Thứ Bảy, 23 tháng 3, 2019

Nhà văn Trương Anh Quốc: Những câu văn được vớt lên từ biển

"Sóng biển rì rào" được nhà văn Hồ Anh Thái đánh giá cao, khi ông cho rằng: "Trương Anh Quốc có lối dẫn truyện độc đáo và nhiều bất ngờ. (…) Bất ngờ mà hợp lý, điều ấy bao giờ cũng đòi hỏi sự lành nghề văn chương. Hiếm có nhà văn nào ở ta viết được một tác phẩm đậm đặc chất "viễn dương", tươi nguyên và hấp dẫn như thế này"...
Nhà văn Trương Anh Quốc

1. Trương Anh Quốc là trường hợp có duyên khi đến với văn chương. Sinh năm 1976, so với các tác giả thuộc thế hệ 7X thì anh xuất hiện muộn hơn. Nhưng ngay tác phẩm đầu tiên đã "ghi bàn" ấn tượng với Giải Nhì Cuộc vận động sáng tác văn học tuổi 20 lần thứ III (năm 2005) cho tập truyện "Sóng biển rì rào". Văn học tuổi 20 là giải thưởng văn học uy tín giữa thời buổi loạn các cuộc thi và loạn giải thưởng hiện nay, là nơi từng vinh danh các nhà văn như Nguyên Hương, Phan Triều Hải, Trang Hạ, Vũ Đình Giang, Nguyễn Ngọc Thuần, Nguyễn Ngọc Tư, Phong Điệp, Nguyễn Thị Thanh Bình… v.v…

"Sóng biển rì rào" được nhà văn Hồ Anh Thái đánh giá cao, khi ông cho rằng: "Trương Anh Quốc có lối dẫn truyện độc đáo và nhiều bất ngờ. (…) Bất ngờ mà hợp lý, điều ấy bao giờ cũng đòi hỏi sự lành nghề văn chương. Hiếm có nhà văn nào ở ta viết được một tác phẩm đậm đặc chất "viễn dương", tươi nguyên và hấp dẫn như thế này".

Năm năm sau, vẫn là Cuộc vận động sáng tác văn học tuổi 20, anh lại gây bất ngờ khi tiếp tục dự thi và về Nhất với tiểu thuyết "Biển". Giải Nhất này từng gây tranh luận nho nhỏ trong giới viết lách, nhưng nhận định của nhà văn Chánh chủ khảo cuộc thi lần IV như bảo chứng cho "Biển": "Một lối viết rất trầm tĩnh, không hề to tiếng, nhẹ nhàng, đến như rủ rỉ, có cả nụ cười mỉa mai mà nhân hậu, cứ như thong thả kể chuyện chơi, hết chuyện này tới chuyện khác, không cần thắt không cần mở, không cần cái được gọi là cao trào, hầu như chẳng cần quan tâm mấy đến một đường dây xâu chuỗi kết nối toàn tác phẩm. Tôi nghĩ đó là một cách viết cao tay: bởi cuộc sống thật vốn là vậy đó, thế giới được kết chặt với một bề ngoài trông chừng rất rời rạc, cuộc sống là tất yếu một cách trông chừng như rất ngẫu nhiên".

Tiếp đấy, Trương Anh Quốc giành giải Nhì cuộc thi truyện ngắn trên báo Sài Gòn Giải Phóng. Rồi gần đây là giải thưởng cuộc thi truyện ngắn của Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Nhiều người nói, anh "sát giải", viết không nhiều, nhưng đụng đâu thắng đấy. Văn chương là vậy. Tài năng và lao động thật cần thiết. Nhưng chỉ là điều kiện cần. Phải thêm cái duyên nữa mới thành điều kiện đủ. Mà duyên thì ở ngoài mình. Duyên có chọn mình hay không có… trời biết. Ở đây, ông trời đã dẫn duyên xuống gặp Trương Anh Quốc.

2. Sinh ra và lớn lên ở huyện miền núi Quế Sơn, Quảng Nam, ngay từ nhỏ Trương Anh Quốc đã ôm mộng được đi xa, càng xa càng thích. Nên chàng trai mới lớn chưa một lần ra khỏi huyện chọn trường Đại học Hàng Hải để gửi gắm ước mơ của mình. Với tấm bằng kỹ sư điện trong tay, Trương Anh Quốc hăm hở bước vào nghề thủy thủ trên các chuyến tàu viễn dương. Anh đã đi qua tất cả các đại dương và đặt chân đến 40 quốc gia trên thế giới. Và biển không chỉ biến ước mơ của Trương Anh Quốc thuở thiếu thời thành hiện thực mà còn mở ra cho anh chân trời mới, chân trời chữ nghĩa, chân trời văn chương.

Nếu như biển mang đến nguồn hải sản, nguồn tài nguyên dầu khí cho các quốc gia, mang đến con đường thông thương lớn nhất cho nhân loại, thì với riêng Trương Anh Quốc, biển còn mang đến chất liệu cho những trang văn. Đọc tác phẩm của Trương Anh Quốc, cảm giác như các câu văn được anh vớt lên từ biển, tươi rói và hấp dẫn. Không có biển, chắc chắn sẽ không định hình một nhà văn Trương Anh Quốc như hiện nay.

Trước giờ, văn chương Việt chưa thấy tác phẩm nào viết trực diện về biển, trừ tiểu thuyết "Biển và chim bói cá" của nhà văn Bùi Ngọc Tấn. Nhưng vẫn là biển gần bờ. Ngoài ra, nếu có viết về biển thì chỉ là… nhìn ra biển chứ không phải cưỡi lên biển mà viết. Riêng Trương Anh Quốc rong ruổi khắp thế giới, trên biển. Biển thời hội nhập quốc tế. Vậy nên nói anh độc quyền, "bành trướng" trên biển với trang văn cũng không ngoa. Biển chính là sân nhà của anh. Và mình anh một sân. Chẳng ai cạnh tranh.

Văn của Trương Anh Quốc là thứ văn điềm tĩnh. Như thể anh quen ăn sóng nói gió từng trải khắp các đại dương rồi nên chẳng có gì khiến anh vội vàng. Kể cả mạch văn. Thời đại công nghệ, liệu thứ văn chầm chậm có dễ gây chán ngán? Không. Trương Anh Quốc có thứ khác bù lại khiến người đọc không bị "đứt gánh giữa đường". Là câu văn có mật độ dày các ý bật tanh tách, nạp thêm thông tin bên lề hoặc trình ra lối nghĩ khác với thông thường. Chẳng biết điều này có phải bắt nguồn từ tính cách "Quảng Nam hay cãi" của tác giả không? Nhưng lối diễn đạt này tạo cảm giác hào hứng và kích sự tò mò cho người đọc trong quá trình tiếp cận tác phẩm.

3. Đi tàu viễn dương, mỗi khi tàu cập cảng, việc đầu tiên của Trương Anh Quốc là lên đất liền tìm Internet hoặc trạm điện thoại để liên lạc với bạn bè, người thân, hỏi thăm tình hình mọi người. Sau đấy tranh thủ khám phá đất nước sở tại trong khoảng thời gian cho phép.

Nếu tàu cập cảng trong nước thì Trương Anh Quốc gặp bạn văn chương. Lúc Hải Phòng. Khi Đà Nẵng. Hay Sài Gòn. Hoặc Vũng Tàu. Ngoài gặp gỡ bạn, việc khác nữa chẳng khi nào anh quên, là sục sạo các nhà sách. Trương Anh Quốc về nước là nhờ bạn bè tư vấn các đầu sách mới đáng chú ý cần đọc để lập tức cập nhật. Sách là thứ anh luôn nhớ trang bị trước khi tàu nhổ neo. Để trên tàu, khi đồng nghiệp giải trí bằng việc xem tivi hoặc ngồi canteen thì anh lại đóng cửa phòng riêng đọc sách, hoặc tranh thủ viết lúc sóng biển ngủ quên không gây gổ với thân tàu.

Trương Anh Quốc sống giản dị, có phần xuề xòa. Anh nhiệt tình với bạn bè. Đúng kiểu dân "phượt" xuyên lục địa. Với lối nói chuyện tếu táo ngang như cua, trống người ta đánh xuôi anh sẽ thổi kèn ngược, cốt cho mọi người cười, vậy nên ngồi với anh chẳng bao giờ lo nhàm chán hoặc buồn tẻ.

4. Ba năm nay Trương Anh Quốc không đi tàu nữa. Anh chuyển qua làm cho một công ty dịch vụ dầu khí. Đều đặn xen kẽ 4 tuần ngoài giàn khoan 4 tuần nghỉ trong bờ. Vẫn là biển. Chỉ khác là trước lên tàu đi khắp thế giới, giờ lên máy bay trực thăng ra giàn khoan. Tôi nói, anh chọn việc khéo quá, làm 1 tháng lại có 1 tháng nghỉ vi vu nạp nguyên liệu viết hoặc ngồi nhà viết văn.

Từ ngày Trương Anh Quốc chuyển việc, tôi gặp anh thường xuyên hơn. Thường trước khi anh ra giàn khoan hoặc từ giàn khoan về bờ anh em lại ngồi với nhau rồi anh mới ngược Sài Gòn về với vợ con. Có thể là quán nào đó bên bờ biển hoặc cửa sông hay trong con hẻm nhỏ. Uống ly cà phê hoặc ly bia lấy cớ cho vài câu chuyện xoay quanh việc viết lách, bạn bè văn nghệ.

Nhiều người hỏi Trương Anh Quốc làm gì cho hết 4 tuần trên bờ? Xin thưa lúc thì anh ở Tây Bắc. Lúc Đông Bắc. Khi về quê thăm hai bên nội ngoại. Hoặc đi Tây Nguyên. Trương Anh Quốc ham đi. Đi trên biển đủ rồi đến đi trên bờ, khám phá dọc dài đất nước. Nhiều khi anh nhắn tin hoặc nhắn tin hỏi anh, lại thấy nói đang ở một vùng xa lơ xa lắc. Vậy là biết anh đang bồi bổ mắt và nạp năng lượng cho trang viết rồi. Viết văn mấy người được như anh!

