Thứ Năm, 21 tháng 2, 2019

Những bài học cuộc sống qua thiên nhiên trong tác phẩm của nhà văn Vũ Hùng

Khởi nghiệp với nghề kỹ thuật thông tin và sau đó là một phóng viên chuyên viết về mảng khoa học kỹ thuật, nhưng cuối cùng Vũ Hùng lại trở thành nhà văn chuyên viết cho thiếu nhi. Không chỉ vậy, thiên nhiên trong các tác phẩm của ông được miêu tả vô cùng tinh tế và luôn chứa đựng những bài học cuộc sống.
Nhà văn Vũ Hùng rưng rưng khi nghe các đồng nghiệp nhắc lại kỷ niệm xưa.

Sau 25 năm sinh sống ở Pháp và làm công việc hoàn toàn không liên quan đến viết văn, nhà văn đã trở về Việt Nam và có cuộc gặp gỡ với bạn đọc và các bạn văn, phần lớn là những đồng nghiệp và các bạn văn chương trước đây.

Nhà văn Viết Linh từng viết về ông: “Cuộc đời nhiều khi tạo nên những bất ngờ: Vũ Hùng đã trở thành nhà văn không hề được chuẩn bị trước.

Cái gì làm nên điều đó?

Trước hết phải nói tới kinh nghiệm sống của anh. Anh đã đi lại rất nhiều nơi, trên rừng dưới biển. Anh đã sống nhiều năm trên Trường Sơn, cả ở phía Đông lẫn phía Tây, trong những làng săn, giữa những bầy voi, gần gũi với những người đi kiếm trầm hương, với các thợ săn, các quản tượng … Anh đã tích lũy được những hiểu biết phong phú về phong tục của nhiều dân tộc, về tập tính của nhiều loài thú và những cách ứng xử của chúng.

Tất cả tạo cho anh một vốn sống dồi dào, cái cơ sở quan trọng của người viết văn”.

Số lượng tác phẩm của Vũ Hùng viết rất dồi dào, tính từ năm 1960, trong khoảng 30 năm cầm bút, ông viết được 40 tác phẩm, hầu hết dành cho thiếu nhi. Những tác phẩm của ông được đúc kết từ chính cuộc sống thực của mình, và đặc biệt, những năm tháng ở Lào, ở Trường Sơn đã cho ông những trang viết về thiên nhiên vô cùng sinh động và tinh tế.

Nhà văn kể lại: “Hồi còn đi bộ đội, tôi có nuôi một con culi. Con culi này rất khôn, biết được nguy hiểm và an toàn, nó cũng biết ai yêu mình thật lòng và nó dành tình cảm cho người đó. Con culi sau này đã trở thành nhân vật trong truyện “Con culi của tôi. Con vật có những bí ẩn mà con người không thể biết được”.

Nhà thơ Hồng Thanh Quang chia sẻ: “Tôi là một trong những độc giả từ thủa nhỏ của chú Vũ Hùng. Ông đã cho tôi và những đứa trẻ thời đó biết được rất nhiều điều về thiên nhiên kỳ thú”.

Nhà văn Hà Phạm Phú, một trong những đồng nghiệp của ông từ thời làm việc ở báo Quân đội Nhân dân kể lại rằng: “Cuốn sách đầu tiên của Vũ Hùng mà tôi được đọc là “Mùa săn chim”, và tôi đã có ấn tượng rất mạnh mẽ. Cách viết về thiên nhiên, về con vật trong các tác phẩm của ông rất tinh tế và luôn có những bài học sâu sắc”. Nhà văn Hà Phạm Phú lấy thí dụ, một câu chuyện mô tả một người thợ rừng dùng gậy đánh con trâu để thúc giục nó kéo gỗ qua bãi lầy, nhà văn đã góp ý để sửa lại thành người thợ dùng khúc gỗ bẩy bánh xe lên cho con trâu dễ kéo. Và nhà văn Vũ Hùng nói: “Nhà văn phải biết dạy cho người ta về lòng nhân ái”. Chính vì thế, văn chương của ông đã đem lại cho các thế hệ bạn đọc tình yêu đối với thiên nhiên, đất nước, và bồi đắp tính nhân văn, tình yêu thương con người.

Bà Lê Thị Dắt, nguyên Tổng Biên tập Nhà xuất bản Kim Đồng nhận xét: “Ở Việt Nam, không ai viết về voi hơn nhà văn Vũ Hùng. Trong chuỗi tác phẩm viết cho độc giả nhí, ông quan tâm nhiều nhất đến loài vật này. Ông có những quan sát rất tinh tế: khi hai con voi đánh nhau, một con đã rũ vòi nhận thua, con kia không bao giờ truy đuổi. Ban đêm, khi bầy voi nằm ngủ, con nhỏ và yếu thường nằm bên trong, những con to khỏe nằm ngoài cùng để bảo vệ cả bầy. Bao trùm lên tất cả là những bài học dạy các em nhỏ biết yêu thiên nhiên, yêu cỏ cây và yêu đất nước”.

Cùng quan điểm như vậy, nhà văn Lê Phương Liên nhận xét: “Cuốn “Sống giữa bầy voi” thể hiện tiêu biểu cho cách viết của nhà văn Vũ Hùng. Ông để cho nhân vật của mình có cái nhìn trẻ em trong một môi trường người lớn, có cái gì đó khác với người lớn và đôi khi đối chọi lại với người lớn. Cách kể chuyện của ông lại dẫn dắt rất bình dị, không có sự đối lập nào, nhưng rất hấp dẫn và liên kết toàn bộ câu chuyện. Điều này khiến các độc giả nhí có thể học văn tốt hơn”.

Còn nhà thơ Văn Chinh cho rằng, thiên nhiên qua ngòi bút của nhà văn Vũ Hùng, dẫu ở những nơi rất quen thuộc với độc giả, cũng mang vẻ lung linh kỳ thú, thí dụ như cách nhà văn mô tả khu vực Láng nơi ông sinh ra và lớn lên. Ngay cả trong truyện dịch, cách viết của ông cũng thể hiện như vậy, như tập truyện từng được nhiều thế hệ độc giả yêu thích là “Jody và con hươu non”.

12 trong số hơn 30 tác phẩm của nhà văn Vũ Hùng đã được Nhà xuất bản Kim Đồng ký hợp đồng xuất bản. Ông Nguyễn Huy Thắng, nguyên Phó Giám đốc NXb Kim Đồng cho biết, việc bộ sách vắng bóng lâu năm của nhà văn Vũ Hùng được bạn đọc đón nhận nhiệt tình là một tín hiệu đáng mừng trong tình trạng hiện nay các sáng tác cho thiếu nhi, đặc biệt là mảng sách viết về nhiên còn hạn chế. Những tác phẩm của ông được xuất bản vào lúc này không chỉ làm phong phú cho mảng sách văn học thiếu nhi, mà còn góp phần giáo dục tính nhân văn, tình yêu quê hương đất nước, và đặc biệt là hình thành nhân cách cho các em.

***

Nhà văn Vũ Hùng sinh 1931, quê tại làng Láng, quận Cầu Giấy, Hà Nội. Ông nhập ngũ năm 1950, từng học tại các trường Thủy quân Việt Nam, trường Lục quân Trần Quốc Tuấn. Làm Đài trưởng Đài vô tuyến điện của Trung đoàn Quân tình nguyện Việt Nam tại Trung Lào. Phóng viên báo Quân đội Nhân dân, biên tập viên NXB Ngoại văn, NXB Văn học. Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế Bộ Văn hóa. Từ 1989 ông định cư tại Pháp và tháng 5-2014 về nước sống những năm cuối đời. Nhà văn nhiều lần định về thăm mộ bố mẹ nhưng chưa đi được vì bệnh tim.

Từ 1960 đến 1989, ông in 40 đầu sách tại nhiều NXB trong nước. Nhiều tác phẩm của ông được dịch ra tiếng Pháp, Anh, Nga, Trung Quốc… Cuốn sách đầu tay, “Mùa săn trên núi”, do NXB Kim Đồng ấn hành năm 1960. “Sao Sao” (1982) và “Sống giữa bầy voi” (1986) từng đoạt giải Văn học thiếu nhi.

TUYẾT LOAN
Nguồn: Nhân Dân

TIN LIÊN QUAN:



Thứ Tư, 20 tháng 2, 2019

Diễn trình sinh thái trong văn xuôi Nam bộ

Khi con người rời xa thiên nhiên, trái tim họ sẽ trở nên khô cằn
                        (Ngạn ngữ Mĩ) 
PGS.TS Bùi Thanh Truyền

Quan hệ tương hỗ giữa văn học và môi trường đã được nói đến từ lâu.

