Chủ Nhật, 28 tháng 7, 2019

Diện mạo thơ Việt đầu thế kỉ XXI

Giờ đây, khi nhìn lại, chúng ta thấy thế kỉ XX là một thế kỉ đầy những biến động to lớn của văn học Việt Nam nói chung, thơ ca Việt Nam nói riêng. Biến động về hệ hình văn học với sự chuyển đổi từ mô hình văn học trung đại sang hiện đại. Biến động về đội ngũ tác giả. Sau thế hệ “những người muôn năm cũ” với những Tản Đà, Á Nam Trần Tuấn Khải là thế hệ Thơ mới, thế hệ nhà thơ thời kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ, trong chiến tranh biên giới và rồi tiếp đến thế hệ nhà thơ sinh ra trong hòa bình, độc lập. Biến động về thể loại. Nhiều thể loại đã lui vào ở ẩn trong tháp ngà như Đường luật, song thất lục bát, nhường chỗ cho thơ tự do, trường ca… Trở lại với thực tại, ở cuối thập niên thứ hai của thế kỉ XXI, chắc hẳn sẽ có nhiều người tự hỏi, vậy diện mạo thơ Việt hiện tại ra sao? Đây là một câu hỏi lớn, rất lớn. Trong khuôn khổ của một bài viết, chắc chắn không thể giải đáp hết được. Dưới đây, chúng tôi chỉ trình bày những nét khái lược nhất.
Từ trái sang, các nhà thơ: Trầm Hương, Phan Hoàng, Bang Hyun Suk, Văn Lê, Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Vũ Quỳnh, Phùng Hiệu tại Hội thảo quốc tế “Triển vọng Giao lưu Văn học Việt - Hàn” tổ chức ở TP Hồ Chí Minh 12-2017

1. Thơ Việt những năm đầu thế kỉ XXI đánh dấu sự quay trở lại của cảm hứng dân tộc, khuynh hướng sử thi. Sau mấy thập kỉ phát triển rực rỡ với nhiều thành tựu, sang thập niên 80 của thế kỉ trước, đặc biệt khi bắt đầu thời kì Đổi mới, hiện thực đất nước thời mở cửa với bao bộn bề, lo toan, đói nghèo và lạc hậu đã khiến cảm hứng dân tộc, khuynh hướng sử thi trở nên lạc điệu. Thơ trở về đời thường với cảm hứng thế sự, đi sâu vào thế giới nội tâm nhỏ bé của con người… Đến cuối thế kỉ XX, ít ai còn nói đến cảm hứng dân tộc, thậm chí có người bắt đầu “soạn” lời cáo chung cho khuynh hướng sử thi. Nhưng đến cuối thập niên đầu tiên của thế kỉ XXI, cảm hứng dân tộc có xu hướng trở lại mạnh mẽ. Điều này có nguyên do từ những tác động của hiện thực đất nước. Việc chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc bị đe dọa đã thổi bùng lên chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc, ý chí bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc trong trái tim, trí óc người dân Việt nói chung, các nhà thơ nói riêng. Và như loài phượng hoàng bất tử, vụt bay lên tái sinh từ tro tàn, cảm hứng dân tộc, khuynh hướng sử thi đã trở lại một cách ngoạn mục, nhất là trong các thi phẩm viết về biển, đảo quê hương.