Ngoài tập truyện "Sóng biển rì rào" và tiểu thuyết "Biển", Trương Anh Quốc còn 2 tập truyện ngắn khác là "Lũ đầu mùa" và "Hợp đồng chiều thứ Bảy". Ở 2 tập truyện này, có một số truyện anh trở về với… đất liền. Nhưng có vẻ anh thuộc về biển. Những câu văn phải được vớt lên từ biển mới đúng là Trương Anh Quốc. Chả thế mà khi đọc truyện ngắn không dây mơ rễ má gì với biển của Trương Anh Quốc, nhà văn Hồ Anh Thái đã khuyên anh hãy trở về với biển của mình.

Bây giờ thì Trương Anh Quốc vẫn ở biển. Nhưng trên giàn khoan. Đây là mảng đề tài chưa nhà văn nào chạm tới một cách rốt ráo. Anh lại ở vị trí độc tôn. Chẳng ai viết văn có đủ điều kiện nhảy ra giàn khoan đấu với anh. Tôi nói: Anh tập trung làm một nhát tiểu thuyết nữa về chuyện ngoài giàn khoan đi, sẽ nổi bần bật còn hơn ánh lửa pha - ken trên giàn. Trương Anh Quốc cười. Cái cười của anh tôi phiên dịch ra là: Chờ nhé. Vâng. Tôi đang chờ. Tôi biết anh dư sức làm được, làm ra ngô ra khoai, như anh từng làm với nguyên liệu từ nghề thủy thủ của mình. Và ở đấy, vẫn là những câu văn được vớt lên từ biển, tươi rói và hấp dẫn.

VĂN THÀNH LÊ
Nguồn: VNCA

>> Xem thêm:

·         Phan Hoàng - chùm thơ III


Thứ Tư, 20 tháng 3, 2019

Phan Hoàng - chùm thơ III

     Nhà thơ Phan Hoàng ở Phú Yên

Hoa của đá

Từ mầm đá thông minh dân gian ngàn xưa
mọc lên
mọc lên
cây yêu thương nở hoa nhân ái
quyến rũ đớn đau bầu trời tâm hồn nghệ sĩ

khi đường cong tinh khôi của đá toả hương
khi đường cong hoang sơ của đá thăng hoa
nhân loại vội vàng đi tìm chân lý

vẻ đẹp sinh từ chuyển động lặng im
chân lý khởi nguyên từ nghịch lý bất ngờ

10.10.2011


Tiếng thì thầm

Ở giữa hơi nước và mây lạnh
tôi nghe thì thầm
tiếng giữa hoan lạc và thụ tinh

Ở giữa sấm chớp và mưa giăng
tôi nghe thì thầm
tiếng giữa chuyển dạ và sinh nở

Ở giữa áp thấp và bão tố
tôi nghe thì thầm
tiếng giữa hấp hối và cái chết

Thì thầm giao hưởng bất tận
tuần hoàn qua những đại dương phận người lênh đênh
cuốn cánh buồm tôi trôi mê mải hải lưu buồn
đau những chân trời tư tưởng tật nguyền
câu thơ neo bờ nước mắt

10.10.2004


Mặt trời trong ngôi nhà thân thuộc

1.
Trong ngôi nhà quanh năm ngập tràn tiếng gió
giòn ngọt như môi ngư nữ đương thì
cay đắng như cơn lũ quét
có lúc tưởng chừng mặt trời
mọc
từ hướng tây
đôi khi
ngỡ
từ hướng bắc

Thao thức từng cơn vượt cạn cùng tiếng sóng đêm nay
gió trải nghiệm an ủi vỗ về
bầu trời nhấp nha nhấp nháy sao đổi ngôi
dàn giao hưởng gà trống làng chài phiêu bồng hơn trước
tiếng oa oa con thơ cất lên
tôi biết mặt trời đang mọc trong ngôi nhà thân thuộc của mình

2.
Không ngừng chống chọi những trận cuồng phong
những tên hải tặc khổng lồ tham vặt
có lúc thói quen ngủ gật khiến ta lãng quên
từ hàng ngàn đời nay
thuở mẹ làm ruộng nương cha đưa con về giữ biển khơi
mặt trời vẫn mọc trong ngôi nhà chứa đầy tiếng sóng
đong đầy tiếng gió

mỗi ngày mặt trời một sáng hơn
từ nguồn sữa bầu ơi thương lấy bí cùng ru hời của mẹ
cổ tích ăn khế trả vàng run run hơi thở của bà
thần thoại nhổ tre ngà đánh giặc những khuya biển thức của cha ông

mỗi ngày mặt trời một sáng hơn
từ tiếng vọng oai hùng chiến thuyền nài gạo canh giữ đảo xa
nỗi đau sinh tồn ngôi nhà mang gien giao chỉ

3.
Không từ hướng tây
không từ hướng bắc
trải qua những dòng sông ngập tràn nước mắt
những cánh rừng cháy trọc xương khô
mặt trời vẫn không ngừng mọc lên
trong ngôi nhà tư duy thân thuộc của mình

ngôi nhà quanh năm ngập tràn tiếng gió
bí mật chuyển lưu nguồn sáng chân lý kỳ lạ
quang hợp sức mạnh rồng tiên
di truyền bản lĩnh núi non
hội tụ tấm lòng biển cả
hào phóng năng lượng tái sinh giống nòi
cho tôi
con tôi
cho n… tôi

31.8.2007


Nụ tầm xuân 231

Mỗi nụ cười của con
một nụ tầm xuân
từ máu thịt mẹ cha nở ra xanh biếc
khơi ngọn lửa niềm tin
xua mùa đông giá rét
bừng ngôi sao ước mơ
toả hy vọng những chân trời

Mỗi nụ tầm xuân
lấp lánh nụ cười
bình minh môi con thơ dại
núi có thể giả
sông có thể giả
biển đời cũng có thể giả nhân giả nghĩa
nụ tầm xuân luôn xanh biếc vô thường?

          Ngày sinh nhật con gái Yên Yên 2 tuổi


Ốc đảo 318

1.
Tôi chôn chặt sa mạc hạn hán lòng mình
những hạt giống đen sạm đạn bom
ngộ độc đức tin giáo điều bao cấp
tự phân huỷ trong đói nghèo cấm chợ ngăn sông

Tôi đâu ngờ có ngày
bật lên mầm sống đỏ hon đỏ hỏn của con
ốc đảo tươi xanh
cây cối biết tỏ tình
chim muông biết cất lời đẩy lùi bóng đêm tuyệt vọng
dòng suối tinh khôi biết hoà nhịp ánh sáng ban mai

2.
Ốc đảo bập bẹ cười
ba… ba… ba…
ba làm bò kéo trâu cày
ba làm chó nhảy ngựa phi
ba làm chim sáo nói đớt nói ngọng
ba làm cánh buồm tung sóng
lao vào mọi dòng xoáy định kiến biển đời
ốc đảo con trồi lên mặt trời nhân ái…

3.
Những đám mây lực sĩ từng lẩn tránh sa mạc tuổi thơ tôi
những ngọn gió linh dược từng lẩn tránh nỗi đau không thành tiếng
đang đua nhau về
làm nên những cơn mưa không qui luật tuần hoàn
phục sinh đất đai ung thư hạn hán

Ốc đảo ngập tràn đức tin của con rồi sẽ
xanh hơn? Thế giới toàn cầu hoá của con rồi sẽ
tình người hơn? Và cả vũ trụ bí ẩn của con rồi sẽ…
???

                   Ngày thôi nôi con trai Bin Bin 31.8.2007

PHAN HOÀNG
(Trích từ tập Chất vấn thói quen)


TIN LIÊN QUAN:



Thứ Ba, 19 tháng 3, 2019

Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Lợi: Góc rừng ấm áp

Ở đại đội tôi, trong mấy người lái xe kéo pháo, anh Cư là người tôi thương và quý mến nhất. Anh củ mỉ cù mì, lẳng lặng sống, lẳng lặng công việc.

Nhiều lúc tôi tự hỏi sao lại có người hiền lành vô sự đến thế. Nhìn mặt anh, nhìn con người anh người ta rất dễ cảm mến. Và có lẽ cũng chính vì vậy mà khiến tôi giật thót khi thấy xe anh vừa dừng, từ buồng lái một cô gái cắp nón bước xuống. Tôi nhận ngay ra đó là Thanh vợ Sơn. Cửa phía bên kia, anh cũng bước xuống, trông thấy tôi anh cười. Một nụ cười trông thương đến xót xa. Anh gục gặc đầu rồi chỉ sang cô gái, nói như thanh minh: Cái Thanh vợ Sơn, cậu nhớ không?
Minh họa: Đặng Mậu Tựu

Tôi gật đầu, em nhớ. Có thế chứ, anh lại gục gặc đầu nói tiếp. Nhận hàng xong quay về, chờ ở phà Danh thì gặp. Sao tình cờ mà may thế? Tôi nhìn sang vợ Sơn buột miệng. Cái Thanh đi bán nón ở đó. Anh nói. Tớ hỏi có vào thăm thằng Sơn không thì nó bảo, anh nói thật hay nói chơi để em chuẩn bị. Tớ cũng nghĩ là hỏi cho vui, ai ngờ... Anh đưa mắt nhìn sang vợ Sơn. Vợ Sơn cười tươi, em cũng định thử cho vui chớ mô biết anh cho đi thật.

- Thế là hai cái đùa thành một cái thật. Mà sao Thanh lại ở đó?

Tôi nhìn vợ Sơn. Cô chưa kịp trả lời thì anh Cư đỡ lời, Lữ không nhớ nhà Sơn gần đó à. Tớ bảo có đi thì nhanh lên, phà sắp sang rồi. Thế là cô nàng quay lui, bảo anh chờ em. Không ngờ nó đi thật. Tầm đâu nửa tiếng sau đã thấy nó có mặt và vừa lúc xe xuống phà.

