Thứ Năm, 26 tháng 9, 2019

Thanh Tâm Tuyền: Làm những vì sao đổi ngôi

“Từ năm 20-30 tuổi, Thanh Tâm Tuyền đã là một tác giả làm mới nền văn học miền Nam, các tác phẩm của ông đã tạo nên một lối rẽ cho văn học Việt Nam nói chung trong nửa sau thế kỷ XX, bằng cách làm mới câu thơ, bài thơ, ý thơ và quan niệm thi ca Việt Nam” - Đó là lời giới thiệu của nữ nhà thơ Phan Huyền Thư về nhà thơ Thanh Tâm Tuyền trong Ngày Thơ Việt Nam lần thứ 5 (năm 2007) tại Văn Miếu Hà Nội giữa những “cây thơ” tên tuổi của nhiều thế hệ như Nguyễn Bính, Lâm Thị Mỹ Dạ, Lê Đạt, Lưu Quang Vũ, Bế Kiến Quốc, Nguyễn Quang Thiều…
Nhà thơ Thanh Tâm Tuyền ngày trẻ.

Đọc thơ Thanh Tâm Tuyền, dù ở lứa tuổi nào, thời đại nào, vẫn cảm nhận được sự mới mẻ riêng biệt, cách cảm thấu cuộc đời dù trong thời khắc bi lụy nhất vẫn hiển hiện một tâm thức phóng khoáng, một tài thơ khó lẫn với bất kì một nhà thơ Việt nào khác. Những thi phẩm của Thanh Tâm Tuyền đã được nhiều nhạc sĩ phổ nhạc như: Bài ngợi ca tình yêu, Dạ tâm khúc, Đêm màu hồng… và nổi bật phải kể đến Lệ đá xanh đã được các nhạc sĩ Phạm Đình Chương, Cung Tiến và Phạm Quang Tuấn phổ nhạc. Trong đó nguyên tác bài thơ “Lệ đá xanh” được Cung Tiến giữ nguyên tựa thơ, còn Phạm Đình Chương lấy tựa cho nhạc phẩm của mình với tên gọi “Nửa hồn thương đau”, có lẽ bản của Phạm Đình Chương là được nhiều người biết hơn cả: “Nhắm mắt cho tôi tìm một thoáng hương xưa /Cho tôi về đường cũ nên thơ/Cho tôi gặp người xưa ước mơ/Hay chỉ là giấc mơ thôi/Nghe tình đang chết trong tôi/Nghe lòng tiếc nuối xót thương suốt đời/Nhắm mắt ôi sao nửa hồn bỗng thương đau/Ôi sao ngàn trùng mãi xa nhau/Hay ta còn hẹn nhau kiếp nào/Em ở đâu? Anh ở đâu?…” (Nửa hồn thương đau).

CÁCH TÂN THƠ TÁO BẠO

Thanh Tâm Tuyền sinh ngày 13-3-1936 tại Nghệ An, tên thật là Dzư Văn Tâm. Năm 16 tuổi, ông đã dạy học tại trường Minh Tân (Hà Đông) và đăng những truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Thanh Niên (Hà Nội). Năm 1954, ông hoạt động trong Tổng hội Sinh viên Hà Nội, cùng với Trần Thanh Hiệp, Nguyễn Sỹ Tế, Doãn Quốc Sỹ, chủ trương nguyệt san Lửa Việt. Năm 1955, ông vào Sài Gòn. Năm 1956, mới hai mươi tuổi, Thanh Tâm Tuyền cho in cuốn sách đầu tay Tôi không còn cô độc (thơ), và Bếp lửa (văn, 1957), hai tác phẩm đánh dấu sự thay đổi diên mạo văn học miền Nam, đến thời đó vẫn còn chịu ảnh hưởng của dòng lãng mạn tiền chiến: “Cửa sổ trời những mắt chưa quen/trán hoang đồng cỏ/run đường môi kỷ niệm/đi qua những thành phố đầy tim/cười đổ mưa một mình/trái tim ngọn lửa xanh/áo mùa đông/ngón tay út ngây thơ nền vải/buổi chiều/quá lạnh những hàng chấn song/đã yêu nhau muôn vàn mái nhà/những người vô tội chối từ khí giới/chấp hai lòng tay lò sưởi/không nỡ làm rối mi mắt khép/gửi một tiếng cười và mùa thu/và một lá thư học trò” (Của em - Tôi không còn cô độc, 1956).

Thật thú vị khi biết rằng bài thơ được viết từ những năm 50 của thế kỉ trước lại có những thi ảnh hiện đại, gợi mở với cách diễn đạt phóng khoáng, tự do đến thế! Nhà phê bình Nguyễn Vy Khanh nhận xét: “Với Nguyên Sa, thơ tự do là thơ phá thể, trong khi Thanh Tâm Tuyền đi xa hơn, thơ hôm nay không dừng lại ở thơ phá thể, thơ hôm nay là thơ tự do mà cao điểm sẽ là thơ văn xuôi.” Còn nhà phê bình Đặng Tiến thì nhận định: “Thanh Tâm Tuyền phá vỡ cái vỏ ngữ âm của câu, hay bài thơ: loại trừ vần, không theo nhịp của ngôn ngữ, xáo trộn thanh điệu bằng trắc; muốn như thế, ông phải sắp xếp lại ý tưởng, hình ảnh, để làm mới ngôn ngữ. Thơ xưa đem tư tưởng ra “ diễn ca “, còn Thanh Tâm Tuyền tháo gỡ guồng máy ngôn ngữ ra từng bộ phận rồi lắp ghép lại thành những chức năng mới, trong văn bản mới.” Nhiều người tưởng rằng thơ không vần điệu hoặc thơ văn xuôi mới xuất hiện gần đây, thực ra từ những năm 1950, Thanh Tâm Tuyền đã quyết liệt cách tân để thơ được trình bày đến độc giả một cách tự nhiên nhất nhưng cũng đầy cảm xúc tinh tế của ngôn từ.

MỘT VÌ SAO CÔ ĐỘC

Để bước đi trên con đường sáng tạo riêng biệt, người nghệ sĩ thường trở nên một vì sao lẻ loi giữa bầu trời sao để lắng nghe mình và tìm ra một sự tiếp cận độc lập. Đọc thơ Thanh Tâm Tuyền nhận thấy thi sĩ là một người có thi cảm phong phú, giao hòa ngôn ngữ với âm nhạc và hội họa:

“Em là lá biếc là mây cao là tiếng hát/sớm mai khuya thức nhiều nhớ thương/em là cánh hoa là khói sóng/đêm màu hồng/Vòng tay dĩ vãng và bát ngát/chỗ yên nghỉ cuối cùng/dưới mắt sao dưới bàn chân những đứa con” (Trích Bài ngợi ca tình yêu, 1964)