Tiếp cận văn xuôi Nam Bộ từ góc độ sinh thái là một vấn đề quen mà lạ. Quen, bởi tự nhiên đã song hành với tiến trình kiến tạo con người, xã hội loài người đến nỗi đôi khi ta hồ như không còn ý thức về sự hiện tồn của nó. Lạ, bởi sinh quyển tự nhiên, xã hội với bao phẩm tính, quan hệ phức tạp, trong bối cảnh hiện nay, là mối quan tâm hàng đầu của các ngành khoa học, trong đó có khoa học văn chương, để góp phần giải bài toán về sự phát triển bền vững của nhân loại. Vừa lên án sự tàn nhẫn, vô trách nhiệm của con người đối với sinh thái, cảnh báo nguy cơ sinh thái đối với con người, văn xuôi của vùng đất phương Nam cũng khẩn thiết kêu gọi, cổ vũ chúng ta biết sống vô sự, sống có trách nhiệm với tự nhiên, biết tự điều chỉnh nhận thức, hành xử của bản thân với môi trường để xứng với danh hiệu “Người ta - hoa đất” - một triết lí sống mang đậm tinh thần sinh thái nhân văn của dân tộc. Sự hồi đáp của nghệ thuật ngôn từ trước môi trường là tư tưởng xuyên suốt trong văn xuôi hiện đại Nam Bộ. Việc gắn nối với những vấn đề quan thiết như biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường sinh hoạt, văn hóa khiến mảng sáng tác này bộc lộ rõ tính thời sự, dân tộc và nhân loại. Điều đó cũng cho thấy sự nhạy cảm, bản lĩnh, cái tâm và trách nhiệm công dân của nhà văn đối với thực trạng xã hội hôm nay trên tinh thần môi trường kêu gọi, văn chương đáp lời.

1. Tinh thần sinh thái - một yếu tính của văn xuôi hiện đại Nam Bộ 

Lịch sử hình thành, phát triển của vùng đất Nam Bộ là lịch sử của sự dịch chuyển trong mối quan hệ giữa con người với môi trường sống: từ vị trí, tâm thế của người phụ thuộc đến chinh phục rồi chan hòa với tự nhiên, môi trường. Đây cũng là sự chuyển dịch hệ hình (paradigm) trong đời sống văn học. Chỉ xét giai đoạn sau 1975, từ những cây bút thuộc thế hệ “chuyển tiếp” (chiến tranh - hòa bình) như Sơn Nam, Đoàn Giỏi, Hoàng Văn Bổn, Trang Thế Hy, Nguyễn Quang Sáng, Lê Văn Thảo, Anh Động… sang thế hệ “tiền đổi mới”: Khôi Vũ, Dạ Ngân, Lý Lan, Văn Lê, Nguyễn Nhật Ánh, Nguyễn Mạnh Tuấn, Nhật Tuấn, Trần Văn Tuấn, Bích Ngân, Lưu Thị Lương, Trần Đức Tiến, Trầm Hương,… đến thế hệ “đổi mới” và “hậu đổi mới”: Mai Bửu Minh, Thu Trân, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Trí, Trần Tùng Chinh, Nguyễn Lập Em, Trần Nhã Thụy, Nguyễn Ngọc Thuần, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Phan Hồn Nhiên, Nguyễn Danh Lam, Nguyễn Ngọc Tư, Võ Diệu Thanh, Nguyễn Thị Châu Giang, Trần Thu Hằng, Nguyễn Thị Diệp Mai, Vũ Đình Giang, Trương Anh Quốc, Dương Thụy, Lê Minh Nhựt, Nguyễn Vĩnh Nguyên, Trần Huy Minh Phương, Văn Thành Lê, Nguyễn Thu Phương, Lê Hữu Nam, Nguyễn Trần Thiên Lộc,…; từ những tác giả được xem là “người hiền của văn học Nam Bộ” (Nguyên Ngọc) đến những cây bút chưa qua “tam thập” tất cả đều hòa chung một quan tâm, một trách nhiệm với “cõi trọ” của mình. Trong bối cảnh hiện nay, vùng đất này đang từng ngày đối mặt với nguy cơ xâm nhập mặn, triều cường, sạt lở đất, đô thị hóa nông thôn,… Đó là những vấn đề bức thiết kéo nhà văn vào cuộc.

Về mặt thể loại, tinh thần sinh thái như một bản hợp xướng nhiều bè, nhiều tông điệu, trong đó nổi trội là tiểu thuyết, truyện ngắn và tản văn. Nếu tiểu thuyết đánh dấu bằng những sáng tác của đội ngũ nhà văn cầm súng như Đoàn Giỏi, Hoàng Văn Bổn, Nguyễn Quang Sáng, Lê Văn Thảo, Anh Động… thì truyện ngắn khẳng định sự tiếp nối thế hệ qua cả hai chặng đường trước và sau ngày thống nhất đất nước. Sự xuất hiện của Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Trí, Võ Diệu Thanh, Lê Minh Nhựt… bên cạnh những tiền bối như Sơn Nam, Trang Thế Hy đã khẳng định dòng chảy sâu bền của văn chương sinh thái. Tản văn Nam Bộ xác lập vị thế chủ yếu từ đầu thiên niên kỉ mới. Với giới viết chuyên nghiệp, đây vẫn được xem là thể loại ẩn chứa nhiều thách thức. Dễ viết (nhưng viết hay thì không dễ), có sự giao thoa giữa văn chương và báo chí, những tri nhận lí tính “người thật việc thật” với rung ngân cảm tính, bó buộc và tự do, thói “bới bèo ra bọ” và chất nghệ sĩ, nét truyền thống và hiện đại trong xuất bản, tương tác với độc giả…, những ưu thế này khiến tản văn có uy lực không hề nhỏ trong việc thể hiện tiếng nói sinh thái, trở thành một viện bảo tàng mini của cuộc sống. Đó là những thỏi nam châm xoáy hút tâm trí người đọc vào những số phận môi sinh cùng với đó là phận số con người.

Đội ngũ sáng tác văn xuôi Nam Bộ là những người đang nhẫn nại góp phần hoàn nguyên những mẩu thiên nhiên tốt lành, giữ sạch môi trường, cả trên phương diện vật chất lẫn tinh thần, kiến dựng một nguyên tắc mới trong tương tác văn hóa giữa con người và không gian sống - một vấn đề cốt lõi, sinh tử trong sinh thái tự nhiên và sinh thái nhân văn, khiến mỗi cá nhân không thể vô tâm với môi sinh trong cả suy nghĩ và hành động. Dù tiếp cận tự nhiên, xã hội từ quan điểm nào, người viết cũng đều nỗ lực khám phá mối quan hệ của con người đối với thế giới ngoài con người, thế giới phi nhân (nonhuman world), tập trung vào vị trí của con người và tự nhiên trong một chỉnh thể sinh thái cân đối. Dấu vết của các vấn đề sinh thái là một phương diện chính yếu làm nên sự độc sáng về phong cách, sự vượt trước về tư tưởng nhân văn trong sáng tác, đặc biệt đối với mảng văn xuôi bởi những thế mạnh của thể loại này.

2. Từ “nhân loại trung tâm luận” (anthropocentrism)… 

Chủ nghĩa nhân văn, với quan điểm “nhân loại trung tâm luận” có mầm mống từ trào lưu văn hóa Phục hưng. Ngay khi bước ra khỏi đêm trường trung cổ, từ chỗ Thượng đế trung tâm luận, chúng ta đã chuyển hướng sang Nhân loại trung tâm luận và từ đó mặc nhiên xem vị trí trung tâm của con người như một điều hiển nhiên - một huyền thoại. 