Tôi nhìn anh ái ngại rồi nói nhỏ chỉ đủ nghe, anh chỉ mang thêm rắc rối.

- Thì phải thương chúng nó chứ, mới cưới nhau…

Tôi nói thế là bởi mới cách một tháng trước anh bị đại đội trưởng mắng té tát ngoài kia, dọa sẽ báo lên tiểu đoàn để kỷ luật do trả phép chậm. Chuyện trước chưa xong bây giờ lại rước thêm đàn bà con gái vào trận địa trong hoàn cảnh này.

Tôi và Sơn cùng khẩu đội. Anh Cư lính 65, trung sĩ lái xe, chuyên kéo khẩu pháo của chúng tôi nên anh em có điều kiện gần nhau. Sống với anh từ đầu năm ngoái, trước khi đi tham gia chiến dịch ở chiến trường Lào. Anh dễ tính, xuề xòa, chẳng cáu gắt bao giờ, đặc biệt anh tận tụy với công việc, với nhiệm vụ được giao. Xe anh hễ đi đâu về một lúc đã bóng loáng, chưa hề xảy ra tai nạn hay sự cố nào. Con người anh hơi lạ, đó là lời anh. Tuổi ngoài ba mươi, mắt nheo nheo, mồm meo méo, lưng gù ngực lép, người dặt dẹo. Đặc biệt anh có thói quen như đã thành tật là hay ngúc ngắc gặc gặc đầu, khi vui cũng như khi buồn, đặc biệt những lúc xúc động mạnh là đầu anh luôn cử động như để giải tỏa bớt sự bức bối trong lòng. Còn cả khuôn mặt anh nữa, khuôn mặt gầy gò xương xẩu và không cân đối khiến mỗi khi cười trông anh rất tội. Anh sống với bọn lính trẻ chúng tôi cực tốt. Anh bày dạy nhắc nhủ chúng tôi đủ điều về đời sống của người lính thời chiến. Quê anh ở vùng trung du Phú Thọ, anh bảo nghèo khổ lắm. “Nhìn tao thì biết”. Mỗi nhà một quả đồi nào sắn nào khoai… Nhà nọ cách nhà kia một tầm tiếng hú, dân làng lam lũ lắm, quần quật kiếm cho đủ miếng ăn rất vất vả. Nơi nghèo khổ nên gái làng cũng chẳng được cô nào nhìn cho ra hồn. Tôi bảo sao anh cứ toàn nói xấu quê mình thế thì anh bảo vì đó là sự thật.

Vợ Sơn lẩn đi đâu một lúc, quay lại cười lỏn lẻn hửng hẫy cả đôi má:

- Em cứ tưởng phải khuya mới tới, hóa ra chỉ mất hơn buổi.

Vị trí giấu xe của đại đội là một khe cạn có mấy lán nứa xiêu vẹo cạnh khóm săng lẻ cụt ngọn, cách trận địa độ cây số, đường vòng vèo qua mấy đồi vừa cỏ tranh vừa sim mua. Nghe đâu năm trước, khi Mỹ còn ném bom miền Bắc, vùng này nổi tiếng ác liệt. Quanh các chân đồi, trong các bãi tranh miệng hố bom hố đạn còn dày đặc. Trong mấy chiếc xe của đại đội chỉ mình xe anh Cư được cử ra Vinh mua hàng chuẩn bị cho ngày 22/12 sắp tới, số xe còn sau khi lau chùi sạch sẽ được phủ bạt, các bố “giặc lái” nhà ta lúc này đang chúi cả vào chiếu bài “tiến lên” trong lán. Từ trận địa vào, tôi vừa nói đến xin ít luyn thải, không cần quay lại các anh bảo cứ lấy, dưới gầm xe ngoài kia. Tôi vừa trút luyn vào cái hộp đạn 12ly7 thì xe anh Cư về tới nơi. Nghe tiếng xe anh Cư về và tiếng con gái họ cũng chỉ ngoảnh ra vẫy vẫy rồi mắt lại dán vào ván bài.

Vợ Sơn đưa mắt nhìn quanh vẻ nóng ruột. Anh Cư bảo tôi:

- Cậu dẫn Thanh lên trình đại đội hộ cái, để tớ đi giao hàng rồi rửa xe luôn. Anh Cư bảo tôi rồi quay ra với vợ Sơn bảo, cô đi theo nó, thằng Sơn trên đó.

- Dạ. Em đi đã..

Vợ Sơn đã nhanh nhảu chào rồi quay sang tôi có ý giục.

- Nhớ chồng lắm hả, vô mà trị cái tính đĩ mồm của nó.

Tôi nói thay cho câu chào. Thật sự thì tôi không khoái cái vụ này lắm. Một là nó sẽ gây rắc rối cho anh Cư, rắc rối cho đơn vị trong điều kiện thiếu thốn giữa rừng giữa rú, lại toàn đàn ông… Hơn nữa đại đội trưởng của chúng tôi hơi khó tính. Giờ đưa cô ta đến sẽ sao nhỉ. Tôi cố hình dung ra vẻ mặt đại đội trưởng Cưỡng lát nữa. Ông ta sẽ cười hay nạt um lên. Vẻ mặt mai mái, rắn đanh ấy có mấy khi cười đâu, có cười cũng chỉ nhếch mép rồi mím lại ngay. Ông rất khắt khe với lính, từ việc sắp xếp ăn ở đến kê chèn bánh xe, lau chùi khẩu pháo…

- Lạ chi tính anh Sơn nhà em, bộc tuệch, ruột để ngoài da mồm miệng như tép nhảy.

Mắt vợ Sơn lúng liếng, môi vểnh lên.

Anh Sơn nhà em, ghê thật. Tôi thầm nghĩ con gái mới có chồng mấy bữa đã có vẻ từng trải gớm. Đang nổ máy xe, anh Cư nhô hẳn đầu ra khỏi cửa nhìn tôi khi chiếc Zil 130 bắt đầu lăn bánh:

- Hai đứa đi đi, nhanh lên cho Sơn nó mừng. Tớ mang hàng lên tiểu đoàn cái đã.

- Vâng! Ta đi thôi. Nói rồi tôi xách hộp dầu đi trước, vừa đi vừa nghĩ, sao anh Cư không nhận ra sự nghiêm trọng của việc mình làm nhỉ? Anh quên chuyện buồn hôm đó rồi sao?

Số là đi chiến dịch ở Lào, về nước tạm ổn định ăn ở tiểu đoàn cho một số tranh thủ thăm nhà. Anh Cư nằm trong số anh em được về. Và hôm trả phép, anh bị quạt một trận ra trò vì trễ một ngày. Tối đó toàn đại đội tập hợp bốn hàng ngang trên một sân kho hợp tác, đại đội trưởng chắp tay đi đi lại lại một lúc mới cất tiếng. Ông phê bình anh Cư vô kỷ luật. Rồi nào là vì một người đàn bà mà coi rẻ danh dự… Trong ánh sáng nhờ nhờ của đêm trăng lu, cả đơn vị im phăng phắc, nhìn sang tôi thấy đầu anh gục gặc mãi. Đêm đó chẳng biết anh có ngủ được không. Trưa hôm sau, ăn xong anh lẳng lặng mang võng ra mấy cây xà cừ ngoài mé đồi. Thấy thế tôi cũng mang võng ra theo. Trên võng, anh nằm gối tay sau đầu thở dài thườn thượt. Hỏi thì anh bảo nhớ vợ quá. Khiếp, tưởng anh buồn vì bị phê bình chứ nhớ vợ đến nỗi thế, cứ như người hấp hối thì sợ thật. Tôi nói chắc chị đẹp. Anh bảo chúng mày chưa có vợ nên chưa biết được. Đàn ông đàn bà, khi đã trao xương gửi thịt, khi đã bén hơi nhau thì… Nói thế rồi anh lại thở dài. Tớ thế này làm sao lấy được vợ đẹp, mà thành vợ thành chồng rồi xấu đẹp có còn quan trọng nữa đâu. Cái chính là có thương nhau không thôi, vợ chồng cốt ở việc ăn ở đối xử. Mà Lữ ạ, vợ tớ ấy mà... cô ấy có tuổi rồi. Chị ấy bao nhiêu mà anh bảo “có tuổi”? Cô ấy hơn tuổi tớ. Hơn nữa, về làm vợ tớ cô ấy phải chịu khổ vì bố mẹ tớ già yếu, lại một bầy em. Thương lắm!