Tiến sĩ Bùi Bích Hạnh - Đại học Sư phạm TP.Hồ Chí Minh nhận định: “Như một nhu cầu hiện sinh đích thực, hoàn toàn tự do, người nghệ sĩ xác lập mối quan hệ giữa tôi với thực tại, tôi với thế giới ngoài tôi, tôi và cái trong tôi. Thơ Thanh Tâm Tuyền là tiếng nói đi đến cùng bản thể để tự tháo gỡ tôi ra khỏi đường biên của hai miền cảm thức chông chênh cô độc và không còn cô độc.” Ảnh hưởng của văn chương phương Tây khá rõ nét trong tư tưởng cũng như thủ pháp nghệ thuật trong thơ Thanh Tâm Tuyền. Vì thế, những người theo lối thơ truyền thống không ủng hộ lối cách tân đến mức nổi loạn của Thơ Thanh Tâm Tuyền và một số nhà thơ cùng chí hướng. Tuy vậy,Thanh Tâm Tuyền đã để lại một dấu ấn đậm nét cho thi ca Việt trong nửa sau thế kỷ XX và ảnh hưởng đến nhiều thế hệ các nhà thơ trẻ sau này. Thanh Tâm Tuyền cho rằng: “Thơ không vần, không điệu, thơ xuôi nếu quả thật là thơ - nghĩa là đạt được đến ngôn ngữ mầu nhiệm không chỉ chuyên chở ý tưởng mà còn ám ảnh vang vọng mãi trong tâm hồn – thì sớm muộn người đọc cũng tìm thấy và quen dần với một thứ nhịp điệu rộng rãi phức tạp ở một trình độ nghệ thuật cao hơn đối với nhịp điệu đơn giản rút gọn…” Thanh Tâm Tuyền mất ngày 22-3-2006 tại Minnesota, Hoa Kỳ do bệnh ung thư phổi. Nhưng người đọc vẫn nhớ về ông qua những câu thơ gợi mở đa tầng trước sự biến chuyển của cuộc đời: “tôi thèm sống như thèm chết/giữa hơi thở giao thoa/ngực cháy lửa/tôi gọi khẽ/em/hãy mở cửa trái tim/tâm hồn anh vừa sống lại thành trẻ thơ/trong sạch như một lần sự thật” (Trích Phục sinh).

VŨ THANH HOA
Theo BRVT

Tin bài khác:

·         Nỗi oan của môn Văn
·         Nhà văn làm nghề gì?


Thứ Tư, 25 tháng 9, 2019

Nhà văn Nguyễn Minh Châu: Tên thực ứng với đời thực?

Trái ngược với cái tên Minh Châu "đẹp như mộng", thuở mới lọt lòng, nhà văn tài năng của chúng ta đã được các cụ thân sinh đặt cho cái tên thậm xấu: Nguyễn Thí. Vâng, Nguyễn Thí, vì đó là đứa con "thêm nếm" (tức con út) mà các cụ được Trời Phật ban cho.
Nhà văn Nguyễn Minh Châu

Minh Châu là một cái tên thật đẹp. Có lẽ vì vậy mà trong kỷ yếu "Nhà văn Việt Nam hiện đại" xuất bản lần gần đây nhất, hai chữ này đã xuất hiện trong bút danh của... bốn nhà văn, gắn với bốn cái họ khác nhau: họ Nguyễn, họ Hoàng, họ Nông, họ Tạ. Trong đó, ông Minh Châu họ Nguyễn được giới văn học nhắc tới nhiều hơn cả. Kể thì cũng dễ hiểu: Trong "tứ trụ Minh Châu" nói trên, đến nay Nguyễn Minh Châu vẫn là nhà văn duy nhất đoạt giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học - nghệ thuật.

Thế nhưng, trong một lần trò chuyện với bà Nguyễn Thị Doanh, quả phụ của nhà văn Nguyễn Minh Châu, tôi đã thực sự bất ngờ khi được biết rằng: Trái ngược với cái tên Minh Châu "đẹp như mộng" ấy, thuở mới lọt lòng, nhà văn tài năng của chúng ta đã được các cụ thân sinh đặt cho cái tên thậm xấu: Nguyễn Thí. Vâng, Nguyễn Thí, vì đó là đứa con "thêm nếm" (tức con út) mà các cụ được Trời Phật ban cho. Còn vì sao sinh trưởng trong một gia đình khá giả mà ông lại bị cha mẹ đặt cho cái tên đáng ngán ngẩm như vậy? "Thì cũng là cách đặt tên cho dễ nuôi như quan niệm của phần đông dân ta khi ấy"- bà Doanh giải thích.

Cũng theo bà Doanh cho biết: Chỉ đến khi Nguyễn Thí đến tuổi đi học, bố mẹ ông mới tìm cách đặt lại tên cho ông (là Minh Châu). Như vậy, cái tên Minh Châu không phải do nhà văn chọn lựa khi cầm bút viết văn.

Không biết có phải do mặc cảm với cái tên Nguyễn Thí bố mẹ đặt cho từ thuở lọt lòng mà bình sinh, ông nhà văn vốn dĩ có nhiều độc giả này lại rất e ngại khi phải đối mặt với... đám đông. Trong những ghi chép cuối cùng (có tên gọi "Ngồi buồn viết mà chơi") được thực hiện trong những ngày nằm điều trị tại Viện Quân y 108, Nguyễn Minh Châu tự nhận xét: "Từ lúc còn nhỏ tôi đã là một thằng bé rụt rè và vô cùng nhút nhát. Tôi sợ từ con chuột nhắt cho đến ma quỷ. Sau này lớn lên, đến gần sáu chục tuổi, đến một nơi đông người tôi chỉ muốn lẻn vào một xó khuất và chỉ có như thế mới cảm thấy được yên ổn và bình tâm như con dế đã chui tọt vào lỗ".

Nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn từng kể (trong sách "Nghiệp văn" - NXB Văn hóa - Thông tin, 2001), quãng năm 1973, 1974 gì đó, vào độ giáp Tết, Nguyễn Minh Châu không may bị bệnh phải đi nằm viện. Khi ông hồi phục, ra viện thì cũng vừa hay… hết Tết. Trái ngược với tâm trạng của bạn bè, người thân (áy náy, thương cảm vì ông không được hưởng những ngày vui), Nguyễn Minh Châu lại có một thái độ rất thoải mái. Theo ông tiết lộ thì việc nằm viện vậy là ông "đã tránh được ít ngày phải sống giữa một cơn điên". Ý ông muốn nói, ông đã thoát được những ngày con người phải sống với những lễ lạt, giao tiếp căng thẳng.

Nguyễn Minh Châu tự nhận mình không thuộc diện lợi khẩu. Chính vì thế ông rất ngại khi được mời phát biểu trong các buổi tọa đàm, hội thảo. Ông thật thà kể: "Tôi rất sợ máy micrô. Một lần ở thư viện của một thành phố, người ta cứ nằng nặc bắt tôi nói trước máy để cả đám đông của hội trường có thể nghe. Vừa nói được vài câu qua máy, tôi đã mất bình tĩnh vì vừa nói tôi vừa nghe thấy cái tiếng nói của mình và tự nhiên phát hoảng, không còn là tiếng nói hàng ngày của mình nữa mà y như có ai đang nhại mình bằng một thứ giọng ma quỷ". Lại một lần khác, ông bị người ta kéo đi nói chuyện với học sinh một trường cấp III. Từ trên bục diễn giả nhìn xuống, ông thấy hai phần ba thính giả là nữ, và các cô gái này cứ nói chuyện rào rào, không có vẻ gì là đang nghe ông nói. Bị mất hứng, giọng nhà văn cứ ỉu dần, ỉu dần và mới được có nửa buổi ông đành phải cho kết thúc bài và xin phép… cáo từ.

Nhà thơ Vũ Cao, nguyên Chủ nhiệm Tạp chí Văn nghệ Quân đội, nơi Nguyễn Minh Châu có thời kỳ làm biên tập văn xuôi cũng từng kể: "Trong những buổi họp cơ quan hoặc họp chi bộ, hễ thấy anh giơ tay xin phát biểu ý kiến thì lập tức tôi nói khẽ với đồng chí ngồi cạnh: Này, ông Châu lại sắp nói sai đấy. Và quả nhiên, anh chỉ nói hẳn hoi được một hai câu, còn sau đó là "sai" hết. Tôi nói "sai" là so với cách nghĩ thông thường của nhiều người khác...". Vũ Cao cũng nhớ lại những ấn tượng của ông khi lần đầu gặp Nguyễn Minh Châu: "Một con người nhỏ bé, đi chân chữ bát, đầu hơi cúi xuống. Anh có vẻ nhút nhát".