Tác phẩm của những nhà văn Nam Bộ thành danh trước Đổi mới (1986) như Sơn Nam, Lý Văn Sâm, Hoàng Văn Bổn, Nguyễn Quang Sáng, Lê Văn Thảo, Anh Động… đã triển diễn tư tưởng sinh thái chủ yếu qua sự gần gũi giữa con người với tự nhiên, nỗ lực của con người làm cho tự nhiên trở nên thân thiện, hữu ích hơn đối với cuộc sống của mình, ở cách con người không xem tự nhiên như nơi lánh trú để đạt bình yên tự tại mà cùng hoạt động năng động trong môi trường thuộc vùng đất mới. Một biểu hiện quan trọng của nhân loại trung tâm luận trong sáng tác của thế hệ này là hành động cải tạo và chinh phục tự nhiên. Với nhiều truyện ngắn trong tập Hương rừng Cà Mau (Sơn Nam), sông nước, hoang địa trở thành một thách thức của thiên nhiên và một trở ngại nhân tình được lặp đi lặp lại, đó là trở lực trong hành trình đi tới, hành trình mở cõi, cũng là minh chứng cho sự thắng vượt ngoại cảnh của con người. Xuất hiện trước những cây bút đương đại khá lâu, Đoàn Giỏi với Những chuyện lạ về cá, Tê giác giữa ngàn xanh, Rừng đêm xào xạc và cả Đất rừng phương Nam đã cho thấy những quan tâm về mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên trong những giai đoạn lịch sử nhất định. Con người đã xã hội hóa thiên nhiên, biến chúng thành phương tiện sinh lợi của thương mại. Người viết đưa ra những biểu hiện rất cụ thể về việc con người lấy mình làm trung tâm trong mối quan hệ với tự nhiên và trong các hoạt động liên quan đến nó. Trong Rừng đêm xào xạc, ta thấy được mong muốn cải tạo thiên nhiên để phục vụ cuộc sống của con người. Ở Những chuyện lạ về cá, tác giả xem tự nhiên như một đối tượng để khai thác, một vật mẫu cho các nghiên cứu của con người. Nhà văn nhiều lần nhắc đến việc săn bắt cá, từ những loài cá nhỏ đến cá mập, cá sấu. Suy nghĩ của An (Đất rừng phương Nam) sau khi ông Hai hoàn thành việc bắt cá sấu có thể xem như một tuyên ngôn của huyền thoại nhân loại trung tâm luận trong toàn bộ sáng tác của Đoàn Giỏi: “Hỡi thiên nhiên dữ dội và nham hiểm, ngươi hãy coi chừng. Không một sức mạnh nào ẩn chứa trong ngươi mà con người không khuất phục nổi đâu!” Đó là quan điểm thường trực của chủ nghĩa nhân văn sơ khởi: thiên nhiên là đối tượng để con người chinh phục và chiếm lĩnh, để con người thi triển bản lĩnh, sức mạnh, phẩm chất vượt lên hoàn cảnh, nghịch cảnh của mình. Vợ chồng Ba Đô - Sáu Xoa (Cánh đồng hoang - Nguyễn Quang Sáng) giữ gìn “sự sống duy nhất còn sót lại trên cánh đồng”. Không gian truyện hầu như chẳng có gì khác ngoài đồng nước, cỏ dại. Trong cảnh ấy, thiên nhiên và con người có một sợi dây giao cảm, nhiều lúc như hòa làm một. Mùa nước nổi, cánh đồng ngập trong nước, hai vợ chồng sống bằng tôm cá, lợi dụng con nước nuôi giấu bộ đội. Đến mùa khô, họ lại trồng lúa; những cánh đồng cỏ, những bụi lau sậy thành lớp áo ngụy trang đưa bộ đội vào chiến khu. Không gian sống của gia đình này phản ánh sự gian khổ của người Nam Bộ trong kháng chiến, chứng minh sức sống tiềm tàng cùng vẻ đẹp tâm hồn của những người con chân đất anh hùng.

Điểm chung của các sáng tác theo quan điểm triết mĩ “nhân loại trung tâm luận” là tập trung thể hiện thiên nhiên và con người trong mối quan hệ đối kháng và con người cần phải đấu tranh, chinh phục tự nhiên. Con người đã đặt lợi ích bản thân lên trên lợi ích của tự nhiên, sẵn sàng phá vỡ cân bằng sinh thái nguyên sinh để phục vụ cuộc sống của mình. Quá trình nhân loại hóa tự nhiên xây dựng một viễn cảnh tương lai tưởng chừng tốt đẹp khiến con người nghĩ rằng mình đang cải tạo chứ không tàn phá, song bất cứ sự tác động nào đến tự nhiên xuất phát từ quyền lợi một phía của con người, không xét đến tự nhiên đều ảnh hưởng đến sự hài hòa sinh thái vốn có.

3. … đến “sinh thái trung tâm luận” (ecocentrism) 

Gần 60 năm trước, Sơn Nam, qua sáng tác của mình, đã nêu ra quan hệ người với thiên nhiên và quan hệ người với người. Truyện ngắn của ông mở một con đường riêng biệt vào những đề tài chưa được khai phá trong văn học Việt Nam thời hậu thuộc địa: tìm kiếm và tái tạo cội nguồn văn hóa, căn cước dân tộc và đặc sắc ngôn ngữ. Chúng chạm tới những vấn đề nóng của thế giới hậu hiện đại: lưu dân (immigration), lạc địa (displacement), giạt ra rìa (marginalization), đa chủng tộc (multirace), giao lưu văn hóa (acculturation), văn học sinh thái (ecoliterature). Sự vượt trước trong mảng “văn học xanh” (green literature) này, với tác giả, cũng là biểu hiện của tinh thần yêu nước. “Yêu nước là yêu cây cỏ sản vật con người lao động quê xứ mình, nói chung là yêu văn hóa và thổ nhưỡng xứ mình, giữ nước là giữ cái đó”(1). Nhà văn đã sớm nhìn thấy một hậu họa buồn khó tránh khỏi cho quê xứ ông khi mượn lời nhân vật trong truyện Nhứt phá sơn lâm đưa ra cảnh báo: “Duy có hai nghề phá sơn lâm đâm hà bá là dễ làm ăn. Nhưng lưới trời lồng lộng không ai chạy khỏi: phá rừng, chài cá khiến con người phải nghèo mạt”. Lời của cụ Lục chùa Sóc Ven trong Hương rừng Cà Mau như một sự “sám hối”, “phản tỉnh” trước Mẹ - Thiên nhiên: “Mình có lỗi với đất với nước. Đất và nước cho mình tất cả cuộc sống, mà mình lại làm nhiều điều không phải với đất, với nước”.

Với truyện ngắn Trang Thế Hy, sinh thái phân vùng rõ rệt thành khu vực thành thị và đồng quê, ngày qua và hiện tại, tương lai. Thành thị trong các truyện tiêu biểu: Bơ vơ, Thèm thơ, Người bào chế thuốc giảm đau, Tiếng khóc và tiếng hát, Nguồn cảm mới… thường gắn với sự tha hóa, trụy lạc trong khi đồng quê - nông thôn chuyên chở trong nó vẻ đẹp của tình người, tình yêu trong sáng, thủy chung (Con cá không biệt tăm, Giả đò yêu, Trong trắng, Sách và chim, Trời xanh như mắt em…). Tương tự, hiện tại gắn liền với sự sa ngã, đọa lạc trong bối cảnh môi trường bị tàn phá nặng nề, đối nghịch là quá khứ nên thơ khi hệ sinh thái chưa có sự áp đặt của nền văn minh; còn tương lai gắn với những niềm tin không tưởng mang nghĩa chuộc lỗi từ hiện tại. Nhà văn đã xoáy sâu vào bản chất thuận theo tự nhiên, vô sự cùng tạo hóa. Có lẽ vì thế, không chỉ trong sáng tác mà ngay trong đời thực, chủ nhân của câu nói nổi tiếng ngang tàng ngạo nghễ “đi chỗ khác chơi” đã chọn chơi với mảnh vườn yên tĩnh của mình.

Sự chiêm nghiệm về vị trí của con người với thiên nhiên thể hiện cái nhìn sâu sắc hơn, biểu hiện rõ nét suy tư của nhà văn về mối quan hệ giữa con người với môi trường sinh thái. Lời trăn trối của vợ Tám Mun (Rừng đêm xào xạc - Đoàn Giỏi) đã xác tín điều này: “Gì thì gì, tía con mầy cũng phải gấp gấp trồng lại rừng đi. Chuyện sống chết như chuyện đánh Mĩ đó”. Là “như” chuyện đánh Mĩ - tức dù cho không có cuộc chiến tranh này đi nữa, thì việc mất rừng cũng sẽ mang đến những hậu quả ghê gớm. Đặt việc trồng rừng, khôi phục tự nhiên ngang với việc chiến đấu gìn giữ đất nước và sinh mệnh nhân dân, thông qua nhân vật của mình, Đoàn Giỏi đã một lần nữa khẳng định vai trò chủ chốt của tự nhiên trong sự tồn sinh của con người. Nhân loại chỉ là một mắt xích trong sinh quyển hài hòa. Giữ gìn cân bằng sinh thái cũng là gìn giữ sự sinh tồn của con người và tất cả các hữu thể phi nhân khác. Thông qua các biến cố của cá nhân, dân tộc, nhà văn đã lật đổ quan điểm lấy con người làm trung tâm thế giới, xác lập một cái nhìn tự nhiên trung tâm luận. 

Tập truyện Lên núi thả mây của Lê Văn Thảo tuy không chủ đích đứng trên lập trường sinh thái nhưng ý nghĩa sinh thái hàm ẩn qua mỗi trang văn là một thực tế không thể phủ nhận. 20 truyện ngắn là hơn hai mươi số phận lặng lẽ tồn vong trong những môi trường sống khắc nghiệt. Đằng sau câu chuyện về thiên nhiên là câu chuyện xã hội, ẩn dưới diễn ngôn về môi sinh cỗi cằn là câu chuyện về sự tha hóa nhân tính của con người. Giữa bối cảnh đô thị hóa chóng mặt, gây áp lực lên môi trường sinh thái, trang viết của ông phần nào đã cho thấy góc tối của văn minh cơ giới và sự lâm nguy của thế giới hiện tồn, bộc lộ khao khát quay về với tự nhiên nguyên sơ, với “thời hồng hoang nguyên thủy vạn vật sống giao hòa” (Kể chuyện nghe chơi). Công cuộc thay đổi, kiến tạo nhân sinh quan mới nhằm xây dựng môi trường sinh thái phát triển bền vững vẫn còn trăm bề khó khăn, đó là một thực trạng đáng lo, đáng buồn. Lê Văn Thảo, bằng trách nhiệm và bản lĩnh của mình, đã không bi quan, thất vọng. Nhà văn vẫn luôn khát khao một sự đổi thay, luôn mơ về một nơi mà ở đó con người sống hòa ái, có trách nhiệm với tự nhiên, với chính môi trường sống của mình. Xuất phát từ quan niệm đó, nhiều truyện đã không che giấu nỗ lực quá khứ hóa hiện tại: phục sinh những hạnh phúc bình dị khi con người được sống như một phần tất yếu của tự nhiên, có thể giao tình cùng vạn vật.