Tôi mắc võng sát bên võng anh rồi nằm xuống. Giữa trưa xóm làng vùng đồi im phắc. Một lúc không nghe anh nói gì, tôi nghển cổ ngó sang, anh nhắm mắt, hai gò má lăn dài hai giọt nước đặc quánh. Đột nhiên tôi rùng mình. Vì thương nhớ vợ khiến anh phải lặng lẽ khóc như vậy hay còn vì gì nữa. Một lúc sau như đã bình tĩnh lại, anh kể. Đợt tranh thủ vừa rồi chỉ được mười ngày. Đi bộ ra Vinh, chờ tàu ba tiếng, Vinh ra Hà nội mất một ngày, loay quay tìm xe lên mất hơn buổi nữa thế là mất đứt gần ba ngày. Đêm đầu về nhà chưa kịp thăm hỏi gì ông cụ đã gọi chú bác cô dì đến “ra nghị quyết” anh phải cưới vợ. Anh hỏi cưới ai thì ông chú bảo đã có rồi. Anh phải cho các cụ đứa cháu nội rồi muốn đi mấy năm nữa thì đi. Hỏi ra mới biết ở nhà đã cho người thăm dò cái người là vợ anh bây giờ hồi còn sinh hoạt thanh niên được anh gọi bằng chị. Rồi các cụ giục anh đi gặp chị Mơ để bàn bạc. Thế là anh phải đi. Gặp chị Mơ, anh làm liều hỏi. Chị… à…, đàng ấy đồng ý làm vợ mình à? Mắt chớp chớp một lúc rồi chị Mơ gật. Nếu được anh thương thật lòng thì em đồng ý. Thế là anh chị bàn ngay chuyện cưới và chỉ cách ngày nữa đám cưới đã diễn ra. Tôi nói làm sao chuẩn bị kịp? Có gì đâu, bốn năm mâm cơm sơ sài chú bác cô dì xúm lại góp vào. Thế anh chị chỉ được một đêm với nhau? Chỉ một đêm! Một đêm mà mãi gần nửa đêm mới lên giường, lại thêm cả tiếng đồng hồ Mơ cứ ôm lấy mình mà khóc, thương thương là…

Kể đến đây giọng anh nghèn nghẹn. Chưa sáng Mơ đã dậy, bảo em phải sửa soạn cho anh đi… Rồi chị theo anh xuống tận Hà Nội. Chuyến tàu Hà Nội - Vinh chậm gần bốn tiếng, gần một buổi ngồi cạnh nhau mà không hề động chạm, cứ ngồi thế cho thời gian trôi một cách phí hoài, tiếc tiếc là. Thế rồi mãi tới hơn bốn giờ chiều tàu mới lăn bánh. Tàu chạy, dưới đường chị chạy theo, vừa chạy vừa khóc gọi tên anh làm mấy bác ngồi cùng toa cũng rơi nước mắt…

Đầu tháng chạp rét buôn buốt. Những vạt cỏ tranh khô xác quanh các chân đồi. Vừa đi vợ Sơn vừa gợi chuyện. Anh Lữ vừa rồi có được về thăm nhà không? Thanh cũng biết tên mình à? Biết chứ răng không. Bữa mấy anh đến nhà em chơi, anh ra vườn chọc bưởi bị một quả rơi trúng đầu, đúng không? Chịu Thanh rồi. Vợ Sơn cười lỏn lẻn hỏi, còn xa không anh Lử?

- Cái gì xa?

- Là em hỏi chỗ anh Sơn nhà em.

Anh Sơn nhà em. Cái giọng tí tửng của vợ Sơn làm tôi thêm ái ngại. Ở giữa rừng giữa rú xa chợ xa làng, bữa ăn chỉ có rau muống, bí đỏ, cá khô. Mới vào lán trại đang tạm bợ, mọi việc đang búi xùi xùi, hơn nữa lính tráng toàn đàn ông, chỗ ăn ngủ sao cũng xong. Đàn bà con gái lạc vào đây là phức tạp, rồi vợ chồng Sơn ngủ ở đâu?

Tôi và vợ Sơn đã lên tới nơi. Đang đứng ở hầm chỉ huy, đại đội trưởng Cưỡng quay lại, khóe miệng giật giật, mắt mở to sửng sốt.

- Báo cáo đại đội trưởng, có cô Thanh vợ Sơn vào thăm chồng.

- Thăm thăm… Thăm gì lúc này!... Mà mà mà cô vào đây làm gì. Ai cho cô vào đây?

- Dạ dạ… Vợ Sơn xanh mét mặt, run lẩy bẩy.

- Dạ, cô ấy…

- Tôi chưa hỏi đồng chí. Mà ai bảo đồng chí dẫn người lạ vào đây? Ai cho phép, ai cho hả?

Bây giờ thì tôi cũng run. Tôi và vợ Sơn đứng như trời trồng chờ cơn thịnh nộ tiếp tục giáng xuống… Đơn vị chiến đấu chứ có phải là “chiêu đãi sở” đâu. Vô tổ chức, vô kỷ luật!

Tôi cứ đứng đực ra. Vợ Sơn vừa run vừa mân mê quai nón, hết tháo ra lại thắt vào chẳng biết đến lần thứ mấy. Mấy tay pháo thủ ở hầm pháo gần nhất cứ thập thò nhìn sang huơ tay lè lưỡi ra kiểu trêu tôi. Sơn bất thần ập đến…

Thế rồi Sơn ý thức ngay được vấn đề khi nhìn vợ và đại đội trưởng.

- Thôi, đưa nhau vào trong kia đi, không được ra đây nữa. Ở với nhau đêm nay thôi, sáng mai ra đường xin xe cho cô ấy về sớm. Còn láng cháng ở đây tiểu đoàn mà biết…

Nói xong đại đội trưởng mang vẻ mặt hầm hầm đi nhanh vào lán. Vừa vào đến cửa, chẳng biết nghĩ thế nào ông quay ra, giọng có phần dịu xuống. Thôi thì… Sơn này, vào báo với nhà bếp cho thêm suất khách tươi tươi vào. Bảo với anh Chiện là ông Cưỡng bảo nhé. Sơn vừa cất bước lại được gọi giật lại. Còn chuyện ngủ… Đại đội trưởng gãi gãi đầu, thế nào được nhỉ. Thấy vậy Sơn cười, cảm ơn anh, chuyện ngủ anh cứ để mặc em. Ừ, các cậu thông cảm vậy.

Chao ôi, tôi nhẹ cả người. Hóa ra đã là con người thì dù sắt đá đến mấy thì cũng phải có lúc yếu mềm. Sao có thể lạnh lùng tàn nhẫn cả với một cô gái chỉ vì nhớ thương chồng mà chẳng quản rét mướt, chẳng ngại đường sá xa xôi lặn lội vào tận nơi xó rừng giới tuyến này chứ. Hơn nữa, cũng đã có vợ, đại đội trưởng phải hiểu chứ.

Vẻ mặt đại đội trưởng Cưỡng lúc này thật lạ, ánh mắt như chứa một điều gì đó rất mềm yếu, rất dịu dàng. Tôi bỗng nhiên thấy thương ông. Cũng phải hiểu và thông cảm cho ông, đợt vừa rồi vẫn không được về thăm vợ. Từ bên kia trở về chân ướt chân ráo đơn vị đã phải cơ động vào đây để sẵn sàng vào chiến trường tiếp. Là đại đội trưởng ông phải chịu trách nhiệm trước tính mạng bao nhiêu con người, chịu sức ép của trên, của dưới. Lính trẻ chúng tôi quen mồm gọi là ông nhưng thực ra anh mới ba mươi ba tuổi, đi lính từ năm sáu mốt mà cấp bậc chỉ mới thiếu úy. Anh lấy vợ đã ba năm mà vẫn chưa có con, chẳng hiểu nguyên do gì. Lính tráng chúng tôi có ý nghĩ có lẽ vì thế nên anh khô khan cứng nhắc. Tính khí thế mà hôm nay có vẻ như đã chiều Sơn.

Sơn khá đẹp trai, và có duyên nhờ cái răng khểnh. Đặc biệt hắn là một tay láu cá rất đáng yêu, mồm mép phải nói nhất tiểu đoàn và tán gái thành thần. Trận địa về đâu, thả hắn ra ngoài là y như rằng, chỉ bữa trước bữa sau đã thấy có gái đến tìm. Còn nhớ, dạo còn ở Thường Xuân, Thanh Hóa, chập tối cơ động đến vị trí, sáng ra cử Sơn đi chặt ngụy trang thì cuối chiều đã có một cô to như cái thùng phi tìm đến cứ đứng đàng xa mà réo anh Sơn, anh Sơn ơi. Một hôm, đại đội trưởng chỉ thị cho chi đoàn đã đưa Sơn ra kiểm điểm, phê phán tác phong sinh hoạt thì Sơn cười khơ khớ. Tui có làm chi ảnh hưởng mô. Quen thân thì được người ta giúp đỡ chớ có chi. Thế rồi cười trừ. Mà Sơn nói đúng cả. Đến đâu, cần “dân vận” điều gì, nếu cử Sơn đi là y như rằng, mĩ mãn. Xin tre, xin rau, mua chó mua gà, nhờ lực lượng hỗ trợ đào công sự… Có bận có nhà còn sai con gái gánh hẳn một gánh rau cùng chè xanh đến ủng hộ nữa chứ. Anh em gán cho Sơn biệt danh là tay “gái vận” thật không oan. Mọi người cứ quen dần lối sống đó của Sơn. Ngay cả khi cô Thanh này tìm đến đơn vị… Nghe nói Sơn yêu Thanh nghiêm túc, hai đứa quyết lấy nhau thì đại đội trưởng vẫn chưa tin. Mãi khi vào trả phép Sơn báo đã cưới Thanh thì mọi người mới ngớ ra.

Vợ chồng Sơn đi rồi, tôi đang định đi vào lán khẩu đội thì đại đội trưởng gọi lại:

- Lữ vào đó có gì tìm cách giải quyết chỗ ngủ cho chúng nó cái.

- Vâng!

Thế là tôi vọt. Vừa đi tôi vừa nghĩ, hay là bàn với khẩu đội trưởng đêm nay tất cả sơ tán. Không được, như thế sẽ ảnh hưởng đến nhiều người. Hai đứa đâu được thoải mái, hơn nữa lại ở giữa trận địa. Đi chừng được nửa quãng đường tôi gặp anh Chiện gánh cơm ra trận địa. Anh Chiện bảo mày vào làm gì? Tôi nói việc đại đội trưởng giao. Anh Chiện cười cười, lo gì, mày vào đó ăn với vợ chồng nó cho vui, cơm tao phần cho khối, rồi anh ngúc ngắc gánh cơm đi.

Vào tới nơi thì chiều đã sâm sẩm, mấy anh lái xe đang ăn cơm. Riêng mình anh Cư đang tay bê tay xách. Thấy tôi anh ngẩng lên cười. Tối nay vợ chồng nó ngủ đâu đây anh? Tớ không biết. Kệ chúng nó. Ơ… mà nhìn nét mặt anh tôi hơi nghi nghi. Trên vai là tấm bạt và cái tăng gấp gọn, tay xách bình ắc quy, anh bảo tôi. Theo giúp tớ một tay. Thế là tôi theo anh đi. Vừa đi anh vừa đưa tay chỉ ra phía sau gốc săng lẻ chân đồi, cậu có thấy chỗ đó có cái xe xích kéo pháo hỏng bị bỏ lại không? Em biết rồi, nghe nói đó là chỗ trận địa tên lửa bị đánh năm trước. Ừ, đúng đấy. Thế vợ chồng Sơn đi đâu anh? Biết đâu đấy, chúng bảo trong lúc chờ tớ cùng ăn hai đứa loanh quanh đâu đó.

