 8-12 triệu tấn nhựa rò rỉ ra biển và phải mất 400-1.000 năm để chất thải nhựa phân hóa hoàn toàn trong môi trường, có 100.000 động vật biển bị chết vì nhựa. Riêng Việt Nam, hằng năm chúng ta thải ra đại dương khoảng 0,28 đến 0,73 triệu tấn rác thải nhựa. Trên đà tăng trưởng chóng mặt, ngoài vấn đề rác thải, nước ta còn phải đối mặt với các vấn đề ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, ảnh hưởng tiêu cực tới sự phát triển kinh tế và sức khỏe con người.

Tất cả buộc giới nghệ sĩ phải lên tiếng và hành động. Không đóng khung trong những thủ pháp xưa cũ và cái đẹp ve vuốt, họ tìm tòi mọi ngóc ngách để cho ra đời tác phẩm sáng tạo, gần gũi, đánh động dư luận và có sức lan tỏa mạnh. Sử dụng tiếng nói của nghệ thuật đương đại kết hợp với đặc trưng cộng đồng bản địa, tác phẩm của nghệ thuật sinh thái luôn tăng cường sự tương tác giữa nghệ sĩ và công chúng, tạo sự đối thoại để đi tìm giải pháp.

Dù vậy, nói như nhiếp ảnh gia Lekima Hùng: "Nhận thức của người dân về môi trường hiện nay vẫn chưa cao. Đề tài sinh thái cũng mới được các nghệ sĩ của chúng ta chú ý trong vài năm trở lại đây. Tôi nghĩ, "cuộc chiến" này mới chỉ ở giai đoạn đầu. Hy vọng sẽ có thêm nhiều dự án nghệ thuật khác chú trọng vấn đề này".

MAI NGA
(VNCA)
Tin bài khác:

·         Nỗi oan của môn Văn


Nhà văn Thùy Dương: Trăn trở với mỗi thân phận Người

Nếu không biết Thùy Dương sinh ra và lớn lên ở Hải Dương, sẽ đoán   chắc nàng là người Hà Nội gốc. Gọi là nàng v ì nàng không chỉ xinh đẹp, ...