Trong đội ngũ nhà văn viết từ cảm hứng sinh thái đầu thế kỉ XXI, Nguyễn Trí là một “ca” đặc biệt bởi không phải ai đi làm đồ tể, phu đào vàng, khai thác trầm hương… cũng sẽ trở thành văn nhân. Chính những trải nghiệm cuộc đời đã cho tác giả một cái nhìn sâu sắc về sinh thái. Bên cạnh cảm quan đô thị, bốn tập truyện ngắn Bãi vàng, đá quý, trầm hương; Đồ tể; Ảo và sợ; Bay cao thì mặc bay cao và tiểu thuyết Thiên đường ảo vọng cũng nổi bật cảm quan về mối quan hệ và ứng xử của con người với tự nhiên. Để tồn tại, con người không thể sống thiếu tự nhiên; nhưng tư duy con người trung tâm đã dẫn chúng ta tới sự thái quá trong ứng xử với tự nhiên, tàn phá cùng kiệt tự nhiên để phục vụ nhu cầu nhiều khi rất ích kỉ của mình. Môtip quả báo, nghiệp báo là một âm hưởng chủ đạo trong những sáng tác về sinh thái của cây bút miền Đông Nam Bộ này. Linh thiêng hóa tự nhiên, đề cao sức mạnh huyền bí của tự nhiên là ẩn dụ của sự giải thiêng tinh thần “nhân loại trung tâm luận”. Nhà văn để cho những kẻ ăn của rừng phát ngôn như một sự tự nhận thức về lẽ công bằng sinh thái - cũng là ý hướng trung tâm hóa tự nhiên: “Rừng linh hiển lắm, không nghe ăn của rừng rưng rưng nước mắt sao?” (Tiền rừng). Chừng nào con người chưa Giã từ vàng, chưa nhận thức Nhãn tiền, Quả báo mà Đổi nghề thì tự nhiên vẫn còn bị tàn phá, hủy diệt và vô hình trung con người đang tự hủy diệt chính mình.

Nếu Nguyễn Trí viết từ cảm hứng chiêm nghiệm của người vì cuộc mưu sinh mà lỡ gây sự với tự nhiên, xử sự chưa đẹp với ngàn thiêng, sông suối thì Nguyễn Ngọc Tư, cả truyện ngắn, tản văn, tiểu thuyết đều ra đời trong cảm thức của đứa con ngày ngày đối diện với nỗi đau của Mẹ - Thiên nhiên. Bằng thiên tính nữ, với một tình yêu gần như là máu thịt, chị đã tái hiện chân thực những đổi thay của môi trường bởi làn sóng di cư chặt cây, phá rừng, lấn biển, để rồi “ước mơ đất của em tôi, của người yêu thiên nhiên đã đau đớn gục xuống”. Một trong những hình ảnh trở đi trở lại trong tập tản văn Đong tấm lòng là cây xanh (Xứ cây, Cúi xuống che chung, Một cách khóc,). Song hành với cây là vườn; chúng không phải thuộc quyền sở hữu của riêng chủ nhân mà họ là đồng sở hữu với cỏ cây, chim chóc. Những khu vườn này không những nuôi sống con người mà còn dạy người ta về đạo lí làm người. Đó là lòng biết ơn tạo hóa, biết khiêm cung khi sống giữa muôn loài và chỉ nhận cho mình những gì mình đáng được nhận. Trọng thị và tôn thờ các giá trị tự nhiên là điểm nhấn của cuốn sách. Tác giả không phủ định hoàn toàn giá trị của nhân loại trong cuộc sống nhưng chị đã bày tỏ một phong cách, thái độ hòa đồng, cầu thị trong ứng xử với vạn vật.

Bên cạnh mảng sáng tác có bề dày truyền thống và đạt nhiều thành tựu về sinh thái nông thôn, những tác phẩm về đề tài đô thị của Dạ Ngân, Lý Lan, Huỳnh Như Phương, Nguyễn Nhật Ánh, Võ Đắc Danh, Phan Thị Vàng Anh, Trần Nhã Thụy, Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Vĩnh Nguyên, Nguyễn Thu Phương, Trần Huy Minh Phương,… đã kịp thời cấp báo về hậu quả của lối sống thờ ơ, vô cảm của con người trước thảm họa môi trường, khiến họ trôi dạt, vong thân, trở thành tha nhân cả với chính mình giữa phố thị triền miên kẹt xe, đào đường, cây đổ, nước ngập… Vi rút vô cảm trước môi trường cũng gây hậu quả khôn lường cho con người, không thua gì các bệnh truyền nhiễm, nan y. Phải chung tay phục sinh môi trường, đó là thông điệp mà người viết muốn gởi đến cư dân đô thị nói riêng và độc giả nói chung: “Hãy cứu lấy những khoảng xanh, hãy cứu lấy những thảm cỏ công viên úa tàn vì bị dẫm nát chỉ sau một tuần hội chợ đầy người mua sắm. Hãy cứu lấy những hàng cây cổ thụ bị đốn ngã không thương tiếc để mở đường hay xây dựng chung cư. Đừng đành lòng làm kẻ vô tâm quá đỗi nếu còn xem thiên nhiên là bè bạn” (Những khoảng xanh Sài Gòn - Huỳnh Như Phương).

Chuyển từ quan niệm thế giới tự nhiên được nhìn thấy chủ yếu như là một nguồn tài nguyên cho con người sang cái nhìn về vị trí chủ đạo của tự nhiên đối với đời sống sinh thái trên trái đất, nhà văn đã hoàn thiện con đường giải huyền thoại bằng việc cho thấy những nỗ lực của con người trong việc phục hồi tự nhiên, sửa chữa sai lầm của chủ nghĩa nhân văn kiêu ngạo. Trực diện phản tư về chính tư duy nhân loại trung tâm luận, văn chương của họ không hề che giấu ý hướng xem thiên nhiên như một người bạn trầm tĩnh và minh triết, thiết thân mà lạ lẫm, gọi mời. Ở đó, con người, để khai tâm dưỡng tính, hoàn thiện bản thân phải biết thường xuyên thực hiện “nghi lễ trò chuyện với thiên nhiên”, nhìn vào thiên nhiên để nhận diện chính mình. Từ chỗ nhân loại hóa tự nhiên, con người đã bắt đầu thiên nhiên hóa vị trí của mình: “Đất thảo thơm nên người thảo thơm, cây cỏ thảo thơm” (Vườn cũ - Nguyễn Ngọc Tư).

4. Thông điệp môi trường - thông điệp văn chương 

Văn xuôi mang tinh thần sinh thái ở Nam Bộ là nơi nhà văn gởi gắm ước mơ, khao khát về một thế giới mà con người và vạn vật đều được chung sống hòa thuận trên tinh thần tôn trọng, bình đẳng, cùng có lợi. Ở đó, con người có được may mắn lớn nhất là không còn xa lạ với thiên nhiên quanh mình, hòa chung trong một cuộc chuyện trò không bao giờ ngưng nghỉ giữa bản thân và thiên nhiên để có được những niềm vui, hạnh phúc nguyên lành, thánh thiện, bình dị mà đằm sâu, đơn sơ mà bền chặt. Có lẽ vì thế, mô típ về với Mẹ - Thiên nhiên thường xuất hiện trong văn xuôi Nam Bộ. Nhiều nhân vật biết lắng nghe lời thôi thúc, vẫy gọi của tự nhiên để lên đường về với “một vùng xanh an ủi”. Chung tay kiến dựng một môi trường thật đàng hoàng, tử tế để sống thì rất cần; nhưng càng cần hơn là làm sao đặt vào đó những con người biết sống đúng nghĩa đàng hoàng, tử tế.

Tư tưởng chia sẻ môi trường sống giữa các giống, loài trong tự nhiên cũng là tư tưởng cấp tiến trong thế giới hiện nay. Chống lại việc giam hãm, bức tử môi trường (cả môi trường tự nhiên và môi trường văn hóa) là một trong những chủ trương và đường lối chủ đạo của văn học sinh thái. Đó là lí do mà những nhà văn phương Nam, từ lớp người hiền ngấm trải nhiều thời cuộc, cảnh ngộ đến các cây bút trẻ thời kinh tế thị trường thường nhận mình là người “bào chế thuốc giảm đau” cho những vết thương thành thị, đồng quê.