Đi đâu quãng hai trăm mét vòng vèo sau mấy lùm cây, tới nơi tôi phải kêu lên. Ôi, buồng hạnh phúc của vợ chồng Sơn đây rồi. Cái thùng của chiếc xe xích hỏng đã được rải dày một lớp cỏ tranh khô, bốn góc có bốn đoạn cây làm cột, có mái chăng bạt cùng bốn phía đã được quây tăng kín đáo. Chả trách gì lúc nãy tôi thấy một quãng dài cỏ tranh bên đường đã bị cắt. Và lúc này tôi mới thấy mấy ngón tay của anh rớm máu. Anh Cư thả tấm bạt, đặt cái ắc quy xuống chân, nói cậu thấy được không? Tuyệt anh ơi. Hóa ra công sức của anh từ chiều đến nay là thế này đây. Tôi giúp anh gấp gọn tấm bạt đặt lên cái nệm cỏ êm dày rồi phủ thêm lên cái vỏ chăn còn mới lên nữa. Xong xuôi, anh ngồi thụp xuống, hai tay xoa xoa, đầu lúc lắc nói, ổn chứ mày? Tôi nói quá ổn anh ơi. Vợ chồng Sơn có biết anh chuẩn bị thế này không? Không, tớ giữ bí mật chứ. Thế à, vậy để lát nữa em tìm cành hoa mua cắm lên cho thêm phần lãng mạn. Ừ, được đấy! Thôi, vào ăn cơm, chắc hai đứa về rồi đấy.

Mâm cơm anh Chiện để phần thật chu đáo. Nửa xoong cơm trắng, canh lá bứa, thịt hộp xào rau cải, cá khô rim mặn ngọt. Vợ Sơn lúc này tươi tỉnh quá. Dưới ánh sáng của ngọn đèn ắc quy ánh mắt cô cứ ngời lên long lanh… Chà, ăn thế ni sướng hơn ở nhà.

Anh Cư vừa ăn vừa tủm tỉm một lúc rồi nói. Chuyện ăn thế coi như ổn, còn chuyện ngủ… làm sao bây giờ nhỉ?

- Anh cứ mặc bọn em. Vẫn cái giọng bông lơn hàng ngày, Sơn đưa mắt sang vợ, ngủ mô cũng được… Thanh đỏ mặt tía tai đấm vai Sơn thùm thụp.

Có ánh đèn pin từ ngoài đồi đi vào rồi đại đội trưởng xuất hiện. Tớ vào xem các cậu giải quyết chỗ ngủ cho vợ chồng Sơn ra sao.

- Anh yên tâm, xong xuôi rồi. Anh Cư lại ngúc ngắc cái đầu. Lát nữa mời đại đội trưởng đi kiểm tra. Anh Cư nói làm vợ chồng Sơn ngớ ra.

Dọn dẹp xong, anh Cư bảo ra ngoài đó ta uống nước luôn thể. Nói rồi anh cúi xách phích nước sôi và bộ ấm chén đi trước và chúng tôi bước theo. Tới nơi, đại đội trưởng phải ở ra một lúc rồi kêu lên: Tuyệt, tuyệt!!

Sơn đứng ngây ra một lúc rồi quay qua vợ. Vợ Sơn hết nhìn anh Cư rồi nhìn sang chúng tôi, mắt rân rấn.

Anh Cư bước lên thùng xe bật công tắc đèn rồi cười. Khoang thùng xe bừng sáng. Anh mời mọi người bước lên. Một tấm gỗ sạch sẽ chẳng biết anh Cư chuẩn bị từ lúc nào được đặt chính giữa. Tất cả chúng tôi ngồi chung quanh. Tôi giúp anh pha nước rồi rót mấy chén. Vợ Sơn lúc này mới lúng túng mở túi đưa ra mấy xấp kẹo Cu Đơ, miệng lí nhí kẹo quê em. Đại đội trưởng Cưỡng hết nhìn người nọ sang người kia và dừng lại với anh Cư. Sự xúc động không thốt ra lời khiến vẻ mặt anh, ánh mắt anh long lanh cảm xúc. Ngoài trời đã tối đen và gió hùn hụt thổi mà không khí trong khoang thùng xe ấm áp vô cùng.

NGUYỄN NGỌC LỢI  
Nguồn: TCSH350/04-2018


TIN LIÊN QUAN:



Thứ Hai, 18 tháng 3, 2019

“Động hoa vàng” của Phạm Thiên Thư

Những ai say đắm bài thơ Động hoa vàng của nhà thơ Phạm Thiên Thư chắc sẽ bất ngờ khi biết nhiều ý tứ về “động hoa vàng” được ông lấy cảm hứng từ căn gác gỗ ở khu cù lao Phan Xích Long.

“Rằng xưa có gã từ quan/ Lên non tìm động hoa vàng ngủ say...”.

Có thể nói một cách nào đó, khu cù lao Phan Xích Long chính là “động hoa vàng” của Phạm Thiên Thư. Ở nơi đây, ông đã trải qua những năm tháng sáng tác rực rỡ nhất trong cuộc đời mình.

Khu cù lao còn là nơi cư ngụ của nhiều văn nghệ sĩ như Trụ Vũ, Thụy Long, cũng là nơi lui tới bàn chuyện con chữ thế sự của Phạm Duy, Sơn Nam...
Nhà thơ Phạm Thiên Thư lúc còn trẻ chụp trước căn nhà có cây hoa vàng
trong khu cù lao Phan Xích Long, P.2, Q.Phú Nhuận mà ông gắn bó nhiều năm
- Ảnh: TỰ TRUNG chụp lại từ album riêng

Ngẫm về chốn cũ

Chúng tôi tìm gặp nhà thơ Phạm Thiên Thư khi ông đã chuyển về sống cùng người vợ thứ ba trong căn nhà nhỏ trên đường Hồng Lĩnh, thuộc khu cư xá Bắc Hải (Q.10).

Tầng dưới của ngôi nhà ông mở quán cà phê đặt tên Hoa Vàng, luôn vang tiếng dương cầm réo rắt. Phía trước quán, ông để vài cái ghế, và đó cũng là chỗ ngồi thường xuyên của ông.

Gặp Phạm Thiên Thư bây giờ, thật đúng như hình dung của chúng tôi về một nhà thơ - tu sĩ khi tuổi đã về già. Mặc bộ đồ giản dị, ông ngồi dưới giàn dây leo râm mát với một cuốn sách cũ, cặm cụi ghi ghi chép chép. Trước mặt ông đặt một tảng đá, cắm những bông cúc vàng.

Có lẽ cuộc đời người thi sĩ hằn sâu, ấn tượng với cảnh hoa vàng, nên mỗi địa điểm cư ngụ ông đều để hoa vàng như một biểu tượng của ký ức. Trong số đó có căn nhà trong hẻm Trần Kế Xương, P.2, Q.Phú Nhuận mà ông gắn bó nhiều năm.

Có thể nói hình ảnh hoa vàng xuất hiện dày đặc trong thơ Phạm Thiên Thư. Nó trở thành một biểu tượng xuyên suốt, một nỗi hoài niệm.

Ông kể: “Năm 1942 khi cả gia đình còn ở xã Chi Ngãi, huyện Chí Linh (Hải Dương), bố tôi mua hẳn ngọn đồi Phượng Hoàng. Hoa cúc dại vàng mênh mông, bát ngát chạy dài che khuất đường chân trời”.

Năm 14 tuổi, ông theo mẹ di cư vào miền Nam, ngụ tại khu Tân Định. Sau khi học xong tú tài, khác với nhiều người Phạm Thiên Thư chọn cửa Phật làm chốn dừng chân. Ông theo học Trường Phật học Vạn Hạnh, gửi hồn trong lời kinh tiếng kệ.

Năm 1968, gia đình nhà thơ mua 400m2 đất ở khu cù lao. Rồi ông sáng tác thi phẩm Động hoa vàng với 100 đoạn thơ.

Mỗi đoản khúc là một tiếng hót của loài dị điểu, sẵn sàng yêu và chết, và để tiếng hót của mình rơi rụng trên sông.

Trong thời gian sống cùng bà Tuệ Mai (con gái Á Nam Trần Tuấn Khải), ông bà thường đọc thơ cùng nhau ở nơi này. Lúc đó Phạm Thiên Thư đã nổi tiếng với tác phẩm Đoạn trường vô thanh. Ông từng tu hành 7-8 năm ở chùa Vạn Thọ, gần kênh Nhiêu Lộc.

Động hoa vàng trong ký ức

Chính vì tuổi cao, lại trải một qua cơn bệnh cách đây chưa lâu, nhà thơ Phạm Thiên Thư không còn nhớ được nhiều. Nhưng khi nghe nhắc về “động hoa vàng” ở căn nhà cũ nơi cù lao thơ mộng, nhà thơ gọi tên người bạn thân thiết: tiến sĩ sử học Nguyễn Nhã.

Theo lời kể của tiến sĩ Nguyễn Nhã, ông và Phạm Thiên Thư biết nhau từ những năm tháng tuổi đôi mươi, khi bắt đầu chung nhóm nghiên cứu về văn hóa.

Có lần cha của tiến sĩ qua cầu bị té xuống kênh, chính Phạm Thiên Thư vì nhà trổ cửa nhìn ra sông trông thấy nên hô hào người dân kéo lên bờ. Tiến sĩ kể nhà ông và nhà Phạm Thiên Thư ở gần nhau.