Trong thơ viết về biển đảo, hai địa danh thường xuyên được nhắc đến nhất là Trường Sa và Hoàng Sa. Trường Sa - cái tên thôi cũng đủ thấy sự xa xôi, cách trở. Cứ tưởng Trường Sa chỉ có sóng và gió, cứ tưởng Trường Sa chỉ có đảo đá khô cằn. Nhưng không, Trường Sa trong thơ thật gần gũi, máu thịt, ở đó tiếng chuông chùa thân thuộc vang xa thật bình yên: Hình như tiếng chuông chùa Hoàng Phi thì phải/ Phật linh thiêng không quản nơi xa ngái/ Vượt biển độ trì cho dân đảo cầu an (Cổ tích thời @ - Võ Thị Kim Liên), và tiếng hát trẻ thơ ngoài Trường Sa mà như nghe ở làng quê bên sông Hồng, sông Hậu (Nghe trẻ hát ở Trường Sa - Ngô Minh). Còn nhắc đến Hoàng Sa, mỗi lần nhắc là một lần nhói buốt. Cái tên đó cứa vào lòng người Việt nỗi đau về một vùng chủ quyền bị lấy mất, chạm đến khát vọng khắc khoải một ngày đòi lại được mảnh đất của cha ông: Mộ gió đây/ những phút giây biển lặng/ gió là tay ôm ấp bến bờ xa/ chạm vào gió như chạm vào da thịt/ chạm vào/ nhói buốt/ Hoàng Sa… (Mộ gió - Trịnh Công Lộc). Bài thơ được gợi cảm hứng từ những ngôi mộ gió trên đảo Lý Sơn. Từ xưa đến nay, bao người con đất Việt đã không ngại hi sinh để bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Thân xác họ chìm sâu dưới đáy đại dương nhưng khát vọng giữ gìn biển đảo quê hương của họ như đã hòa vào gió, vào sóng. Mọi ánh nhìn vẫn đang đau đáu về hướng đó với nỗi khắc khoải chưa bao giờ nguôi: Nếu Tổ quốc đang bão giông từ biển/ Có một phần máu thịt ở Hoàng Sa (Tổ quốc nhìn từ biển - Nguyễn Việt Chiến).

Khi chủ quyền biển đảo bị đe dọa, ngay lập tức lòng yêu nước, tinh thần xả thân vì lãnh thổ trọn vẹn của đất nước lại bừng trỗi dậy mạnh mẽ: Biển của mình thì mình đem máu xương gìn giữ/ Biển của mình thì mình phải ra khơi/ Buồm căng lồng ngực bạn chài ngân vang câu hát/ Đây biển Việt Nam/ Đây hồn Việt Nam/ Tổ quốc trào dâng cùng biển trời bát ngát (Vọng Hải Đài - Bùi Công Minh). Giọng thơ khi thủ thỉ, khi thúc giục như một lời hiệu triệu. Hình ảnh những người dân chài ra khơi bám biển, không chỉ vì mục đích mưu sinh mà còn để bảo vệ vùng biển đảo thiêng liêng thật mạnh mẽ hào hùng, như hình ảnh những người tráng sĩ hiên ngang ra trước sóng gió. Đó cũng là tư thế của cả dân tộc - một dân tộc có truyền thống bất khuất, kiên cường chống giặc ngoại xâm. Hãy lắng nghe lời tuyên thệ của người lính hải quân: vì Tổ quốc/ chúng tôi là cột mốc/ chúng tôi là trận địa tiền duyên/ chúng tôi là lá chắn/ chúng tôi là bệ phóng/ chúng tôi là chốt chặn xâm lăng (Chúng tôi ở Trường Sa - Nguyễn Hữu Quý). Nó gợi đến lời thề “Sát Thát” trong trận chiến chống Nguyên Mông, lời thề “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” trong kháng chiến chống Pháp, là âm vang hào khí anh dũng của dân tộc mấy nghìn năm chống ngoại xâm.