Khuynh hướng yêu thiên nhiên, quan tâm đến môi trường, có tinh thần hòa bình, có cách sống vượt ra những chiêu dụ cùng ảnh hưởng của đời sống đô thị hóa, của kinh tế tiêu thụ trong văn xuôi Nam Bộ đã xây dựng và cổ vũ quan niệm thẩm mĩ sinh thái: con người chỉ đẹp khi làm đẹp thiên nhiên. Hòa ái, trân quý tự nhiên, làm đẹp môi trường từ những điều nhỏ nhặt nhất là biểu hiện thành thật của văn hóa, nhân tính. Với người sáng tác, một khi quay mặt, xa cách, đánh mất tự nhiên cũng chính là cầm tù, tha hóa bản thân, chặn đường đến với công chúng của tác phẩm. Trước khi trở thành nhà văn viết về môi trường, phải biết yêu quý nó, sống có trách nhiệm và thiết tha với nó - cũng chính là trung thực, đắm đuối cùng trang viết - cuộc đời mình: “Lãnh đạm với nơi ta ở, xét ra cũng bạc tình khác nào hờ hững với người ta yêu. (…) Đó là sự khác nhau giữa nghệ thuật và cuộc đời và cũng là cái giá phải trả cho một kinh nghiệm sống chung mà không thực lòng gắn bó!” (Ngổn ngang phố xá - Nguyễn Nhật Ánh).

Sinh thái như một cái áo; và người viết, muốn qua lớp áo đó, mục kích thực trạng đất nước, con người, để hiện thực hóa quyền được là mình, quyền được cất lên tiếng nói, nghĩa vụ công dân của mình. Những quan niệm mới mẻ, tích cực như thế đã góp phần làm cho mảng sáng tác này luôn có sức hút từ ý thức trách nhiệm đối với môi trường, với sự bền vững của môi sinh, yêu thương, cứu chuộc song hành với những ân hận, mặc cảm trước thiên nhiên, cây cỏ… Đó là nét đáng trân quý của nhân văn sinh thái. Vang lên từ những trang viết ấy là thức nhận: với con người, đặc biệt là nghệ sĩ, có lẽ “hạnh phúc nhất là được chơi với thiên nhiên. Lẽ dĩ nhiên là phải ráng chơi làm sao cho coi được” (Người thì chơi với ai? - Trần Nhã Thụy).

Tôn trọng lối sống cộng sinh giữa con người và môi trường, khẩn thiết rung hồi chuông cảnh báo con người về những nguy cơ tha hóa sinh thái nhãn tiền và mai hậu, đó là một thái độ đầy tính xây dựng mà các nhà văn Nam Bộ hôm qua và hôm nay đang chung tay kiến tạo. Đó cũng là nền tảng của giá trị vừa bền vững vừa đậm tính thời sự của văn học, khẳng định tầm vóc văn hóa - tư tưởng của tác phẩm, của nhà văn.

BÙI THANH TRUYỀN
Nguồn: Sông Hương

___________________
(1) Lý Lan, Bày tỏ tình yêu, Nxb. Văn nghệ, thành phố Hồ Chí Minh, 2009, trang 55.


TIN LIÊN QUAN:



Thứ Ba, 19 tháng 2, 2019

Mùa yêu thương của Phạm Phương Lan

Phạm Phương Lan không sa đà vào tả cảnh mùa xuân. Chị cũng không bộc lộ cảm xúc cụ thể của mình. Những vần thơ thật nhẹ nhàng, thanh thoát, không cao siêu mà vẫn có sức lan toả. Nó tựa như những con sóng cảm xúc êm ái chạm vào con tim bạn đọc một cách tự nhiên…
Nhà thơ Phạm Phương Lan

Mùa xuân thường được coi là mùa đẹp nhất trong năm. Đó cũng là nguồn thi hứng bất tận dành cho các thi nhân từ xưa đến nay. Thế Lữ, Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử, Tố Hữu,... đều đã có những bài thơ hay nổi tiếng về mùa xuân. Các nhà thơ trẻ hiện nay cũng không thể thờ ơ với Xuân và cảm xúc của họ luôn trào dâng mỗi độ xuân về. Bài Mùa yêu thương của nhà thơ nữ Phạm Phương Lan là một minh chứng cho nhận định đó. 
   
Mở đầu bài thơ là hình ảnh  của thiên nhiên, cây lá, mây trời thật đẹp, thật nên thơ và sinh động:

Mùa xuân về trên lá
Xanh non những chân trời
Dệt mộng mơ lên tóc
Bồng bềnh theo mây trôi

Bất giác ta nhớ đến câu thơ của Tố Hữu: "Xuân bước nhẹ trên cành non lá mới/ Bạn đời ơi vui chút với trời hồng" (Ý xuân). Nhưng sự khác biệt là mùa xuân trong bài thơ này tươi vui hơn, rộn ràng hơn trong một không gian rộng lớn. Mùa xuân ở đây không trừu tượng mà hiện hữu trước mắt ta với màu xanh của lá, với rực rỡ sắc hoa và chồi non mới nhú. Bằng tâm hồn nhạy cảm, nhà thơ tưởng như có thể chạm môi vào mùa Xuân. Và hơn thế nữa còn có thể cảm nhận được cả hương vị của nó:
     
Mùa xuân về trên môi
Chúm chím trao những nụ
Chồi non nào vừa nhú
Ngạt ngào hương bay xa
     
Mùa xuân mang đến cho ta niềm vui và hy vọng. Nó đến với từng con phố , với mọi nhà mọi người. Không ai có thể dửng dưng với mùa xuân. Ngay cả chiếc khăn choàng của cô gái đi trên phố qua cảm nhận của nhà thơ cũng trở nên sống động vương vít, hoà chung với niềm vui của con người:
                               
Xuân về trên phố hoa
Sài Gòn biêng biếc nhớ
Khăn choàng ai một thuở
Vương vít hoài không thôi
     
Cảnh thiên nhiên trong tiết xuân dẫu đẹp đến bao nhiêu mà thiếu cuộc sống hạnh phúc của con người cũng trở nên vô nghĩa. Tác giả bài thơ phác hoạ cảnh trên chỉ là cái nền. Cuối bài thơ chị dẫn dắt ta đến với không khí tết của gia đình: nào là hoa mai nở, nào bánh chưng thơm nồng và bóng dáng người mẹ rưng rưng trong niềm vui đón con cháu cuối năm về sum họp:

Sáng nay bỗng xuân ngời
Nắng oà reo khắp phố
Mai vàng bung cánh nở
Bếp than nồng bánh chưng 

Mắt mẹ nhoà rưng rưng
Đón em nàng dâu mới
Bao tháng năm chờ đợi
Mùa yêu thương đong đầy. 
   
Chọn thể thơ 5 chữ trẻ trung lại rất phù hợp với không khí tươi vui của mùa xuân, nhà thơ Phạm Phương Lan đã mang đến cho độc giả một bài thơ hay. Chị đã thành công khi truyền tải cảm xúc của mình trước một chủ đề rất cũ mà không bao giờ cũ.

Làm thơ về mùa xuân vừa dễ lại vừa khó. Cái khó là không khéo sẽ dẫm vào "bước chân" của người đi trước với vô vàn những câu thơ hay viết về mùa xuân. Ở đây nhà thơ Phạm Phương Lan đã có cách tiếp cận riêng của mình. Chị không sa đà vào tả cảnh mùa xuân. Chị cũng không bộc lộ cảm xúc cụ thể của mình. Những vần thơ thật nhẹ nhàng, thanh thoát, không cao siêu mà vẫn có sức lan toả. Nó tựa như những con sóng cảm xúc êm ái chạm vào con tim bạn đọc một cách tự nhiên. Bài thơ như một bức tranh thuỷ mặc hài hoà giữa sắc màu thiên nhiên với cuộc sống con người. Chắc sẽ có nhiều bạn đọc phân vân tự hỏi: đây là lời thơ hay lời của một bài hát ngợi ca mùa xuân? 
             
TRẦN THANH CHƯƠNG
Theo NVTPHCM



Nghệ thuật phê bình sinh thái

Trong khoảng những năm 1990, càng ngày hướng tiếp cận liên ngành với mục đích tiến hành diễn giải về các khía cạnh văn hóa trong sự đăng đối với sinh thái và môi trường theo một viễn tượng phê phán bắt nguồn từ bên ngoài lịch sử nghệ thuật truyền thống đã dần dần tạo được tiếng nói ngày một hoàn chỉnh hơn, đó chính là nhánh nghệ thuật phê bình sinh thái.
Tác phẩm Nhìn từ đỉnh núi Holyoke, Northampton, Massachusetts, sau một cơn mưa giông của Thomas Cole, 1836 (sơn dầu trên bố)

Loại hình nghệ thuật này nhấn mạnh đến sự kết nối có tính sinh thái và mức độ bình đẳng của môi trường trong sự diễn giải văn hóa và nói rộng ra là sự diễn giải tinh thần của chúng ta. Nó nhấn mạnh đến sự xếp chồng lên nhau của con người, sự vật tự nhiên lẫn nhân tạo, nguyên vật liệu tự nhiên lẫn các tác phẩm sáng tạo của con người ở trong một mạng lưới của những mối quan hệ cùng các tác động lịch sử.
Tác phẩm Tôi thích nước Mỹ và nước Mỹ thích tôi của Joseph Beuys, 1974 (nghệ thuật trình diễn)

Nghệ thuật gia người Mỹ, Robert Smithson cho rằng một khi kinh tế xa lánh thế giới thì nó sẽ trở nên đui mù trước các nguồn tài nguyên thiên nhiên, và lúc này đây nghệ thuật có thể trở thành một nguồn tài nguyên như thế, làm trung gian giữa nhà sinh thái và nhà công nghiệp, nghệ thuật có thể đề ra một quan hệ biện chứng giữa cả hai phía.