Khi nghe nhắc về cây hoa vàng, tiến sĩ Nhã xác nhận đúng là trước đây ở đầu ngõ nhà của nhà thơ có cây hoa vàng rực, khung cảnh nên thơ vô cùng.

Năm 1968, nơi này gọi là đường Hàng Keo. Nhà Phạm Thiên Thư có hình chữ L, ở cuối xóm. Ông làm một cái gác nhỏ, nhìn ra hướng sông.

Ông nói đó là động hoa vàng, có chuẩn bị hoa cỏ, đèn dầu, thuốc lá cho bạn bè thân hữu mỗi khi ghé chơi (Phạm Duy, Trụ Vũ, Bùi Giáng, Sơn Nam, Nguyễn Nhã...).

“Căn gác gỗ của Phạm Thiên Thư rất thơ mộng, cửa sổ trổ ra bancông, nhìn về hướng mặt trăng. Căn gác trang trí mây tre cũng là sự hữu ý của Phạm Thiên Thư vì nhà thơ rất đề cao tính truyền thống, yêu thích hình ảnh cây tre khi gió mạnh thì cúi rạp người nhưng khi cần chiến đấu thì có thể chặt thành từng đoạn cắm dưới lòng sông” - tiến sĩ Nhã kể.

Thi thoảng, tiến sĩ Nguyễn Nhã cũng ghé đến quán cà phê Hoa Vàng hiện nay để thăm người bạn già Phạm Thiên Thư. Trong mắt ông, Phạm Thiên Thư là người giản dị, yêu sâu đậm đất nước qua những vần thơ giàu tính truyền thống, hòa nhã với bạn bè thân hữu.

Duyên kỳ ngộ Phạm Thiên Thư - Phạm Duy

Trong những năm sống ở khu cù lao, Phạm Thiên Thư và nhạc sĩ Phạm Duy có mối liên hệ mật thiết. Cách đây hơn 40 năm, Phạm Duy đã lui tới căn gác của Phạm Thiên Thư để phổ nhạc một số bài thơ của ông.

Năm 1971, Phạm Duy đã phổ nhạc 10 bài đạo ca của Phạm Thiên Thư mà chính nhà thơ đã nhận xét rằng cách phổ nhạc rất hay.

Tiến sĩ Nguyễn Nhã cho biết thi thoảng khi ghé nhà Phạm Thiên Thư, ông cũng gặp nhạc sĩ Phạm Duy. Nhạc sĩ và nhà thơ bàn về nhạc, về thơ say sưa, tâm đầu ý hợp.

Tính đến nay, nhạc sĩ Phạm Duy đã phổ khá nhiều bài thơ của Phạm Thiên Thư, có thể kể đến Động hoa vàng, Ngày xưa Hoàng Thị, Em lễ chùa này, Gọi em là đóa hoa sầu... Thậm chí giữa Phạm Thiên Thư và người nhạc sĩ hơn ông 20 tuổi đã có mối tri kỷ từ những ngày đầu mới gặp.

Khi Phạm Thiên Thư còn tu tập trong chùa, nhạc sĩ Phạm Duy có ghé vào thăm. Họ cũng đã nhiều lần chia sẻ những dự định, những trăn trở về đường sáng tác, về nỗi cô đơn trong cuộc đời.

Khu vực cù lao còn là nơi cư ngụ của nhà thơ Trụ Vũ - tác giả bài thơ Quasimodo nổi tiếng. Quê ở Huế, ông vào Sài Gòn từ năm 1949, đến năm 1961 sống ở khu Phan Xích Long này.

Theo lời nhà thơ, khung cảnh, vị trí của Phú Nhuận khiến nhiều nhà thơ tìm đến cư ngụ vì thuận tiện để đi lên khu vực trung tâm, giá cả sinh hoạt lại rẻ.

Ngày xưa Phan Xích Long có xóm Mã Đen, nhiều mồ mả. Xóm này thuộc ấp Đông Ba, quanh xóm tre trúc mọc đầy.

Người nghèo, cả người tị nạn cũng rúc vào khu này sinh sống. Còn vùng cù lao (giờ là khu vực đường Hoa Sứ, Hoa Lan...) ngày trước cỏ lau mọc trải dài tới khu vực bờ kè.

Ông kể ngày xưa muốn tìm không gian yên tĩnh, ông thường ra đó. Ông còn kể rằng khi giao thiệp với nhà thơ Hoàng Cầm, có một lần nhà thơ Hoàng Cầm vào Sài Gòn chơi, Trụ Vũ nhờ người em kết nghĩa tên Diệu Tiên dẫn về nhà ông.

Nhưng họ bị lạc nguyên một ngày mới tìm ra nhà Trụ Vũ! Căn nhà của ông còn là nơi lui tới của Phạm Thiên Thư thời trẻ, của Sơn Nam, Thụy Long... và nhiều văn nghệ sĩ, giới trí thức Sài Gòn.

YẾN TRINH - TIẾN LONG
Nguồn: TTO


Thứ Bảy, 16 tháng 3, 2019

Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư: Sầu trên đỉnh Puvan

Năm 1887, Colègan, một tu sĩ người Pháp, đã đặt những bước chân đầu tiên thám hiểm đỉnh Puvan. Và lần đầu tiên trong đời, người đầu tiên trong lịch sử vùng đất, ông đã nhìn thấy cây sầu (Oghdgerygwbbvchfh gfdutvyt) nở hoa. Trong những đoạn ghi chép rời rạc, run rẩy, ông viết: “Những đóa hoa sầu đẹp đến nỗi đáng đánh đổi cả cuộc đời người để được trông thấy chúng dù chỉ một lần”.
Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư

Và ông ta đã chết ngay sau đó, chết lặng lẽ trên dãy núi Puvan bí ẩn. Những mẩu xương vụn bị thú rừng tha về hang làm đồ chơi cho bầy thú con, chỉ ít dòng ghi lại gói trong chiếc thùng sắt mãi về sau này lưu lạc trong nhân gian. Nhiều người đã đọc, họ tò mò lên núi mà không biết rằng sầu chỉ trổ bông dưới cơn mưa đầu tiên sau mười ba tháng hạn liên tiếp, không một giọt nước trời nào rớt lên đỉnh núi xa xăm. Vài người biết được điều đó, họ đã thấy bông sầu nở nhưng họ không sống sót để trở về.

Đó là tất cả thông tin mà Vĩnh có khi bắt đầu cuộc hành trình lên đỉnh Puvan. Củi, thằng bé chăn dê dưới chân núi mà Vĩnh thuê dẫn đường, thì hằn học: “Đồ quỉ - cây đó xài không được, dê còn chê, hổng biết mọc làm chi mà vô duyên vô dùng, tui đái vô mấy gốc cây đó hoài cho đỡ tức. Má tui nói cây sầu sống bằng xương dê, xương trâu bò, năm nào bầy dê nhà tui chết nhiều sầu mới trổ bông…”. Coi như thằng Củi biết nhiều. Còn Dịu thì chẳng có tí thông tin gì, chỉ biết Vĩnh tới đó thì cô cũng tới đó, nếu có cáp treo thì tốt, không có cũng chẳng sao, Vĩnh leo núi cô sẽ leo núi cùng anh. Chỉ mong sau chuyến đi này cô được khoản tiền kha khá gửi về quê.

Nơi đó có đứa con nhỏ của cô đang sống với má. Mười tám tuổi cô lấy chồng, chín tháng sau ly dị, bữa ra tòa hai đứa còn nắm tay cười ngỏn ngoẻn suốt dọc đường, bà con nhằn: chưa thấy cặp nào bỏ nhau vui vẻ như tụi bây. Họ không biết hai đứa đã ngoéo tay hứa với nhau rồi, đây là ly dị giả đò thôi, chỉ để làm thủ tục cho Dịu đi lao động ở Đài Loan, thương nhau rồi có ly dị một chục lần cũng sẽ nối lại tình xưa, dễ ẹt. Lúc Dịu về sẽ cưới thêm lần nữa, không chừng còn rình rang hơn lần đầu.

Lúc Dịu về, cô lặng lẽ cất cái chòi nhỏ ở góc vườn nhà má ruột, bẻ xoài sống nhai rau ráu mà nước mắt ràn rụa, cô có con với một ông chủ Đài Loan vô lại và bà chủ còn vô lại hơn khi đẩy cô tay trắng ra đường. Chồng cô xách mác vót qua nhà, chém vào gốc cột: “Sao kỳ vậy, em hứa với tui là mình chỉ giả đò ly dị thôi mà, sao kỳ vậy, kỳ quá?”. Dịu nuốt nước mắt, nắn cái mặt câng lên, trâng tráo: “Hồi đó khác, bây giờ khác”.

Và cái khác biệt gây đau đớn nhất là cái bụng binh rỉnh sau làn áo. Ọc ạch đi làm cỏ rẫy kiếm ít tiền sinh con, Dịu hay bắt gặp chồng (đã cũ) của mình mon men bên kia sông, ngó theo. Tóc anh ta dài ra, người ốm o còm cõi, chắc là nhiều đêm không ngủ được. Một bữa mở cửa ra thấy anh ta say rượu nằm trước nhà. Cũng bữa đó Dịu sinh, cô cắn môi bước qua giấc ngủ của chồng, một mình đến trạm y tế. Tối sau, anh ta lọ mọ tới thăm, lúc đầu chỉ đứng đằng xa ngó day diết, một hồi mới lại gần, nói như hụt hơi: “Chắc là thằng nhỏ này biết kêu ba bằng tiếng Việt - ngó thấy Dịu sắp phản ứng, anh ta nói luôn - tui thương nó như con tui, thiệt mà…”.