Không chỉ là nhút nhát, vụng về trong phát biểu, nói năng, mà trong công tác cũng như trong sinh hoạt thường ngày, Nguyễn Minh Châu cũng luôn thể hiện là người không thật... nhanh nhẹn. Nói chính xác thì ông hầu như là người "chỉ biết viết thôi, chẳng biết gì" (cải biên từ một câu thơ của Xuân Diệu). Hiện nhiều anh em trong Quân đội còn lưu truyền câu chuyện về thời kỳ Nguyễn Minh Châu làm lính trinh sát cho một đại đội thuộc Đại đoàn Đồng Bằng. Một lần, chỉ huy đơn vị kéo ông cùng đi thị sát chiến trường, chuẩn bị cho một trận công đồn. Đêm tối như hũ nút, theo chân Nguyễn Minh Châu, vị chỉ huy lần lượt vượt qua những vạt ruộng, những bờ tre... mà không gặp phải trắc trở nào cả. Không gian im ắng đến không ngờ. Cứ vậy, đến gần sáng, khi gà te te gáy, nghe tiếng kẻng vang xa, vị chỉ huy chắc mẩm đó là tiếng kẻng báo thức phát ra từ đồn địch... Nào ngờ, trước mặt lại chính là điểm trú quân của bộ đội ta. Sau đận đó, nghe nói Nguyễn Minh Châu được điều làm việc khác. Nhận xét về chuyện này, vị chỉ huy nói trên đã buông một câu: "Chẳng sao, đồng chí ấy tuy là một trinh sát tồi nhưng viết văn giỏi".

Nhà văn Lê Lựu, trong một lần kể chuyện Nguyễn Minh Châu giúp vợ chồng ông tìm mua nhà, đã không quên nhắc lại sự hồn nhiên đãng trí của Nguyễn Minh Châu: "Hút hết điếu thuốc lá, nhấp một ngụm nước chè tôi vừa pha, anh mới nói đầy vẻ tự tin: Mình kiếm được nhà cho ông rồi". Lê Lựu mừng rỡ, muốn kêu lên vì sung sướng: "Không thể ngờ anh lại đem đến cho tôi một niềm vui lớn, đột ngột đến thế". Nhưng khi ông hỏi nhà văn đàn anh "ở chỗ nào hở anh?" thì Nguyễn Minh Châu bất chợt lúng túng "chết chửa, mình lại quên không để ý số nhà". "Thế ở phố nào ạ?". "Phố..ả...à...à. mình... cũng không nhớ nữa". Phu nhân của nhà văn Lê Lựu nghe vậy, sốt ruột không đừng được, chêm vào: "Thế bác có nhớ ở mạn nào không ạ?". Nguyễn Minh Châu xem chừng... bất lực. Ông thở dài, đứng dậy: "Thôi, để mình đi lại".

Có lẽ vì tật đãng trí như vậy mà trong làng văn, hiện vẫn lưu truyền câu chuyện vui về việc Nguyễn Minh Châu tập đi xe máy mãi mà vẫn không phân biệt được rạch ròi đâu là số, đâu là côn, là phanh, để rồi rốt cục, ông không tài nào điều khiển được xe đi, xe dừng. Để đỡ tốn sức, tốn thời gian, Nguyễn Minh Châu bảo bạn: "Thôi vậy ông ạ, với tôi xe đạp vẫn thuận hơn". Từ đó, người ta lại thấy nhà văn bạn đường với chiếc xe đạp tòng tọc, lủng lẳng bên tay lái chiếc mũ lá (xem "Giai thoại làng văn Việt Nam"- NXB Văn hóa Dân tộc, 1999).

Về việc này, tôi đã có dịp hỏi chuyện bà Nguyễn Thị Doanh. Bà Doanh cho hay: Cả đời, chưa bao giờ chồng bà tập đi xe máy, vì đối với vợ chồng bà, xe máy bấy giờ là một thứ quá xa xỉ. Suốt đời, nhà văn Nguyễn Minh Châu chỉ đi chiếc xe đạp mà ông được mua từ năm 1959. "Nhà tôi dùng nó suốt 30 năm, tới khi anh ấy mất - Bà Doanh nhớ lại - Nó tróc ghẻ, lọc xọc. Đến nỗi, có hôm khách khứa ngồi chờ, tôi nghe thấy tiếng lọc xọc ngoài đường, tôi bảo, nhà tôi về rồi". Ông khách ngạc nhiên hỏi: "Sao chị biết?". Tôi nói: "Chỉ cần nghe tiếng xe kêu là tôi biết". Hiện chiếc xe tôi vẫn giữ cái khung. Có ông sửa xe gạ mua, nhưng tôi không bán. Tôi dành để tặng nó cho Bảo tàng Nhà văn".

Theo bà Doanh, có thể người ta "nhầm chuyện xe máy với chuyện nhà tôi sử dụng máy chữ. Chẳng là, gần nhà tôi có anh An đánh máy chữ rất giỏi. Nhà tôi trông thấy thèm lắm, mơ ước mua được một cái. Đến khi có máy rồi, nhà tôi kỳ cạch xoay xoay gõ gõ mấy ngày liền, xong cũng chẳng chữ nào ra chữ nào".

Lý giải việc nhà văn Nguyễn Minh Châu không thạo những việc xem ra rất đơn giản đối với đại đa số những người... bình thường, bà Doanh cho rằng, vì chồng bà là con út, hồi bé lại được bố mẹ cho đi học suốt nên "lớn lên có biết làm gì đâu". Bà Doanh lấy ví dụ: "Tôi nhớ, có lần nhà tôi nối được cái dây may so ở bếp điện khiến nó đỏ lên được, anh ấy mừng lắm, cứ xuýt xoa chờ vợ con khen. Tôi động viên anh: "Bố nó tiến bộ quá". Thế là anh ấy thích lắm". Và bà kết luận: "Nói chung, nhà tôi là một người quan sát việc đời rất tinh tế nhưng lại rất lóng ngóng việc nhà. Bản thân tôi cũng cố để anh ấy không phải dúng tay vào những việc này. Về nội trợ trong nhà, việc duy nhất mà tôi hướng dẫn anh ấy làm được là việc... rang cơm"

PHẠM THÀNH CHUNG
Nguồn: VNCA

Tin bài khác:

·         Nỗi oan của môn Văn
·         Nhà văn làm nghề gì?




Thứ Ba, 24 tháng 9, 2019

5 lý do khiến sách giấy không thay thế được

Có một thời người ta lo lắng về sự cáo chung của sách giấy khi các phương tiện giải trí điện tử ra đời như vũ bão, thời mà việc đọc sách không cần phải đến thư viện hay ra hiệu sách, nhưng những lo lắng này có vẻ hơi thừa, bởi những lý do sau đây.

Sách giấy là thứ hữu hình có thể cầm nắm, sở hữu thực sự được. Khi ai đó nói rằng mình đọc sách rất nhiều, mình có một kho sách lớn thì làm thế nào để họ chỉ ra được điều đó? Câu trả lời: trưng ra một thư viện hoặc một tủ sách cực kì lộng lẫy và hoành tráng!