Theo lý thuyết gia Timothy Morton, nghệ thuật là có tính sinh thái trong chừng mực nó được tạo ra từ các nguyên liệu và hiện hữu ở trong thế giới, ví dụ, nó hiện hữu như một bài thơ ở trên trang giấy được làm ra từ cây cối, thứ mà bạn đang cầm trên tay khi ngồi trên ghế trong một căn phòng của một ngồi nhà nào đó có nguồn gốc từ một ngọn đồi thuộc vùng ngoại ô của một thành phố bị ô nhiễm.
Tác phẩm Làn da của Trái đất của El Anatsui, 2007 (nhôm và dây đồng)

Trong sự hình dung của nhà điêu khắc William Rush thì tự nhiên như là một sự kiến tạo có tính con người một cách uyên nguyên, hoàn toàn dính líu đến các giá trị và giả định của chúng ta, thậm chí một bức tranh còn được xem như là một thế giới không có con người chứ không hẳn như là một điều tưởng tượng đơn thuần hay không có thật của chúng ta.

Năng lực “gây xáo trộn” của nghệ thuật có được khi túm lấy vấn đề động vật, đó chính là cách nghệ sĩ Steve Baker nhận định nhằm để biện hộ cho một hình thức sinh thái học không thể thuyên giảm của nghệ thuật đồng thời chỉ ra cái mà người ta xem như là những đường hướng nghiên cứu khẩn thiết nhất đối với lịch sử nghệ thuật phê bình sinh thái trong giai đoạn hiện nay.

KHẢ HÂN
(TCSH350/04-2018)


Thứ Hai, 18 tháng 2, 2019

Quang Dũng - Làm thơ bằng… hội họa

Nhà thơ Quang Dũng sinh năm 1921 (có tài liệu ghi năm 1918), quê ở huyện Đan Phượng, xưa kia thuộc phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây, nay đã thuộc về Hà Nội. Tên khai sinh của ông là Bùi Đình Diễm, tên cúng cơm là Dậu, vì sinh năm Tân Dậu - 1921.
Nhà thơ Quang Dũng (bên phải) trong kháng chiến chống Pháp.

Quang Dũng chịu sự ảnh hưởng lớn của nhóm Tự Lực Văn Đoàn và văn học lãng mạn Pháp như rất nhiều thanh niên thời đó. Ông từng nói: “Tôi yêu thơ và làm thơ hoàn toàn ngẫu nhiên. Thời đi học tôi rất mê Đường Chi tam bách thủ, nhất là những bài dịch của nhà thơ Tản Đà. Tôi cũng say Thơ mới như bất cứ một học sinh nào thời đó.

Nhưng tôi thích thơ Thế Lữ hơn cả, đặc biệt bài "Nhớ rừng", bởi tâm trạng sơn dã của nó. Một nhà văn nữa là Thạch Lam. Thạch Lam không chỉ viết văn mà còn dịch những bài thơ văn xuôi của Pháp. Và có lẽ tôi tiếp thu được gì ở thơ ca Pháp ngày ấy, cũng do đọc các bản dịch này...”.

Yêu văn nghệ, yêu cái đẹp, thời thanh niên ông từng đánh đàn, kéo nhị cho một gánh hát, và đã sáng tác nhiều bài tân nhạc nhưng thất lạc cả, nay chỉ còn lưu giữ được bài “Ba Vì mờ sao”. Nhiều người cùng thời kể rằng:  Quang Dũng là một người văn võ toàn tài: Viết văn, làm thơ, đàn hay, võ giỏi… thi họa đủ cả.

Năm 1945, ông tham gia Cách mạng Tháng 8, sau đó gia nhập Trung đoàn Thủ đô tham gia chiến đấu bảo vệ Hà Nội với tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” bi hùng. Khi Trung đoàn Thủ đô rút khỏi Hà Nội, Quang Dũng là phái viên Phòng Quân vụ Bắc Bộ, theo học một khóa quân sự tại Tông (Sơn Tây), rồi gia nhập đoàn quân Tây Tiến, chiến đấu nơi miền rừng núi biên giới Việt - Lào.

Khi Trung đoàn Tây Tiến giải thể vào năm 1948, Quang Dũng lúc ấy là Đại đội trưởng, về dự Đại hội toàn quân ở Liên khu III ở làng Phù Lưu Chanh (tên một tổng của Hà Nam thời Pháp). Ở nơi này, ông đã làm bài thơ “Tây Tiến” và rất nhanh bài thơ này được lan truyền rộng rãi, không chỉ bằng sách, báo mà chủ yếu là truyền miệng. “Tây Tiến” nổi tiếng bao nhiêu thì cũng ám ảnh ông tới mãi sau này… bởi  “đêm mơ Hà Nội dáng Kiều thơm”.

Câu nói “Thi trung hữu họa” của người xưa khi vận vào Quang Dũng thì thật là chuẩn xác. Ở con người thi sĩ Quang Dũng, hội họa luôn song hành, mỗi bài thơ ông viết, hoặc chép ra ở sổ tay đều có vài hình minh họa đi kèm. Quang Dũng tự làm bìa, tự minh họa cho những bài thơ, bút kí, cuốn sách của mình. Phải chăng ông luôn mong muốn các tác phẩm của mình có được sự  hòa quyện tuyệt đối như trái tim ông cảm nhận.

Theo kể lại, thì máu mê hội họa trong Quang Dũng không kém gì thi ca và có lẽ ông bắt đầu vừa vẽ vừa làm thơ cùng lúc. Nhạc sĩ, họa sĩ Nguyễn Đình Phúc - tác giả ca khúc "Tiếng đàn bầu" kể: “Năm 1943, khi tôi đang vẽ bức tranh "Đứa trẻ lạc loài" ở nhà thì có một chàng trai to lớn tìm đến.

Sau khi giới thiệu là Quang Dũng, chàng cho biết vừa xem phòng tranh của tôi ở phố Tràng Tiền và thấy rất thú nên tới làm quen. Biết Quang Dũng cũng mê vẽ, tôi tặng người bạn mới quen một ít bột màu và bút vẽ. Bẵng đi một thời gian, Quang Dũng lại lừng lững đến nhà tôi, đem theo vài bức tranh bột màu khoe bạn.

Những bức tranh phong cảnh trông thật sinh động và cũng thật ngộ. Có cái gì đó vừa ngượng nghịu ngây thơ, vừa dạt dào tươi mát. Nhìn vào tranh mới thấy rõ niềm say mê hội họa và càng hiểu rõ cái nghèo của anh… Tác phẩm cái thì vẽ trên mẩu giấy báo, cái vẽ trên bìa, xé ra từ một quyển vở nào đó”.

Những bức tranh của ông sau này phần lớn là vẽ phong cảnh những nơi ông đã từng qua, vùng biên giới, vùng trung du Hòa Bình… và riêng vùng Ba Vì - Tam Đảo ông vẽ khá nhiều… Quang Dũng yêu núi rừng, biển cả nhưng chả mấy khi được ngao du… nên có dịp đi đâu là ông lại mang theo màu và giấy để ghi chép lại những hình ảnh ven biển, sông nước, đồi cây, nắng chiều, đường vắng… và ghi lại là để những lúc quẩn chân và buồn bực trong căn nhà chật hẹp khu tập thể Nguyễn Công Trứ, Hà Nội… ông lại giở những bức ghi chép còn lại để tìm quên trong những phút giây ngắn ngủi mơ màng.

Có lẽ với Quang Dũng, những gì ông vẽ chỉ là thay cho cảnh vật yêu quý và thỏa mãn tính ưa ngao du của ông. Chỉ một cánh buồm xơ xác, một cánh hoa gạo đỏ, một bóng người liêu xiêu nơi lối mòn nơi biên giới… cũng đã làm trái tim thi nhân của ông rung động và ngay lập tức nó phải được ghi lại, lưu lại…

Trong hội họa, lối vẽ do ngẫu hứng này nhiều khi buông bỏ chi tiết nên dễ gây cảm giác “chưa hoàn thiện” với người thưởng lãm … Nhưng với ông - một thi nhân khao khát thiên nhiên thì việc mơ mộng còn cần thiết hơn là sa vào những lí thuyết cao vời, mông lung mà rồi cũng không cảm nhận được vẻ đẹp tự nhiên đầy mới lạ nơi thiên nhiên kì thú. Thơ Quang Dũng thường buồn, có đôi chút bâng khuâng, man mác.
Núi Tản – tranh màu nước của Quang Dũng (1970).