Vì câu nói đó Dịu gửi con lại cho má, bỏ lên Sài Gòn kiếm sống. Sự bao dung đôi khi gây đau như mũi dao. Và Dịu trở thành gái bao, tự xem đó là một nghề sống được, cô cười cợt câu cửa miệng mà tụi bạn nghề hay thở than: “dòng đời đưa đẩy”. Vĩnh gặp Dịu vào một hôm nào đó mà cả hai đều không nhớ rõ, chỉ biết cái cách cô nhai nước đá lóc cóc giữa bữa tiệc sang trọng làm Vĩnh buồn cười. Và Vĩnh để cô lại bên mình rất lâu, chỉ vì cô luôn nấn ná chờ hết chương trình chiếu phim mới chịu trút áo xống trước mặt anh, đôi nam nữ trong bộ phim Hàn đã đến được với nhau, cô vui, nhưng khi họ gặp trắc trở, nước mắt cô tràm trụa, cô còn buột miệng chửi thề mỗi khi vai ác bắt đầu bày ra âm mưu thâm độc nào đó: “Má nó, ngon ha, ngon thì chui ra đây, tao bẻ lọi cổ…”. Vĩnh để cô ở lại lâu vì lúc gần sáng cô nhớ con, nhớ chồng thường dịch ra mép giường chênh vênh và khóc.

Vĩnh thì chẳng có nỗi nhớ nào sâu sắc đến nỗi phải thức giấc vào giờ đó. Một thằng bé gào khóc ngơ ngác trước căn nhà sập bẹp, cháy rùng rùng sau trận bom, đó là hình ảnh đáng nhớ nhất, đau buồn nhất cũng bị đè lấp bởi những ký ức mờ nhạt, trống rỗng, mù mù những khuôn mặt người, những cuộc chơi cũng na ná giống nhau cũng rượu và những cô gái đẹp. Ngoái nhìn quá khứ nghĩa là tương lai, hiện tại không có gì để làm, anh thì quá bận rộn, anh phải kiếm tiền và dùng tiền đó đi đến những nơi đẹp nhất, sở hữu những thứ đẹp nhất. Nếu giật mình nghe tiếng khóc của cô gái gọi vào những khuya xa, anh chỉ nằm im, nghĩ: sắp sáng rồi, bữa nay làm gì, đi đâu ta?

Và khát vọng được xem sầu nở trên đỉnh Puvan luôn luôn chập chờn trong tâm tưởng. Vĩnh chờ cơ hội đó đã mười lăm năm, và trong mười lăm năm đó anh đã đi gần như khắp các châu lục, khám phá những ngọn núi, dòng sông, những vùng đất được xem là đẹp nhất. Sau chuyến đi Hồng Kông xem triển lãm viên kim cương lớn nhất thế giới, Vĩnh về nhà và mơ thấy những cây sầu trên đỉnh Puvan bị mây ngậm vào miệng, ướt đẫm. Vùng đất rộng lớn bao gồm cả núi Puvan đã không mưa suốt mười ba tháng ròng; và cô phát thanh viên điệu đàng trong chương trình dự báo thời tiết nói rằng sẽ có mưa, trong vòng một tuần nữa. Vĩnh vùng dậy, bắt đầu cuộc hành trình, gọi Dịu đi theo. Dịu chẳng hỏi han gì suốt một chặng đường đi, cô không quan tâm anh đi đâu, làm gì. Cô chỉ cần tiền và anh thì cần cô trong đoạn đường này, vậy thôi.

Nhưng đến chân dãy núi Puvan hoang vu, phế tích thì Vĩnh nghĩ cần thêm một người dẫn đường. Thằng Củi lù lù hiện ra, một linh hồn mười lăm tuổi trong cơ thể đứa bé lên chín, ở trần, gầy nhom, lem luốc, hai xương vai bén ngót, nhô lên cao, môi nẻ ra, bong những cái vảy nhỏ. Dịu hỏi:

- Ê, nhỏ, làm gì ở đây?

Nó cười, toàn khuôn mặt chỉ long lanh một hàm răng trắng nhởn:

- Tui chăn dê.

- Dê đâu?

Nó lon ton chạy vào hốc núi và lôi ra con dê mỏng dính, một bộ xương xơ xác. Nó chỉ tay mông lung:

- Hồi trước tui chăn cả bầy mười mấy con. Hạn quá nên tụi nó chết hết rồi. Bây giờ chỉ còn con Danh này thôi.

Thử nghĩ có tay máy nào đó chụp ảnh thằng bé còm này với chú thích “chăn dê”, người xem hỏi dê đâu, anh ta nói dê chết hết rồi, hạn hán quá lâu, cỏ cây cháy lá hết, nguồn nước cũng kiệt nên chỉ còn một con dê, nhưng con dê đó cũng chui vào hốc đá trốn nắng, nó kiệt sức lắm rồi. Cũng như chụp ảnh cái hồ nước trống không với chú thích “hai con vịt”, hỏi vịt đâu anh ta bảo vịt vừa bơi ra khỏi hồ. Vĩnh bỗng buồn cười. Thằng bé chăn dê tinh tế nhận ra ngay cái nhìn thiếu niềm tin của Vĩnh, nó lôi ngay trong cái bị bàng rách rưới một cái đầu lâu dê với những hốc xương trống rỗng, hai sừng nhọn vút ra phía sau: “Tui nói thiệt. Đây là con Chương nè, tụi tui thân lắm, nó toàn nằm ngủ chung với tui. Năm ngoái nó dám đánh nhau với chó rừng để cứu tui, nhưng giờ nó chết rồi, tui nhớ nó muốn khùng”. Thằng bé mếu máo nhưng hai mắt ráo hoảnh, dường như nước mắt cũng bị cái nắng dai dẳng rút cạn, bay hơi đi.

Và thằng người khô quắt bắt đầu thể hiện uy quyền của người bản địa, nó ngó bọn Vĩnh, mắt trợn tròng trợn trạc, nuốt nước miếng, hắng giọng:

- Mấy người đi đâu đây?

Vĩnh ngó lên đỉnh núi Puvan đã mù mù mây. Thằng bé cười ngạo nghễ: “Coi tướng ông không biết đường lên đó đâu”. Vĩnh cười: “Tôi không cần biết, vì cậu sẽ dẫn đường cho tôi. Ba chục ngàn, đủ chớ?”.

Thằng bé lẩm nhẩm, ba chục ngàn hả, ba chục ngàn thì mua được ba chục gói mì tôm. Những gói mì mới tinh từ tay ông Tàu chủ quán cứ lào xào trong tâm trí của thằng bé khiến đôi mắt khô vàng sáng lên. Không có cuộc trả giá nào, rẻ mạt, Dịu nghĩ thầm, chua xót. Không hiểu sao cô nghĩ tới con mình.

Cô nhìn khuôn mặt đẹp như tạc từ đá của người tình, cô không thấy lạ chút nào nếu anh lạnh lùng, tàn nhẫn thêm chút nữa. Như đã từng bắt cô phải đếm lại tiền công trước mặt anh. Như đã từng lạnh lùng bỏ đi trước dù cô say mèm vấp té ngay thềm khách sạn. Như thường bỏ mặc lúc cô ngấm rượu, da thịt phơi trần, không đắp giùm một tấm khăn, tấm áo. Cô chỉ ngạc nhiên trước vẻ bồn chồn, háo hức của anh với Puvan, trước sự da diết của anh với Puvan, trong lúc chờ thằng bé “đem con Danh về cất đàng hoàng mới được, lúc này ăn trộm dữ lắm, với lại tui phải cho má tui hay, mắc công má tui lo”.

Thằng bé tên Củi, chứng tỏ bà mẹ cũng tự trọng khi đặt tên con, Vĩnh hơi nhếch mép cười khi nghĩ tới điều đó. Đó là cảm giác bình thường cuối cùng trước khi anh bỗng chông chênh, hơi dại đi, cảm giác anh hay có khi sắp đến một kỳ quan nào đó. Vĩnh hơi vấp ở những gờ đá đầu tiên. Không hề có con đường mòn nào.

Vùng núi Puvan nằm sát biên giới, ngày xưa mỗi năm vài lần thổ phỉ tràn sang cướp bóc. Chỉ còn một làng nhỏ đìu hiu hơn hai chục nóc nhà và lời nguyền chết chóc của những bông hoa sầu trên đỉnh núi đã làm vùng đất này càng hoang vắng hơn. Thằng Củi kể người làng nó căm thù những cây sầu trên đỉnh Puvan, người ta gạt đi trước những lời đồn đãi rằng bông sầu đẹp, đẹp gì cái thứ đó, đẹp gì ác nhơn ác đức vậy! Năm nào cây trổ bông thì cả làng đói nhưng không ai đốn bỏ chúng được, dường như chúng không phải là cây mà là đá. Chẳng ai, kể cả trẻ con, muốn lên đỉnh núi u buồn đó, người ta dần quên lãng trên Puvan còn có những cây sầu. Năm nay nửa làng đã bỏ vào thành phố làm mướn, ăn xin.

Và những con dê được mang tên đám bạn Củi để lúc gọi lên nó thấy ấm lòng. “Trễ lắm là tối nay xóm tui có mưa” - trong cơn hưng phấn, đứa bé khoái chí chỉ về phía làng mình, nhưng ngay lập tức ngón tay nó hơi cong lại, như thể chỉ cần thẳng ra là tay nó hướng ngay vào sự nghèo khó, hắt hiu. Thằng Củi luôn miệng kể lể, nó bò lên trước, trông như con thằn lằn nằm vắt trên những tảng đá dựng, thỉnh thoảng nó dừng lại chờ Vĩnh và Dịu, thỉnh thoảng nó ngây ra nhìn người đàn ông xa lạ và ngượng ngập cười xòa khi ánh mắt của mình bị Vĩnh bắt gặp: “Hồi nào giờ tui chưa biết mặt ba tui, tui nhìn coi ông có chỗ nào giống tui không?”. Câu nói làm Vĩnh khựng lại một thoáng và Dịu nhớ con đến rã rời. Đỉnh Puvan như lún mãi vào những đám mây đen.

- Tối nay trời chắc mẻm mưa - thằng Củi hớn hở - Con Danh chắc khoái lắm, thể nào nó cũng chạy ra sân tắm một bữa đã đời.