Trong thơ viết về biển đảo từ xưa đến nay, người lính hải quân luôn là biểu tượng đẹp đẽ của lòng dũng cảm, tinh thần xả thân vì Tổ quốc. Những vần thơ xúc động nhất là những vần thơ nói về sự hi sinh của các anh. Nguyễn Hữu Quý đã tái hiện kí ức về những đoàn tàu không số, tái hiện những hải trình khốc liệt chi viện cho miền Nam, tái hiện những chuyến đi không hẹn ngày trở về của người lính hải quân năm xưa bằng những câu thơ dữ dội: Trong mơ các anh về/ từ những con tàu đã ngủ quên dưới đáy biển/…/ những hành trình nương vào bão tố/ để che mắt quân thù/…/ lỗ chỗ vết đạn găm/ trục vớt lên những mùa đông/ lặng im cảm tử/ trục vớt lên những mùa xuân không hoa đào nở/ ngổn ngang trời, ngổn ngang biển mây bay (Hạ thủy những giấc mơ). Nguyễn Việt Chiến dựng lại phút giây bi tráng khi người lính lấy thân mình bảo vệ lá cờ trên đảo Gạc Ma: hi sinh ở đảo đá Gạc Ma/ Họ đã lấy ngực mình làm lá chắn/ Để một lần Tổ quốc được sinh ra/ Máu của họ thấm vào lòng biển thẳm (Biển là nơi Tổ quốc sinh ra). Ở một hướng tiếp cận khác, nhà thơ Nguyễn Trọng Văn lại viết về nỗi đau trong thời bình. Khi mọi người đang có cuộc sống bình yên nơi đất liền thì ngoài kia, biển khơi tiếng sóng ầm ào hát ru người chiến sĩ hải quân vào giấc ngủ ngàn năm: Quấn chặt lá cờ/ Vào sát ngực mình/ Bên phía trái tim/ (Vật duy nhất còn lại trên nhà giàn - 2A/DK1/6)/ Đại úy Vũ Quang Chương/ Gồng mình/ Hít hơi thở cuối/ Anh mỉm cười thấy đồng đội đã xuống tàu cứu hộ an toàn/ Anh mỉm cười…/ Một con sóng chồm lên/ Cờ Tổ quốc còn nguyên bên ngực/ Chỗ anh đứng/ Sóng liên hồi kì trận/ Sóng liên hồi/ Từng đợt lại chồm lên/ Anh mỉm cười/- Đâu cũng quê hương/ Biển thẳm sâu, ru anh vào giấc ngủ... (Tổ quốc - đường chân trời). Những người lính ấy, họ đón nhận cái chết một cách tự nguyện và thanh thản. Hình ảnh những người lính lấy thân mình che chắn cho lá cờ Tổ quốc trên đảo Gạc Ma, hay hình ảnh người lính quấn lá cờ quanh mình trước khi phong ba ập xuống nhà giàn là biểu tượng của tình yêu nước bất tử. Hi sinh cho những gì thiêng liêng và cao cả, đó không chỉ là mất mát, đó còn là niềm tự hào.

Bên cạnh những vần thơ về biển đảo quê hương, cảm hứng dân tộc, khuynh hướng sử thi còn xuất hiện trong nhiều trường ca viết về đất nước dặm dài. Trường ca Bước gió truyền kì của Phan Hoàng là một câu chuyện truyền kì về công cuộc mở cõi và giữ nước của dân tộc, đưa người đọc vào một hành trình kì lạ, vừa thực vừa mơ để khám phá những vẻ đẹp của văn hóa, khí phách và ý chí của dân tộc với nhiều cung bậc cảm xúc thẩm mĩ khác nhau. Trải qua hàng ngàn năm, để mảnh đất hôm nay mang hình chữ S, để có chủ quyền trên hải đảo xa xôi là công sức mở cõi của hàng triệu người con đất Việt, hữu danh và vô danh: Ơi lớp lớp người người/ hiên ngang đôi cánh ước mơ chim Việt/…/ Bước gió vó ngựa uy phong Lê Thánh Tôn…/ Bước gió Nguyễn Hoàng/ bước gió Lương Văn Chánh/ bước gió Nguyễn Hữu Cảnh/ bước gió những đoàn quân vô danh/ bước gió những lưu dân vô danh/ bước gió những nghệ sĩ vô danh/ bước gió những mĩ nữ vô danh…/ nhập hồn xóm làng/ nhập hồn sông suối/ nhập hồn núi rừng/ nhập hồn biển đảo… Mỗi một tấc đất đều được đổi bằng máu: máu/ máu/ máu/ mở cõi/ máu/ máu/ máu/ giữ nước. Đã một thời gian dài, trong thơ Việt, người đọc chưa bắt gặp những câu thơ mang âm hưởng tráng ca như thế.