Tranh của ông cũng vậy… lặng lẽ, vắng vẻ nhưng không thấy mất đi tình yêu cuộc sống. Nói vậy nhưng “cái sự vẽ” của thi nhân đôi lúc cũng giúp được gia đình đôi phần trong cái giai đoạn bao cấp khó khăn. Những năm 70 của thế kỉ trước, nhà nhà làm thêm, người người làm thêm, gia đình ông cũng mải miết làm thêm: con gái đan gấu áo len cho mẹ; con giai nhận móc túi lưới, vợ dệt áo… thi nhân “lẻn” vào một góc lấy màu và giấy vẽ một vài bức tranh phong cảnh Hạ Long… rồi lén mang đi... nhiều ngày. Một ngày cả nhà thấy ông hớn hở trở về, rút trong túi ra một ít tiền đưa cho vợ… Hình như ông vui vì cái mơ mộng của ông cũng không đến nỗi “vô tích sự”.

Quang Dũng vẽ nhiều những cũng để thất lạc nhiều. Tranh của Quang Dũng “thất lạc” có nhiều lý do, trong đó chủ yếu do ông thường đem tranh tặng bạn bè, thi hữu. Nói theo tâm lý học, việc không quan tâm tới lưu giữ tác phẩm của mình cũng là thói thường của đàn ông, chỉ cần thỏa mãn cái tôi của mình trong lúc ngẫu hứng… Còn việc lưu giữ là của người khác… Câu chuyện tìm lại được bức tranh mang tên "Bến Ngọc" được Quang Dũng vẽ năm 1960 cũng đã minh chứng phần nào cho việc “thất lạc” của tranh ông.

Chị Bùi Phương Thảo, con gái nhà thơ Quang Dũng từng cho biết: “Bức vẽ "Bến Ngọc" đã thất lạc trong nhiều năm, gần đây được một người bạn của bố tôi tặng lại gia đình. Nâng niu bức tranh đã bị rách, bốn góc phải “băng bó” và phía sau bồi bằng một tờ bìa mỏng trông thật “tội nghiệp”.

Tôi không khỏi bồi hồi khi hình dung ở trên Bến Ngọc này, cách đây hơn 60 năm, một đoàn những chàng trai Hà Nội tràn đầy sức xuân, trong đoàn quân Tây Tiến hăng hái nhận nhiệm vụ phối hợp với quân đội Lào chống quân đội của thực dân Pháp. Trong đoàn quân ấy có cha tôi, và bài thơ "Tây Tiến" đã ra đời sau khi cha rời xa đơn vị ít ngày”.

Tranh của Quang Dũng hiện được gia đình thu thập lại từ nhiều nguồn. Số ở trong gia đình giữ chỉ còn hơn chục bức. Có bức ở gia đình cố nhà thơ Yến Lan. Bức tranh bột màu “Trưa mùa gặt” được thấy ở trời Tây, hiện được nhà nghiên cứu Đặng Tiến giữ, phía sau có ghi: “Ai mở ra xin giữ hộ tôi tranh này. Xin trân trọng cảm ơn. Quang Dũng”.

Chủ nhân bức tranh (Quang Dũng) đã không biết tác phẩm của mình sau này sẽ về neo đậu nơi đâu. Dù  biết tác phẩm của mình sẽ có số phận lênh đênh, nhưng ông vẫn tin rằng ai đó sẽ yêu và giữ nó thay ông. Họ giữ, họ yêu các tác phẩm của ông bởi đó là những bức tranh đã được ông vẽ bằng những rung động nghệ thuật chân thực nhất của trái tim ông - thi sĩ Quang Dũng.

Nhà thơ Trần Lê Văn - một người bạn cùng thời với Quang Dũng đã đưa ra một nhận xét: “Quang Dũng viết văn xuôi cũng là một cách làm thơ… bằng văn xuôi. Cũng như anh vẽ tranh cũng là một cách làm thơ bằng hội họa”.

Và với tranh của Quang Dũng… vậy cũng là đủ!

TÔ CHIÊM







Thứ Sáu, 8 tháng 2, 2019

“Hà Hương phong nguyệt” – tiểu thuyết quốc ngữ đầu tiên của Việt Nam?

Đó là câu hỏi mà bấy lâu nay các nhà nghiên cứu, giới học giả tranh cãi nảy lửa. Tuy nhiên, chưa ai có cơ hội đọc trọn vẹn tác phẩm đã làm hao tổn nhiều giấy mực nhất của văn chương quốc ngữ Nam Bộ giai đoạn đầu thế kỷ XX.

Giữa tháng 6-2018 khi bộ “Hà Hương phong nguyệt” được coi là trọn vẹn nhất (tính đến thời điểm này) công bố sau gần 100 năm “tuyệt tích giang hồ”, cuộc tranh cãi xuất hiện thêm nhiều ý kiến mới mẻ.

Từ cuốn sách bán chạy đến cái án “dâm thư”

“Hà Hương phong nguyệt” là tác phẩm đầu tay của nhà văn “khét tiếng” Lê Hoằng Mưu. Tác phẩm lần đầu ra mắt công chúng dưới dạng feuilleton (truyện đăng nhiều kỳ) trên báo “Nông cổ mín đàm” vào ngày 20-7-1912 với nhan đề “Truyện nàng Hà Hương”.

Truyện đăng đều đặn đến số báo ngày 29-5-1915 thì ngưng không rõ lý do dù nội dung vẫn chưa kết thúc. Do được độc giả yêu thích, năm 1914, Lê Hoằng Mưu mạnh dạn tập hợp in thành sách lấy tên mới là “Hà Hương phong nguyệt truyện” gồm 6 tập.

Lý do Lê Hoằng Mưu viết truyện này được ông nói rõ trong lời tựa: “Đồng bang hằng đọc truyện Tào diễn nghĩa, thông hiểu tích xưa, chẳng phải là chẳng ích chẳng vui. Nhưng mà coi bấy nhiêu đó hoài, lẽ khi cũng mỏi mắt đọc cang qua, nhàm tai nghe binh cách chớ?

Xét vậy nên tôi đặt bộ “Hà Hương phong nguyệt” nầy ra, thật là truyện đặt theo việc tình người đời, chẳng mượn tích ngoại phang gio diễn, để cho đồng bang cơn rảnh mua vui, lúc buồn xem tiêu khiển”.

Tác phẩm kể về cuộc đời của nàng Hà Hương – một cô gái phóng túng, đa tình và mưu mô. Các nhà nghiên cứu đánh giá có lẽ trong thơ văn Việt Nam cùng thời và trước đó, chưa từng thấy nhân vật nữ nào táo bạo trong chuyện ái tình như Hà Hương.

Những ham muốn gần gũi trần tục, những lời ve vãn bướm ong với chú Xã, với Ái Nghĩa, những chi tiết miêu tả chuyện ái ân một cách trực diện của Hà Hương được trình bày dày đặc trong tác phẩm. Mà lạ hơn nữa, trong những cuộc tình thoáng qua ấy, Hà Hương bao giờ cũng nắm trọn vai trò chủ động trong khi hình tượng người phụ nữ khi đó luôn gắn liền với tứ đức, tam tòng.
Bộ “Hà Hương phong nguyệt” trở lại trọn vẹn 
sau gần 100 năm thất lạc đã làm sáng tỏ nhiều tranh cãi.

Lý giải về lý do Lê Hoằng Mưu được giới văn chương bấy giờ tán tụng là “có sách bán chạy như tôm tươi giữa chợ buổi sớm”, Thạc sĩ Nguyễn Thị Phương Thúy, Khoa Văn học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP Hồ Chí Minh cho rằng, có thể xem “Hà Hương phong nguyệt” là một trong những tác phẩm khởi đầu cho văn học đại chúng Việt Nam.

Bên cạnh sự táo bạo, mới mẻ của cốt truyện, lộ trình đến với độc giả của cuốn sách này là một lộ trình vô cùng hiệu quả về mặt thương mại: đăng báo trước thu hút một lượng độc giả trung thành cho tác phẩm, sau đó in sách. Việc này cũng giống như nhiều tác phẩm đại chúng bây giờ ra mắt độc giả trên mạng Internet trước, có được lượng người hâm mộ hùng hậu rồi mới in sách như một cách đảm bảo nguồn thu và khuếch trương tên tuổi.

Nhưng hơn 10 năm sau, cuốn sách gây nên cuộc bút chiến dữ dội. Theo nhà thơ Lê Minh Quốc, cuộc bút chiến nổ ra từ bài báo “Dâm thơ” đăng trên tờ “Công luận báo” năm 1923 của Nguyễn Háo Đàng. Sau đó, nhiều nhà báo vào cuộc. Họ cho rằng tác phẩm “làm cho phong hoá nước nhà trở nên suy đồi, tội viết sách phong tình rất đê tiện rồi ấn hành mà rải bán trong dân gian gợi cái tính xác thịt của loài rời gia đình, tội làm cho dân trong nước trở nên đê tiện hèn yếu”.