Một thư viện hoặc một tủ sách lớn là thứ nhìn thấy được và rất có ý nghĩa, ít nhất là về mặt tinh thần. Với những người ham đọc sách, có điều gì sung sướng hơn việc dạo chơi trong thư viện, hoặc ngắm nhìn những quyển sách quý trong giá sách cao chất ngất trong nhà, rồi rút ra một quyển ưng ý và ngồi thư thái đọc.
Ảnh: Minh hoạ về sách giấy

Một tủ sách trong nhà chính là một thứ tài sản, một vật trang trí sang trọng cho bất cứ người nào yêu tri thức và ham thích đọc. Bạn bảo bạn có nhiều sách bằng cách đưa ra một chiếc máy tính hoặc một thiết bị đọc sách ư?

Điều này có thể chấp nhận được nhưng nó sẽ không bao giờ là một khoái cảm khi đó là những thứ không thể sờ nắm được. Có một kho sách trong máy tính cũng có nghĩa là... không có gì cả! Loài người luôn thích những thứ cụ thể, có thể sờ nắm trực tiếp. Sách giấy cho người ta một quyền sở hữu thiêng liêng mà các loại sách điện tử không thỏa mãn được.

Sách giấy là một tài sản rất có giá trị. Những quyển sách giấy ngày càng đắt đỏ hơn, in bằng những loại giấy tốt, bìa đẹp nhưng không vì thế mà người ta ngừng mua. Ngay ở Việt Nam, một quốc gia hầu như không có truyền thống ham đọc sách, số người mê sách rất ít thì vẫn có những nhóm người coi sách là tài sản thực sự. Các nhà sách chịu chơi đã thiết kế những bộ sách cho những người này.

Ngay ở giai đoạn trước những năm 1945 ở toàn nước Việt và sau đó tiếp tục tồn tại ở Sài Gòn, đã có nhà sách làm ra những bộ sách đặc biệt, in trên giấy thượng hạng, có đánh số, chữ kí tác giả để dành cho những người yêu sách, chơi sách.

Ví dụ cuốn Tố Tâm, một trong những cuốn tiểu thuyết hiện đại đầu tiên có tiếng vang lớn của văn học Việt ở lần xuất bản năm 1933, ngoài 2.000 nghìn bản in giấy xốp thông thường thì có 5 bản bằng giấy Alpha đánh dấu từ 1 đến 5; 5 bản bằng giấy Vergé Baroque, đánh chữ từ A đến E.

Còn bây giờ, sau một thời gian rất dài chỉ có những bộ sách in bằng giấy đen mủn, ít đầu tư về mặt mĩ thuật thì đã có những cuốn sách chất lượng kĩ thuật rất cao. Các công ty sách đình đám như Nhã Nam, Tao Đàn, Đông A... đã đầu tư những phiên bản sách giấy đặc biệt: bìa cứng, bìa da, giấy in thượng hạng, có đánh số thứ tự kèm chữ kí tác giả hoặc dịch giả.

Những bộ sách đó luôn có giá cao, bằng hai, ba hoặc nhiều hơn nữa so với một phiên bản sách thông thường. Tuy sách đắt nhưng vẫn có khá nhiều người muốn sở hữu những bộ sách này vì đơn giản ngoài giá trị nội dung của sách, nó là một thứ đồ trang trí cao cấp trong nhà, một tài sản có giá trị.

Nếu ai sành sỏi về sách hẳn đều biết những quyển sách cũ hay và quý luôn có giá trên trời, thậm chí một cuốn sách bằng gia sản của cả một đời người.

Cuốn sách đắt nhất có thể kể đến là bản thảo của họa sĩ kiêm nhà bác học vĩ đại người Ý: Leonardo da Vinci, cuốn Codex Leicester có giá đến hơn 30 triệu đôla Mỹ và được một trong những người giàu có và nổi tiếng nhất thế giới - Bill Gates, cha đẻ của công ty phần mềm khổng lồ Microsoft mua từ năm 1994.

Những cuốn sách có giá cả cực lớn có thể kể thêm đến tập kịch First Folio của William Shakespeare, Hiến pháp Hoa Kỳ của George Washington, Chuyện kể ở Canterbury của Geoffrey Chaucer, Các loài chim Mỹ của John James Audubon..., những cuốn sách mà nếu quy ra tiền Việt sẽ có giá trị đến hàng trăm tỉ đồng.

Những cuốn sách cũ có liên quan tới Việt Nam cũng có giá trị rất lớn và quý hiếm ví như cuốn Con rồng An Nam của vua Bảo Đại, Đại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của, Từ điển Việt - Bồ - La của Alexandre de Rhodes, các phiên bản cổ của Truyện Kiều...

Sách giấy có sự đặc biệt về hình thức mĩ thuật. Điều này thì chắc chắn những phiên bản sách điện tử không bao giờ có được. Một quyển sách giấy là công sức và trí tuệ của nhiều người và nếu người ta làm nó thật tâm huyết, nó có những sức quyến rũ đặc biệt.

Ví dụ, bạn đã bao giờ để ý đến chất lượng của giấy in sách chưa, có những loại rất kém ngày xưa thường dùng như loại giấy đen, mỏng, dễ ố. Giờ thì đa số giấy in sách trắng hơn và được phân thành rất nhiều loại khác nhau: ngà, trơn láng, xốp, dai... mà mỗi khi lựa chọn, người làm sách đều có những tính toán riêng cho từng đối tượng độc giả hoặc cân đối giá thành.

Lại có những chi tiết thiên về kĩ thuật cũng mang lại cho sách giấy những nét riêng biệt: font chữ, sự co giãn dòng, cách đánh số trang và đặc biệt là bìa sách. Những người làm sách chuyên nghiệp thường làm bìa rất kĩ, chọn họa sĩ có uy tín, bìa sách phản ánh trúng nội dung sách, ấn tượng và hấp dẫn.

Một bìa sách đẹp cũng góp phần không nhỏ làm thành công cho sách. Xưa kia ở châu Âu người ta đóng bìa sách bằng da thật, một thứ vật liệu rất xa xỉ cho những cuốn sách ở thời bây giờ. Hiện tại chỉ những cuốn sách đặc biệt mới được đầu tư một cái bìa da thật hoặc bìa cứng thượng hạng. Cái kẹp sách (bookmark) cũng được đầu tư, phiên bản thường là bìa giấy, cao cấp có thể bằng da...

Sách giấy mang lại cảm xúc nhiều hơn. Sách giấy mang lại những cảm xúc mà dân ghiền sách thường rất thích thú: mùi vị của giấy mới, những âm thanh sột soạt khi giở từng trang sách, những ghi chép bên lề hoặc gạch chân những đoạn thú vị. Thậm chí trong những quyển sách giấy người ta còn để những kí hiệu đầy bí hiểm. Đã có câu chuyện về  người cất giấu một gia sản khổng lồ của anh ta trong sách. Anh ta đánh số những kí hiệu bí mật đồng thời là mật mã két cất giữ một tài sản lớn ở ngân hàng.

Một độc giả mượn quyển sách ở thư viện và tình cờ tìm thấy dãy kí hiệu ở quyển sách. Cảm thấy đây là điều bất thường, người ấy đã tìm kiếm những quyển sách khác của cùng tác giả mà anh ta nghi ngờ. Sau khi tìm được tất cả các kí hiệu và dãy số cần thiết anh ta đã tìm ra tài khoản và mã két một ngân hàng.

Người đọc đó tìm đến ngân hàng và được biết chủ nhân của tài khoản đó đã mất, hiện chưa có người thừa kế. Khi mã số được tìm thấy dùng để mở két thì người ta thấy có một bức thư trong đó. Người chủ tài khoản di chúc rằng, người đầu tiên tìm thấy mã số bí mật trong những quyển sách anh ta đánh số sẽ được thừa hưởng gia tài. Và may mắn đã dành cho “mọt sách” kiên nhẫn và kì công kia.