Trường ca Long mạch của nhà thơ Hoàng Trần Cương được cấu trúc thành 11 chương: Khấn thầm, Huyết thống, Nết đất, Hồn sông, Mạch chủ, Thác ghềnh, Quỷ nước, Sấp ngửa, Sông và em, Vía biển, Thế núi, với những hô ứng liên hoàn, thắt mở đầy mê dụ để chỉ khí và thế của đất đai sông núi. Long mạch trước hết là niềm tự hào về thế địa linh của Tổ quốc với núi với sông, đất liền và biển cả: Cứ như là rủ nhau/ Nguồn mạch đất đai nổi chìm đứt nối/ Đứng là núi/ Chảy là sông/ Mênh mông là biển/ Dài rộng đất liền/ Quây bờ xẻ bếnLong mạch cũng là nơi nảy sinh bao điều tốt đẹp, là xứ sở của những người lao động khéo léo và quả cảm: Năm tháng chảy/ Đan tơ dệt lụa/ Hãm thác ghềnh/ Gói bọc đất đai, xứ sở của tình yêu và lòng bao dung: Thành lứa/ Thành đôi/ Vun bồi đắp đổi/ Ngày một ngày hai trổ nụ vươn cành/ Nối li tán/ Ngấm ngầm tụ hội. Long mạch đâu chỉ là thế núi hình sông của đất nước mà còn là vóc dáng tinh thần, tâm hồn của dân nước. Trải qua bao thăng trầm lịch sử, vóc dáng, tâm hồn ấy vẫn lưu truyền, hun đúc nên bản lĩnh của thế hệ hôm nay: Mang dòng chảy/ Chở ngọn nguồn/ Đầy bị/ Ngày đi/ Đêm đi/ Chúng mình đi/ Nước mắt/ Chắt ước vọng/ Nuôi núi sông.

Trường ca Chân đất của Thanh Thảo là những suy cảm của tác giả về quê hương, về Tổ quốc, về nhân dân trong thời cuộc mới. Từ biểu tượng lớn Chân đất tác giả mở ra nhiều hướng để luồng tâm tư trải rộng những vấn đề nhân tình, thế sự qua 9 đoạn thơ với các biểu tượng: Chân tre, Chân ruộng, Chân mưa, Chân núi, Chân cò, Chân tháp, Chân mây, Chân sóng, Chân lũy. Điểm nổi bật nhất trong bản trường ca là những suy ngẫm về nhân dân. Nhân dân nghèo đói nhưng nghĩa tình, nhân dân không gọi nhau “man” này “man” nọ/ nhân dân gọi nhau đồng bào. Từ ngàn xưa, nhân dân đã âm thầm dựng xây đất nước: hình như tổ tiên mình trồng một bụi tre/ trồng một lũy tre/ trồng một rừng tre/ bên dưới thành Châu Sa/ bên dưới Trường Lũy. Và ngày nay, nhân dân đang bền bỉ xây dựng nên Trường Lũy của tình người, của tinh thần bất khuất: cùng mọi người tôi vác đá xây lũy/ cùng mọi người tôi vác tự do vác tình anh em qua lũy/ cùng mọi người tôi ném những trái ngang khỏi lũy/…/ dù chân lũy tới chân trời/ xa lắc chơi vơi/ chúng tôi đi/ dè dặt/ chúng tôi đi/ từng bước. Chân đất là một bản giao hưởng ngôn từ bi tráng và kiêu hãnh về một dân tộc đã đứng lên từ nước mắt và máu để dựng lên nhân cách sống của mình suốt chiều dài lịch sử.

Sự trỗi dậy của cảm hứng dân tộc, khuynh hướng sử thi trong các vần thơ viết về biển đảo quê hương và non sông đất nước đầu thế kỉ XXI đã thể hiện trách nhiệm công dân của các nhà thơ trước những vấn đề trọng đại của dân tộc, qua đó chứng minh chủ nghĩa yêu nước vẫn luôn là một “đại tự sự” xuyên suốt lịch sử thơ ca Việt từ xưa đến nay.