Vậy “Hà Hương phong nguyệt” có bị kết án oan? Đọc lại các tình tiết mây mưa bị quy là làm suy đồi phong hóa, nhà thơ Lê Minh Quốc nhận thấy tác giả miêu tả rất ý nhị bằng thơ văn chứ không hề thô tục. Theo ông, “dâm thư” chỉ là cái cớ để người ta đả kích, mạt sát tác phẩm này. Bởi khi quan niệm khắt khe của Nho giáo về tình yêu nam nữ vẫn ăn sâu, người ta không thể chấp nhận Hà Hương – một nhân vật phản diện, biểu tượng diễn ngôn tính dục quá mới mẻ mà Lê Hoằng Mưu xây dựng thành nhân vật chính.

TS Võ Văn Nhơn phân tích: “Kiểu nhân vật biểu tượng cho sự cám dỗ của sắc dục này chưa hề có trong văn học truyền thống. Tác phẩm bị lên án vì đã chuyển tải một quan niệm không truyền thống về tình yêu, luân lý trong thời điểm nhân dân Nam Bộ cần cổ súy cho đạo đức truyền thống, cho tình yêu nước để có sức mạnh chiến đấu với giặc ngoại xâm hơn là những tình cảm cá nhân ngang trái, buông thả”. Dưới áp lực dư luận, tác phẩm bị chính quyền thực dân Pháp tịch thu và tiêu hủy. Do vậy, thế hệ sau này khó tiếp xúc với văn bản gốc.

Hành trình đi tìm “Hà Hương phong nguyệt” của TS Võ Văn Nhơn bắt đầu cách đây 10 năm khi ông tình cờ đọc nhận định của nhà nghiên cứu Bằng Giang trong công trình “Văn học quốc ngữ ở Nam Kỳ 1865 – 1930”: “Còn tiểu thuyết (không nói truyện ngắn) thì cũng chỉ bắt đầu với “Hà Hương phong nguyệt” của Lê Hoằng Mưu đăng báo năm 1912 và in thành sách năm 1915”.

Hiểu rõ tầm quan trọng và vị trí của “Hà Hương phong nguyệt” trong lịch sử tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, ông và cộng sự đi khắp thư viện ở Việt Nam để truy tìm. Nhưng họ chỉ tìm được tập 3. Riêng các số báo “Nông cổ mín đàm” năm 1913, 1914 lại không được lưu trữ đầy đủ nên việc tập hợp trọn vẹn tác phẩm trở nên khó khăn. Phải đến năm 2014, họ mới tìm được 6 tập ở Thư viện Quốc gia Pháp.

Quá trình dày công sưu tầm, chỉnh lý, sắp xếp “Hà Hương phong nguyệt” cho nguyên hình, nguyên dạng của TS Võ Văn Nhơn mất khá nhiều thời gian. Vì bản in báo có nhiều phần thất lạc nên trong cuốn “Hà Hương phong nguyệt” công bố lần này, phần 1 và phần 3 là bản in trên báo, phần 2 phải lấy từ bản in sách. Bản in báo có lối hành văn hiện đại hơn so với bản in sách (do chiều theo thị hiếu của độc giả lúc đó nên khi tập hợp phần đã in feuilleton trên báo để in sách, Lê Hoằng Mưu đã chuốt gọt theo hướng giảm số câu văn xuôi, tăng số câu văn vần).

Tiểu thuyết quốc ngữ đầu tiên của Việt Nam?

Trước đây, quyển tiểu thuyết quốc ngữ đầu tiên được xem là “Tố Tâm” của Hoàng Ngọc Phách xuất bản năm 1925. Nhưng với các phát hiện gần đây, vấn đề này đã được xem xét lại. Trong công trình “Văn học quốc ngữ ở Nam Kỳ 1865-1930”, nhà nghiên cứu Bằng Giang từng khẳng định: “Từ truyện “Thầy Lazaro Phiền” (1887) của Nguyễn Trọng Quản đến “Hoàng Tố Anh hàm oan” (1910) của Trần Thiên Trung, “Phan yên ngoại sử - Tiết phụ gian truân” (1910) của Trương Duy Toản phải mất hết 23 năm.

Số trang của hai tác phẩm này cộng lại cũng chỉ được có 103. Chỉ mới đáng kể là truyện ngắn chứ chưa phải là tiểu thuyết. Đến năm 1912, “Truyện nàng Hà Hương” của Lê Hoằng Mưu đăng trên “Nông cổ mín đàm” từ 20-7-1912 mới đáng kể là tiểu thuyết”.

Nghiên cứu, sưu tầm và chỉnh lý tác phẩm này, TS Võ Văn Nhơn phân tích: “Hiện thực phản ánh trong tác phẩm khá rộng lớn, có thể xem đây là một xã hội Nam Bộ ở đầu thế kỷ XX được thu nhỏ. Trong tác phẩm có các gia đình giàu lẫn những gia cảnh nghèo hèn; có cảnh Sài Gòn đô hội phồn hoa bên cạnh cảnh nghèo hèn thôn dã; có cảnh tòa xử án, trạng sư biện hộ...

“Hà Hương phong nguyệt” ra đời vào thập niên thứ hai của thế kỷ XX, vì thế vẫn còn mang những dấu vết của giai đoạn giao thời. Ghi là Roman Fantastique (tiểu thuyết) nhưng câu văn của tác phẩm rất gần với thơ, với văn biền ngẫu. Nhưng với dung lượng đáng kể, với hệ thống nhân vật đa dạng, ngôn ngữ nghệ thuật độc đáo, đặc biệt là nghệ thuật phân tích tâm lý khá đặc sắc, tác phẩm này của Lê Hoằng Mưu có những bước đột phá vượt bậc so với các nhà văn cùng thời, xứng đáng là tiểu thuyết quốc ngữ đầu tiên của Nam Bộ, của Việt Nam”.

Nhà nghiên cứu Trần Nhật Vy không đồng tình với nhận định này. Ông cho rằng: “Nếu phân tích hai chữ tiểu thuyết thì rõ. Tiểu là nhỏ, bé và thuyết là nói hay kể một câu chuyện. Bất kể ngắn hay dài chúng đều là tiểu thuyết cả. Do đó, trong “Đại Nam quốc âm tự vị”, Huỳnh Tịnh Của định nghĩa tiểu thuyết là “chuyện nói chơi, sách nói về chuyện ngoài, chuyện đặt để”.

Và dĩ nhiên hoàn toàn không có chữ “truyện dài” trong các định nghĩa ấy. Với cách hiểu nầy, tôi nghĩ rằng, “Hà Hương phong nguyệt” không phải là tiểu thuyết đầu tiên”. Ông đề nghị, nếu tác phẩm có tái bản, thì nên ghi “Hà Hương phong nguyệt, tiểu thuyết dài, nhiều tình tiết đầu tiên của Việt Nam”.

Nhà thơ Lê Minh Quốc cũng cùng quan điểm. Theo ông, xét về cách hành văn với phong cách biền ngẫu của “Hà Hương phong nguyệt”, câu chữ du dương, nhịp nhàng vần điệu thì gọi chính xác nhất vẫn là truyện thơ, một sự nối dài của truyện thơ nôm khuyết danh “Lâm tuyền kỳ ngộ”, “Phạm Công - Cúc Hoa”, “Chàng Chuối tân truyện”… Có khác chăng là hình thức biểu hiện của từng câu thơ không xuống dòng.

Một khi đã gọi tiểu thuyết hiện đại, trước hết phải căn cứ vào cách hành văn, diễn đạt các con chữ. Đó chính là yếu tố quan trọng nhất. Các tiêu chí: “Với dung lượng đáng kể, với hệ thống nhân vật đa dạng, ngôn ngữ nghệ thuật độc đáo, đặc biệt là nghệ thuật phân tích tâm lý nhân vật khá đặc sắc”, chỉ là yếu tố phụ, là cần nhưng vẫn chưa đủ.

TS Hà Thanh Vân cho rằng việc tác phẩm này có phải là tiểu thuyết quốc ngữ đầu tiên của Việt Nam hay không không quan trọng. Cái quan trọng là giá trị mà nó đem lại cho nền văn học sử Việt Nam. Sẽ không có gì tranh cãi nếu coi đây là tiểu thuyết quốc ngữ về nữ quyền đầu tiên của nước ta.

Việc công bố trọn vẹn tác phẩm này là một sự kiện quan trọng, góp phần làm rõ hơn diện mạo, hành trình ban đầu hình thành thể loại tiểu thuyết hiện đại ở Nam Bộ và Việt Nam nói chung.

MAI QUỲNH NGA
Nguồn: VNCA


Nhà văn Thùy Dương: Trăn trở với mỗi thân phận Người

Nếu không biết Thùy Dương sinh ra và lớn lên ở Hải Dương, sẽ đoán   chắc nàng là người Hà Nội gốc. Gọi là nàng v ì nàng không chỉ xinh đẹp, ...