Cuối cùng, khoa học đã chứng minh rằng đọc sách giấy khiến con người ta ghi nhớ tốt và thoải mái hơn hơn so với sách điện tử. Nhiều người đọc cho rằng các sách điện tử giống như một tệp tin mà người ta sẽ khó có những thao tác như đánh dấu, ghi chú hoặc làm một thứ gì đó mang tính cá nhân hoặc thú vui riêng lẻ. Khi cuộn các trang sách điện tử người ta ít có cảm giác được nghỉ ngơi hoặc chinh phục. Ngược lại, sách giấy mang cho ta một cảm giác rất  hữu hình.

Với tất cả những đặc điểm của sách giấy có thể nói không quá lời rằng, khi nào loài người vẫn còn những nhận thức về quyền sở hữu, về cái đẹp, thì sách giấy vẫn còn có chỗ đứng vững trong đời sống nhân loại. Và với quan điểm có phần bảo thủ, thiên về cảm xúc của mình, người viết bài này tin rằng sách giấy sẽ không bao giờ mất đi, ngay cả khi thời đại 4.0 phát triển thành 5.0, 6.0..., hay 10.0.

UÔNG TRIỀU
Nguồn: ANTG

Tin bài khác:

·         Nỗi oan của môn Văn
·         Nhà văn làm nghề gì?


Thứ Sáu, 20 tháng 9, 2019

Nhà thơ Võ Văn Trực: Người của làng

Đang chạy xe trên đường thì nhận được tin Nhà thơ Võ Văn Trực đã qua đời lúc 2 giờ sáng ngày 5/4/2019 (tức 1/3 âm lịch), tôi không quá bất ngờ nhưng vẫn có cảm giác nôn nao, dẫu biết rằng cái chết là một sự giải thoát cho cho ông, bởi lâu nay ông ốm liệt giường và không hay biết gì nữa cả. Nhà thơ Võ Văn Trực là người để lại nhiều hình ảnh trong kí ức tuổi thơ tôi, một con người hiền lành, sâu sắc, kiệm lời, khiêm nhường và yêu quý trẻ con. Thực sự trong tôi vừa cảm thấy nhẹ lòng vì ông đã thoát khỏi kiếp trầm luân trong cõi người này, nhưng cũng cảm thấy buồn và trống vắng vì cuộc đời này vừa mất đi một con người tử tế, một con người mang đặc phẩm chất xứ Nghệ quê hương ông.

Dưới đây là bài tôi viết về ông cách đây gần chục năm, khi đó ông đã yếu nhưng vẫn còn có thể trò chuyện được, giờ xin đưa lại như một nén nhang tưởng nhớ đến ông. Xin vĩnh biệt ông và gửi lời chia buồn sâu sắc đến gia đình nhà thơ Võ Văn Trực kính mến.
Nhà thơ Võ Văn Trực

Quả thực định viết về nhà thơ Võ Văn Trực đã lâu, nhưng cứ ngồi vào bàn rồi tôi lại đứng dậy, bởi buổi gặp hôm đó giữa tôi và ông để có thêm chi tiết cho bài viết này cũng thật ngắn ngủi. Sau một thời gian bị tai biến, sức khỏe của ông yếu đi, không thể tiếp khách lâu được. Còn tôi thì cũng không dám hỏi nhiều vì sợ ông mệt. Ngay lúc này đây, khi đang gõ những dòng chữ này, trước mặt tôi là mấy cuốn sách ông tặng với nét chữ nguệch ngoặc, lên xuống liêu xiêu, tôi cứ bị ám ảnh suy nghĩ về thời gian. Thời gian cho chúng ta tất cả nhưng cũng lấy đi của chúng ta tất cả, để rồi đến một ngày lại trở về con số không. Nhưng thôi, đó là quy luật của trời đất, là vòng quay sắc sắc không không của cái vũ trụ vô biên này, mà thân phận con người thì quá nhỏ bé. Đâu có ai làm thay đổi được điều đó. Tất cả rồi cũng chỉ là huyễn giả vô thường mà thôi. Nhưng tôi lại tin có một điều sẽ còn mãi. Và, sau khi đọc những cuốn sách ông đã tặng, với một chút chiêm nghiệm về con người ông, tôi lại càng tin điều đó. Cái điều còn lại đó chính là phần Người trong mỗi Con Người. Cái phần Người sẽ định vị chúng ta ở một chấm nhỏ xíu nào đó trong vũ trụ bao la này.

Quay ngược thời gian với hơn hai mươi năm về trước, khi đó tôi đang là một cậu học sinh tiểu học, ông vẫn thường đạp xe đến nhà tôi chơi. Cái căn nhà cấp bốn dột nát chật hẹp của gia đình tôi hồi đó lúc nào cũng ấm áp bởi những người bạn văn chương của bố tôi. Còn nhớ, hôm nào có ông đến chơi là bố tôi lại bảo mẹ ra chợ mua một rổ khoai lang về luộc và không thể thiếu một bát cà muối ròn tan. Ông bảo khoai lang ăn với cà pháo là nhất, nó gợi cho ông nhớ về quê hương. Phải rồi, với những người con xứ Nghệ như ông và bố tôi thì món ăn dân dã của quê hương còn là món ăn mang tính tinh thần. Trong mỗi gia đình ở xứ Nghệ, nhà nào cũng phải có một vại cà muối đặt ở góc bếp hay góc sân. Quanh năm, trong mỗi bữa cơm đều không thể thiếu bát cà muối. Có thể nói đó vừa là món ăn bình dân nhưng cũng vừa là món ăn quý tộc của người Nghệ. Bên rổ khoai lang với bát cà pháo, ngoài chuyện văn chương ông rất hay kể những câu chuyện dân gian ở quê ông cho mọi người cùng nghe, đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ, như chuyện Cố Bợ, chuyện núi Hai Vai…mà sau này ông đều viết thành sách. Ông có giọng nói nhẹ nhàng rủ rỉ, ấm áp khiến cho người nghe phải lắng lại cùng với câu chuyện của mình. Mỗi khi ông đến chơi là tôi lại sà vào lòng và thế nào cũng nhận được vài cái véo yêu của ông.

Sau này lớn lên, ấn tượng của tôi về ông còn là một bài thơ tình rất hay của ông được học sinh sinh viên truyền nhau chép vào sổ tay. Đó là bài Thu về một nửa, trong đó có những câu thơ khién cho những trái tim yêu đương thổn thức đến nao lòng:

Anh cầm trên tay giọt nắng vàng tươi
Lá lốm đốm thu mới về bỡ ngỡ
Một nửa màu xanh còn ấm nhựa
Cuống lá run run lưu luyến đậu trên cành

Những câu thơ mang tính ẩn dụ thật lãng mạn và tài tình khác hẳn với sự mộc mạc nhưng sâu sắc mà ta vẫn thường thấy trong thơ ông. Những câu thơ như càng chứng minh một điều, tình yêu đâu có phân biệt tuổi tác, người lớn tuổi cũng giống như các cô cậu mới lớn, cũng bối rối, cũng vụng về cũng lúng túng, cũng xao xuyến.

Mới đây, khi tôi đến thăm ông tại nhà riêng ở khu Yên Hoà, một ngôi nhà sang trọng có thang máy, ông vẫn nhanh chóng nhận ra tôi. Ông hỏi thăm từng người trong gia đình, thậm chí ông hỏi thăm cả những người mà ông đã từng gặp ở nhà tôi trước đây. Bản chất con người ông là vậy, sâu sắc và tình cảm.