Vĩnh còn mong gì hơn, cơn mưa đầu tiên sau hơn bốn trăm ngày nắng như thiêu như rang, và sầu trổ những bông hoa đầu tiên. Vĩnh cảm giác mình chờ lâu hơn mười lăm năm, chờ trước cả khi anh đọc được những dòng chữ nguệch ngoạc đổ tháo của vị tu sĩ người Pháp được trưng bày trong viện bảo tàng. Puvan luôn ẩn hiện vào trong những ngày mai của anh, giúp anh ngồi dậy sau trống rỗng sau mỗi cuộc chơi sau mỗi chuyến đi ta bà thế giới. Anh gần như chạm tay vào tất cả những gì mình muốn, tận mắt nhìn thấy những gì mà người đời ca tụng là tuyệt vời nhất, chỉ những bông sầu trên đỉnh Puvan không tùy thuộc vào tham vọng hay sự giàu có của anh, chỉ những bông hoa sầu trên đỉnh Puvan trong lòng anh cứ mỗi năm một lần tan tác trước những cơn mưa sớm.

Nhưng bây giờ anh đã gần những bông sầu hơn bao giờ hết, ý nghĩ đó làm Vĩnh bươn lên trước một khoảng xa. Dịu bị tụt lại vì mệt, thằng Củi cũng ở cùng cô. Dịu bẻ cành gai viết tên nó lên thân cây chỉ còn tươm chút nhựa: “Củi đang ở đây”, thằng Củi sướng rơn khi vân ve ngón tay dơ èm quanh chữ Củi, nó nói tên nó sao mà gọn hơ. Lần đầu tiên nó thấy được đường nét của tên mình. Nhưng Củi không chơi lâu, trong lúc chờ chân Dịu đỡ mỏi, nó bứt dây leo xâu những chai nhựa đựng nước mà bọn Vĩnh, Dịu đã trút cạn vào hai cổ họng khát khô, quảy lên vai, xúng xính: “Để dành hạn đi vô suối lấy nước uống. Má tui quí mấy cái chai này lắm, đựng nước mắm, nước màu cũng tiện”. Thằng Củi phân trần, coi bộ nó sợ Dịu đòi lại.

Thằng Củi làm Dịu nhớ con, dù chẳng có liên hệ nào rõ ràng. Củi lớn, con Dịu vẫn còn nhỏ, Củi đen nhẻm, con Dịu lại trắng trẻo, xinh đẹp. Nhưng không có gì chắc chắn thằng Củi không là hình ảnh của con Dịu mười năm nữa. Cô bâng quơ:

- Ở với má khổ quá hả?

- Khổ gì đâu... Chăn dê cũng sướng... - thằng Củi ngỏn ngoẻn - không được ở với má mới buồn dữ.

Trời ơi, sau câu nói đó thì Dịu muốn về nhà ngay lập tức. Ngó xuống bãi đất lổn nhổn xương khô - cô không phân biệt được xương của súc vật hay của người - xa vợi dưới kia, cô bỗng ngẩn ngơ không hiểu làm sao mình lại kẹt trên một triền núi xa lạ này. Vĩnh vẫn không ngoái lại, bươn tới đỉnh núi, tới cơn mưa, tới những cây sầu. Dịu cũng đứng lên, bấu víu từng gờ đá vẫn còn nóng rẫy. Cô muốn cùng Vĩnh tàn chuyến đi này, chuyến cuối cùng của một Dịu gió sương. Cô muốn nói một lời từ giã.

Nhưng đến cuối chiều cả ba người mới cùng đứng với nhau, nơi đỉnh núi. Vĩnh ở sẵn đó, không có vẻ gì chờ cô. Trước mặt anh là những cây sầu với những vòm lá đã héo hắt, chực rụng khỏi cành. Mưa lay phay, đỉnh núi Puvan bị buốt trong hơi nước. Trời tối rất nhanh, như thể sau cái chớp mắt màu trời lại thẫm hơn. Thằng Củi lo tối quá không về nhà kịp, nó đứng lóng ngóng như bị nước nóng đổ đít, mà hai vị khách không có vẻ gì muốn quay xuống núi, nghĩa là nó cũng chưa chạm tay tới món tiền công. Đành chờ đợi.

Mưa bắt đầu nặng hạt, thằng Củi quay tròn dưới làn mưa, nó muốn xuống núi để cho má nó hay, mưa rồi, mưa thiệt rồi. Củi sướng như sắp ngất đi, nó lôi cái đầu lâu con dê tên Chương ra nói như khóc, tắm mưa nè mầy, tao đã biểu mầy ráng chờ, thể nào cũng được tắm mưa, mầy không nghe, mầy chết. Dịu đứng gần đó, tóc chảy ướt rượt, ứa nước mắt vì thằng nhỏ đã héo tới mức dầm trong mưa càng quắt queo hơn. Vĩnh thì như phát điên, như đang mộng du khi những vòm lá chết của những cây sầu bỗng phát sáng. Chúng cuốn tròn lại như một búp hoa và từ từ rẽ thành từng cánh từng cánh lấp lánh.

Vĩnh nín thở. Sầu trổ bông.

Lần đầu tiên trong đời, thằng Củi thấy bông sầu nở. Nó nghĩ mấy người thành phố này cũng rảnh thiệt, chắc là hết chuyện làm, nên lặn lội biết bao xa chỉ để tới ngó bông sầu. Trong mắt nó bông sầu còn tệ hơn bông bí vì bông bí ăn được. Thằng Củi bỗng lên tiếng:

- Thôi, tui về, để má tui dầm mình hứng nước mưa tội bả.

Dịu định nói gì đó để giữ nó lại, nhưng khi nhìn vào nó, Dịu đọc được sự căm ghét những kẻ vì bông sầu mà đã cầu mong cơn nắng thật dài, không cần biết nơi này những bầy dê chết cong queo trên đồng cỏ cháy. Dịu giúi ít tiền vào tay thằng Củi, nó không tỏ vẻ mừng, dường như có mưa là có khoai ăn có cơm ăn, nó cũng không cần tiền của những người xa lạ nữa. Và thằng Củi đã biến mất sau màn mưa, chìm lỉm vào bóng tối. Chỉ thấy cái đầu nó nhấp nhô ngọ nguậy rồi bặt tăm. Còn lại tiếng đất đá tuôn rào rào. Dịu lo cho thằng Củi, bỗng dưng...

Không hạt mưa nào xuyên qua vầng sáng kỳ ảo của những bông sầu. Vĩnh bảo Dịu trốn vào đó, và khi quay nhìn lại cô đã ngủ, tay nắm chặt cái túi xách nhỏ. Vĩnh biết trong đó có cái hình cưới, cô cài cành bông giả màu hường lên đầu, quê òm, cười thẹn thò bên cạnh người con trai hơi đen, cũng quê òm. Cô ta không cần tìm kiếm và chờ đợi bông sầu. Nên cô ta ngủ khi bông sầu vẫn nở và vẫn rạng rỡ những sắc màu, ngủ như khi anh vẫn còn nằm trên người cô. Một cuộc đời hèn mọn với những ước mơ hèn mọn luôn làm Vĩnh khó chịu lẫn một chút ngạc nhiên.

Nhưng những gì anh có, anh hưởng thụ nửa đời qua đã tầm thường nhạt nhẽo trước những bông sầu đang chuyển sang phớt tím, trong vắt, hắt sáng lên vùng trời tối tăm mưa gió. Bất ngờ anh không nghĩ ra cái gì còn có thể đẹp hơn nữa. Không còn cái gì xứng đáng với những bông sầu để thay thế trong ý nghĩ về ngày mai của anh.

Và anh biết làm sao với ngày mai? Còn gì để mà chờ đợi, mà chinh phục nữa? Anh còn níu được gì để ngồi dậy mỗi ban mai? Vĩnh quì trước vòm bông sầu, rối bời vì ý nghĩ đó. Cô gái giang hồ kia sống vì con, vì mối tình ngắc ngoải, bị xé lìa; thằng bé tên Củi thất học kia còn có mẹ; anh thì không vì ai, không vì cái gì hết. Anh thấy sợ hãi ngày mai trống rỗng kia. Hoang mang. Ngơ ngác. Rã rời. Vụn nát. Vĩnh gần như quị xuống khi những bông hoa bắt đầu tím thẫm, như màu môi của Lam, mối tình đầu của anh khi người ta vớt xác cô ở ngã ba sông. Vĩnh chứng kiến cô rơi khỏi tàu nhưng Vĩnh chẳng làm gì cả, Vĩnh không biết làm gì trước những xoáy nước, Vĩnh sợ. Như Vĩnh không biết làm gì trước những vụn thịt rơi vãi của những người thân mình trong một buổi bom đạn hôm xưa.

Lúc Dịu thức dậy, người đã ướt đầm mồ hôi vì hình ảnh cái cây khắc tên thằng Củi cứ chập chờn đau đáu, thảm thiết như một tấm bia mộ. Vía cô cứ chạy mãi vào những bụi gai, thịt da bị cào rách bươm, khản tiếng gọi “Củi ơi”. Dịu thức dậy, bông sầu đã rụng tả tơi, những bông sầu bầm lại như máu khô. Và Vĩnh treo mình lửng lơ trên cành sầu khẳng khiu, trơ trụi. Trên đỉnh núi không có thêm đỉnh núi, và Vĩnh không muốn xuống núi, chẳng có gì chờ đợi anh ở đó.

Đỉnh núi mờ sương xào xạc gió, như đang day diết lại lời nguyền. Chỉ người phụ nữ kia là không tin những cây sầu giết người. Cô xuống núi, một mình.

Nguồn: TTCT

TIN LIÊN QUAN:




Nhà văn Thùy Dương: Trăn trở với mỗi thân phận Người

Nếu không biết Thùy Dương sinh ra và lớn lên ở Hải Dương, sẽ đoán   chắc nàng là người Hà Nội gốc. Gọi là nàng v ì nàng không chỉ xinh đẹp, ...