Bên cạnh chiếc giường của ông là một cái bàn với rất nhiều sách báo xếp chồng trên đó. Tôi hỏi ông:

- Bác vẫn làm việc được à?

- Bác chỉ thỉnh thoảng đọc thôi, tay yếu đâu có viết được nữa. Không còn làm việc được buồn lắm cháu ạ. Chẳng thà ông trời cho mình chết đi còn hơn sống mà không được làm việc. – giọng nói của ông vẫn rủ rỉ nhưng có hơi run run.

- Thôi bác ạ, ai rồi cũng có lúc già yếu. Làm gì có ai thoát khỏi cái quy luật đó đâu. Cả một đời cống hiến cho văn chương như bác cũng là đáng kính nể rồi. Cũng để lại chút gì cho đời và cho nền văn học rồi bác ạ.

Tôi nhìn lên bàn làm việc của ông thấy cuốn sách “Địa chí văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh” của Nguyễn Đổng Chi được đặt ngay ngắn, ở giữa có kẹp một tờ giấy để đánh dấu trang sách mà ông đang đọc. Còn ông thì nhìn xa xăm ra ngoài khung cửa sổ của căn phòng ở tầng hai. Cuộc sống hàng ngày của ông giờ đây hầu như chỉ vỏn vẹn trong căn phòng nhỏ và ô cửa sổ để nhìn ra thế giới bên ngoài. Phía bên trong khung cửa sổ là một cuộc sống tĩnh lặng nhưng đầy chiêm nghiệm. Còn bên ngoài kia là một thế giới sôi động, đầy sắc mầu không ngừng trôi. Đó là một thế giới có nhiều yêu thương nhưng cũng đầy bất trắc mà ông đã từng trải nghiệm bằng cả máu và nước mắt với gần trọn đời mình. Dường như mấy chục năm qua, gương mặt ông không có nhiều thay đổi, chỉ có mái tóc là bạc trắng, nay vì ốm yếu nên cắt ngắn cho gọn. Thật kì lạ, gương mặt hồn hậu của ông luôn tạo cho người đối diện một cảm giác tin cậy và gần gũi nhưng luôn ẩn chứa một nỗi buồn xa xăm. Một nỗi buồn trong suy tưởng mà ông cất giữ bằng chiếc khoá thời gian. Cũng phải thôi, cuộc đời này có ai là không có nỗi buồn. Và tôi chợt nhớ đến một câu hát của Trịnh Công Sơn: “Tin buồn từ ngày mẹ cho mang nặng kiếp người”. Có thể với những tâm hồn nghệ sĩ thì nỗi buồn ám ảnh nhiều hơn, nó còn là nguồn nuôi dưỡng cảm hứng sáng tác cho họ, bởi ai đó cũng đã nói rằng, nỗi buồn là mẹ đẻ của thi ca. Tôi cũng tin rằng, nếu ai đó sống một cuộc đời không biết đến buồn đau thì chắc hẳn đó là một cuộc đời rất tẻ nhạt. Còn với nhà thơ Võ Văn Trực, ngay cả khi cười, ta vẫn có thể thấy nỗi buồn phảng phất trên gương mặt ông. Trong mỗi một kiếp người có biết bao buồn đau, mất mát mà ta phải trải qua. Và trong cái xã hội mà chúng ta đang từng ngày phải đương đầu và nếm trải này có biết bao những điều ngang trái, bất an đang diễn ra, đang rình rập từng phút từng giây khiến ta phải lo âu, suy nghĩ. Huống chi với một trái tim đa sầu đa cảm như nhà thơ Võ Văn Trực không thể không nhức buốt, không rung lên da diết theo từng nhịp đập đó của cuộc đời. Những nỗi buồn cứ chất chứa trong ông và ông cất giấu. Những nỗi buồn không làm ông gục ngã. Ông cũng không lãng quên chúng mà đem khâu nó lại, bện chặt nó lại như hành trang để tiếp tục đương đầu với cuộc đời, cùng buồn cùng vui trên những chặng đường tiếp theo. Và mỗi khi một mình đối diện với nỗi buồn, ông lại tìm đến thơ, như tìm đến một người tri kỉ, thuỷ chung trọn đời.

“Tiếng mèo kêu xé ngang đêm
Vàng thu lá động trước thềm gọi đông
Chuyện đời bao nỗi đục trong
Câu thơ đáy chén tận cùng buồn vui
Mảnh trăng rụng xuống bên trời
Mùa thu đã chết tuyệt vời trong ta”

               -Đêm cuối thu-

Hay trong bài “Nhà tôi” thì nỗi buồn đó được cụ thể hoá như một bức tranh về cái xã hội mà chúng ta đang sống. Ở giữa đám đông ông tự cô lập mình, để mà cảm, để mà đau với những cái mà người đời đang hả hê, tung hô. Đó là sự cô lập có lương tri của một người nghệ sĩ:

“… Cuộc đời nhí nhố vây quanh
Nửa quê kệch, nửa thị thành đan nhau
Khi buồn ngắm chiếc thuyền câu
Khi vui lại ngắm nhà cao nắng đầy

Cuộc đời dở tỉnh dở say
nửa kia điện sáng nửa này sương dăng,
Bia trào bọt phía cao tầng
Bờ hồ con đĩ tụt quần nằm chơi.

Cuộc đời dở chuột dở dơi
Nửa bóng tối, nửa mặt trời nhá nhem
Hai tờ sách mở hai bên
Tôi nằm ở giữa khâu bền sợi đau”

                                -Nhà tôi-

Trong lúc trò chuyện, tôi bảo ông kể về những thăng trầm trong cuộc đời, bởi tôi muốn có những chi tiết để làm nên thân phận của một nhà thơ như ông, cho bài viết của mình. Ông chỉ lặng yên, nhìn ra ngoài khung cửa. Bỗng ông quay lại nhìn tôi, rồi lại rủ rỉ kể những câu chuyện về quê hương, về tuổi thơ của ông. Trong câu chuyện đó tôi nhìn thấy ánh mắt ông sáng lên, giọng nói của ông linh hoạt hẳn lên, chốc chốc lại nở một nụ cười. Và cứ như thế ông say sưa kể lại những kí ức của sáu, bảy chục năm về trước. Tôi chợt hiểu ra rằng khi con người ta đã bước vào cái tuổi gần đất xa trời thì mọi kí ức đều có thể trở thành vô giá nhưng cũng có thể trở thành vô thường. Khi đứng trước cái ranh giới đó thì ta phải biết cân bằng chính mình. Kể từ phút đó tôi không hỏi thêm gì nữa mà chỉ ngồi nghe ông kể lại những chuyện gì mà ông ghi nhớ, muốn chia sẻ với người khác.     Ông bảo, quê hương chính là thượng nguồn của mọi cảm xúc trong suốt cuộc đời cầm bút của mình. Trong câu chuyện, ông đã đưa tôi về với cái làng Hậu Luật, mảnh đất chôn nhau cắt rốn của ông. Ở cái làng Hậu Luật đó có ngôi đền Bạch Y, có đình Trung, có ngôi mộ cổ rộng cả mẫu đất của cụ Hùng Lễ Bá Võ Phúc Tuy, một danh tướng của Lê Lợi, người dân làng ông vẫn gọi là mộ cụ Hùng, có cánh đồng Lao, có đồi Di Lĩnh, có cổng làng rêu phong, có con đường gạch mà ngày trước cụ nghè đã bái tổ vinh quy. Ông lại kể cho tôi nghe về ngọn núi Hai Vai, con sông Bùng trong xanh với bao truyền thuyết, kể về cây đa, cây muỗm của làng Hậu Luật có hàng mấy trăm năm tuổi. Ông say sưa kể về người bạn nối khổ từ thuở mục đồng có tên là Bá; những đêm theo chúng bạn đi hát đối hát dặm trong làng và ở các làng lân cận. Ông bảo, ông mê mẩn những làn điệu dân ca, những câu hò, vè, ca dao, tục ngữ quê mình. Mê đến nỗi, khi được địa phương cho đi học ngành ngân hàng ở Trung Quốc, ông đã từ chối vì không muốn xa quê hương, không muốn phải rời xa những làn điệu dân ca, hò vè mà ông vẫn nghe, vẫn hát hàng ngày. Ông cười tươi và bảo đó là cái may mắn đầu tiên của ông. Bởi nếu không sau này, ông đã trở thành một cán bộ ngân hàng rồi. Còn điều may mắn thứ hai của ông, đó là sau khi tốt nghiệp trường Đại học Tổng Hợp, ông được nhận về làm việc ở Bộ ngoại giao. Sau khi làm việc ở đó được một năm, cảm thấy công việc không phù hợp với mình nên ông  đã xin chuyển. Có nhiều người bảo ông là gàn là dại. Cũng có thể bây giờ thành một ông to nào đó rồi cũng nên. Nhưng với ông thì đó là may mắn. Những người thân, bạn bè làng Hậu Luật cũng bảo đó là may mắn. Nhờ vậy mà làng Hậu Luật mới có một  nhà thơ Võ Văn Trực.

Chỉ cách đây khoảng 3 năm thôi, năm nào ông cũng về quê ba bốn lần, sau này yếu thì mỗi năm một lần. Cho đến hồi đầu năm nay, khi bị tai biến, ông không còn đủ sức để được về với làng Hậu Luật thân yêu của ông nữa, điều đó làm cho ông buồn và day dứt. Ông kể, cách đây độ sáu, bảy năm, ông mua chục cái quần soóc và chục cái mũ lưỡi chai, để mang về quê tặng mỗi người bạn từ thuở chăn trâu cắt cỏ một bộ. Rồi, họ cùng mặc bộ đồng phục đó để gặp gỡ nhau, đi chơi khắp xóm làng, vui vẻ hồn nhiên như thuở thiếu thời vậy. Chính vì nặng nợ với quê hương như vậy mà hình ảnh quê hương cứ đi vào trong các tác phẩm của ông một cách tự nhiên và mộc mạc. Bạn bè văn chương gọi ông là người có nhiều trang viết về quê hương nhất trong Hội Nhà văn Việt Nam. Rồi sau này, trải qua những năm tháng biến cố của lịch sử, mà đã từng được cho là “đổi mới” “cải cách” của chính quyền, cái làng Hậu Luật của ông đã bị tàn phá nặng nề. Đến mức, sau đó, ông không dám về làng khi trời còn đang sáng, mà phải chờ trời tối mịt mới dám bước chân qua cổng làng. Ông bảo, thời đó, họ dồn hết Thánh, Thần, Phật…tập trung vào một nơi thờ cúng, để còn lấy chỗ làm kho chứa. Ngay cả đến ngôi mộ cổ của cụ Hùng mà dân làng vẫn thờ cúng bao đời nay cũng bị đào lên cùng hàng trăm ngôi mộ của bà con để rồi chôn chung vào một chỗ. Một cảm giác đau xót, ớn lạnh chạy dọc sống lưng khi ta đọc bài Lưu lạc giữa quê nhà của ông:

Một khoảng trời bỗng hoang vắng cô đơn
Khi cây muỗm đầu làng không còn nữa
Lòng tôi cũng bơ vơ cùng tiếng gió
Thổi về đâu mây trắng dạt trời xa

Một mùa đông bỗng xô về hiu hắt
Khi đã tan hoang miếu mạo đình chùa
Đồ tế khí ngả nghiêng thành gỗ nát
Cuốn gia phả tả tơi thành bụi cát
Mấy chục năm lưu lạc giữ quê nhà.

Một làng vui bỗng lạnh tựa tha ma
Khi tiên tổ ông bà không còn mộ
Mồ côi cả đất đai và ngọn cỏ
Lũ chim non khản giọng lạc bài ca
Mấy chục năm lưu lạc giữa quê nhà.

Tôi quỳ sụp cổng làng, đầu cúi xuống
Chắp tay lạy nhưng ngôi mồ tưởng tượng
Nghìn vong linh ám ảnh cả làn da
Trái tim nhỏ tụ về muôn giọt máu
Mấy chục năm lưu lạc giữa quê nhà.

Có gì như đau đớn, có gì như uất nghẹn, có gì như hối tiếc tự thẳm sâu, nhưng tất cả đã quá muộn rồi. Than ôi lũ chim non khản giọng lạc bài ca mất rồi.

Trong cái biến cố khủng khiếp đó, ông cũng phải chịu một nỗi đau là mất mộ mẹ. Sau này, mỗi lần về quê, ông lại đốt một bó hương thật to, rồi cứ lang thang khắp cánh đồng để cắm hương và khấn nguyện mẹ mình trong đau thương và trong nước mắt. Chính từ nỗi đau đó ông làm bài thơ “Tìm mộ mẹ”, một trong những bài thơ hay nhất, đau buồn nhất của ông, khiến cho bất kì người đọc nào cũng có thể bật khóc:

“Mẹ mới khuất mười năm, không còn mộ
Con đi tìm, dẫm nát cỏ đồng quê
Nén hương khấn mười năm không tắt lửa
Mẹ nơi đâu? Xin hãy gọi con về.

Mất mồ mẹ con lang thang tìm kiếm
Như đứa con hoảngày rạc tả tơi
Chiếc thuyền nhỏ lênh đênh trùng song biển
Bến bờ nao con định hướng cuộc đời?

Canh cánh mãi bên lòng đau xé ruột
Giữa chiêm bao giấc ngủ nặng như chì
Mơ thấy một tay ôm vầng cỏ mọc
Mở mắt ra chăn gối ướt đầm đìa

Trên trần thế mười năm con phiêu dạt
Đất nơi đâu cũng thấy mẹ đang chờ
Hài cốt mẹ suốt mười năm lưu lạc
Con đốt trầm lạy bốn hướng vu vơ…”

Có thể nói đó là một bức tranh đen tối của một thời ngu muội. Một thời kì cần phải lãng quên trong thùng rác của lịch sử.

Trong chốc lát, ông im lặng nhìn tôi, rồi lại nhìn quanh căn phòng của mình như muốn kiếm tìm một điều gì đó. Lúc này tôi mới để ý, bên dưới tủ sách đồ sộ của ông, có rất nhiều báo cũ, tài liệu, bản thảo được ông xếp thành hai hàng dài, ngay ngắn trên nền gạch. Những tờ báo cũ, những trang bản thảo bằng giấy pơ luya đã ố màu thời gian vẫn được ông cất giữ nâng niu. Rồi ông đứng dậy, từ từ đi lại cái tủ sách. Tôi định dìu ông lại đó, ông bảo: “Để bác tự đi được”. Ông rút ra mấy quyển sách đem lại tặng tôi. Có thể nói, nhà thơ Võ Văn Trực có một sức lao động rất đáng nể. Kể từ khi nghỉ hưu ông đã sáng tác hàng mấy trăm bài thơ, độ dăm cuốn tiểu thuyết, ngoài ra còn có những cuốn khảo cứu, sưu tầm về văn hoá dân gian. Đọc tác phẩm của Võ Văn Trực, ta có thể thấy được phần nào con người ông, thời đại ông đang sống ở trong đó. Những đau thương mất mát, vui buồn trong đời ông, những ngang trái bất công của xã hội cứ ăm ắp trong tác phẩm của ông đã chạm đến trái tim người đọc. Sau khi tặng sách cho tôi, ông bảo: “Kể từ khi bác bị ốm. Anh em báo Văn Nghệ đến thăm nhiều lắm. Mọi người chu đáo lắm”. Tôi thầm nghĩ bụng, một con người hiền lành và nhân ái như ông thì làm sao mọi người có thể không nhớ đến được kia chứ. Kể từ lúc nghỉ hưu cho đến cách đây độ hai, ba năm thôi, năm nào ông cũng tổ chức một bữa cơm vào dịp gần tết, rồi gọi tất cả đám thanh niên báo Văn Nghệ đến để liên hoan. Đối với cánh thanh niên của báo Văn Nghệ, ông vừa là một thủ trưởng cũ, vừa như người cha, chú và cũng như một người bạn. Bởi khi còn là Phó tổng biên tập báo Văn Nghệ, ông luôn luôn chan hoà, gần gũi, sẻ chia và nâng đỡ cánh trẻ.

Kể từ ngày nghỉ hưu ông tránh xa mọi cuộc hội hè đoàn thể. Mọi thứ công danh đều trở thành vô nghĩa, chỉ còn lại cái tình tri kỉ với một số bạn bè, với văn chương mà thôi:

Bạn bè tan tác cả rồi
Còn dăm ba đứa ta ngồi với nhau
Lẽ đời thấu hết nông sâu
Chén vui chưa cạn chén đau đã đầy
Một lời tỉnh hai lời say
Nồng nàn bằng hữu chua cay nhân tình
Thôi thì mình tự yêu mình
Vứt cha cái bả công danh mà về
Chính trường càng ngẫm càng ghê
Lưỡi tê vị đắng tay tê chén cầm
Nhìn nhau nước mắt ướt đầm
Giọt vui nâng chén, giọt bầm ruột gan.

                              -Uống rượu với bạn-

Rồi thỉnh thoảng lại thấy ông lóc cóc đạp cái xe đạp mi ni đến thăm một số bạn bè cũ. Khi đã đi gần hết cuộc đời, nhìn lại chặng đường đa qua, nhìn lại những được và mất trong cuộc đời, con người ta mới sực nhận ra rằng cuộc đời này vốn rất giản đơn, nhận diẹn trắng đen cuộc đời bằng cái cười mỉm, nhận diện thế thời bằng nỗi chua cay:

Một cành cây gẫy
Thảng thốt cánh chim

Một luồng gió độc
Bóp chết ngọn đèn

Một tiếng chó sủa
Bóp nát bình yên

                    -Đêm-

Với hàng nghìn trang sách viết về quê hương, viết về người thân ruột thịt, về bạn bè ở cái làng Hậu Luật có lẽ nên gọi ông là Người của làng. Bởi trái tim ông luôn hướng về mảnh đất quê hương, vui buồn vì nó. Ngay cả khi đau yếu này ông vẫn luôn nghĩ về nơi ấy. Và tôi xin được kết thúc bài viết này bằng câu thơ của ông:

“Tình cốt nhục, nghĩa lân bang
Quý hơn gấp triệu lạng vàng cầm tay”
TRẦN VŨ LONG
(VĂN NGHỆ)

 ______________________________


Nhà thơ Võ Văn Trực sinh ngày 28/1/1936 tại làng Hậu Luật, xã Diễn Bình, huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ An. Năm 1958 ông ra Hà Nội học đại học. Sau khi tốt nghiệp đại học, ông đã xác định theo đuổi con đường văn chương. Dù ông từng được Bộ Ngoại giao nhận về nhưng cuối cùng vẫn xin được chuyển sang làm việc tại một cơ quan văn hoá. Năm 1962, ông về làm biên tập viên tại Nhà xuất bản Thanh niên. Đến năm 1977, ông về làm việc tại báo Văn nghệ cho đến lúc nghỉ hưu.

Cầm bút từ những năm sáu mươi, ông viết nhiều thể loại: thơ, văn, bút ký và biên khảo. Võ Văn Trực là tác giả nhiều tập thơ trong đó có Trăng phù sa, được giải thưởng Hội văn nghệ Hà Nội năm 1983. Ngoài thơ, bạn đọc còn biết đến Võ Văn Trực với những tác phẩm viết về quê hương, như tập bút ký Truyền thuyết núi hai vai, hay cuốn tiểu thuyết Chuyện làng ngày ấy viết năm 1990, được nhà xuất bản Lao động tái bản tại Hà Nội năm 2005, đã gây ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc.

Một số tác phẩm chính: Chú liên lạc đội Xích vệ (1972), Trận địa quê hương (1972), Người anh hùng đất Hoan Châu (1976), Ngày hội của rạng đông (1978), Hành khúc mùa xuân (1980), Trăng phù sa (1983), Tiếng ru đồng nội (1990), Hương trong vườn bão (1995)

Ông cũng đã được trao nhiều giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam và các Hội văn nghệ, các cuộc thi sáng tác: Giải thưởng Hội văn nghệ Hà Nội năm 1983 với tập thơ Trăng phù sa; Giải thưởng Bộ Giao thông Vận tải 1987 với tập bút ký Đèo lửa đèo trăng…

Trước khi nghỉ hưu, nhà thơ Võ Văn Trực là Phó Tổng biên tập báo Văn nghệ. Có thể gọi nhà thơ Võ Văn Trực là người điển hình cho tính cách người xứ Nghệ: hiền lành, thủng thẳng nhưng gàn và cục tính. Ông cương trực như chính cái tên cha mẹ đặt cho mình, luôn thẳng thắn và quyết liệt đấu tranh với những thói rởm đời dù ông hoàn toàn nhận thức được rằng, sự đấu tranh đó không phải lúc nào cũng mang lại cho ông những điều may mắn.

Về nghỉ hưu, nhưng nhà thơ Võ Văn Trực vẫn không rời trang viết. Ông viết về quê hương, về những chiêm nghiệm của cuộc đời. Song tuổi già, sau lần tai biến cứ dần nuốt chửng trí nhớ và sức lực của ông. Ông không nhớ gì nhiều, khoảng ký ức đậm nét nhất là hình bóng quê nhà, ở làng Hậu Luật, xã Diễn Bình, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Ở đó có con sông, bến đò quê hương, có cả một tuổi thơ ngập tràn trong tiếng đùa nghịch của ông và chúng bạn thời thơ ấu...

Nhà thơ Võ Văn Trực từ trần hồi 2h42 phút sáng thứ sáu ngày 5/4/2019, thọ 84 tuổi.

Tang lễ nhà thơ được tổ chức từ 9h15 đến 11h ngày thứ ba, mồng 9 tháng 4 năm 2019, tức ngày mồng 5 tháng 4 năm Kỷ Hợi tại Nhà tang lễ Bệnh viện Thanh Nhàn quận Hai bà Trưng, Hà Nội.

Tin bài khác:

·         Nỗi oan của môn Văn
·         Nhà văn làm nghề gì?
·         Thân thương lá chuối



Nhà văn Thùy Dương: Trăn trở với mỗi thân phận Người

Nếu không biết Thùy Dương sinh ra và lớn lên ở Hải Dương, sẽ đoán   chắc nàng là người Hà Nội gốc. Gọi là nàng v ì nàng không chỉ xinh đẹp, ...