2. Thơ Việt những năm đầu thế kỉ XXI phản ánh những vấn đề quan thiết của nhân loại trong thời đại toàn cầu hóa. Thế kỉ XXI được bắt đầu bằng cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (cách mạng 4.0) diễn ra từ những năm 2000, còn gọi là cuộc cách mạng số chuyển hóa toàn bộ thế giới thực thành thế giới số. Một thế giới số - bản sao của thế giới thực - đã và đang hình thành, thâm nhập vào đời sống của mỗi công dân đương đại. Nền văn minh hậu công nghiệp đem lại cho con người cuộc sống tiện nghi, nhưng mặt trái của nó là nhân loại mải mê với những phát minh, những cuộc chinh phục nên không bao giờ yên ổn: Nhân loại tỉnh thức/ Nhân loại cuồng say tạo dựng, săn lùng và tàn phá/ Nhân loại thức công nghiệp/ Nhân loại thức điện tử/ Nhân loại thức bay ra ngoài trái đất/ Nhân loại thức không bao giờ ngủ được nữa (Giấc ngủ màu xanh - Lương Tử Đức). Sự gấp gáp của nhịp thơ cũng là nhịp sống hối hả của thời đại hậu công nghiệp, đồng thời thể hiện sự hoảng hốt của con người trước một nhân loại không bao giờ ngủ - một ẩn dụ cho sự thiếu cân bằng trầm trọng giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần. Sự trơ lì cảm xúc đã trở nên báo động, như một thảm họa tàn khốc chẳng kém thảm họa thiên nhiên: Người ta đang lí giải El Nino thiên nhiên/ Mà lãng quên một El Nino xoay vần nhân tình thế thái/ Sự tiến hóa làm con người xa nhau hơn/ Thậm chí có ít thời gian để cười và càng ít khóc (Đôi mắt lửa Puskin - Vi Thùy Linh). Sự tiến hóa làm con người xa nhau hơn là một mệnh đề không mới, nhưng khi Vi Thùy Linh viết Thậm chí có ít thời gian để cười và càng ít khóc thì người ta phải ngạc nhiên vì sự già dặn và tinh tế của một cô gái tuổi mới đôi mươi. Trong một bài phát biểu, thiên tài vật lí người Anh Stephen Hawking đã cảnh báo trí tuệ nhân tạo sẽ hủy diệt loài người. Nhưng có lẽ, loài người đã tự hủy diệt mình sớm hơn thế, từ cái ngày mà loài người phá hủy hệ cân bằng sinh thái, từ cái ngày loài người chối bỏ những xúc cảm buồn, vui, yêu, ghét vốn là đặc trưng cao quý của giống loài mình. Những dự đoán về tương lai bất ổn càng ngày càng xuất hiện nhiều trong thơ: Tôi nằm lo một cái gì như thể/ Một tai ương sắp dội xuống phàm trần (Nhớ tiếng mèo ngõ vắng - Ngô Xuân Hội); Giật mình muốn hỏi Thượng Đế/ Ô nhiễm, bão lụt... quá nhiều/ Chẳng hay ngài cho Trái Đất/ Nhiệm kì này còn bao nhiêu? (Trò chuyện với Thượng Đế - Trần Ninh Hồ).

Soi chiếu vào thực trạng đất nước trong thời đại hậu công nghiệp và toàn cầu hóa, các nhà thơ đặc biệt chú ý đến việc phơi bày những mặt trái của xã hội hiện đại. Như trên đã nói, cảm hứng hiện thực trở lại với thơ từ khi kết thúc chiến tranh nhưng chủ yếu đó là hiện thực đói nghèo, lạc hậu. Ngày nay, mặt trái của thời kì đô thị hóa, của thời đại kĩ trị còn khủng khiếp hơn thế: Đồ vật ngày lên ngôi, hư vinh cũng chòi lên/ căn phòng chật tiếng cãi cọ các thế hệ công nghệ/ ti vi siêu mỏng, điện tử thời đại số/ tình cảm hóa thân những cuộc chát và tin nhắn (Đồ vật - Trần Quang Quý). Giàu có về vật chất làm con người nghèo nàn đi về tâm hồn. Con người tách mình ra khỏi thiên nhiên, dửng dưng trước vẻ đẹp của thiên nhiên màu lá non tơ ngoài phòng lạnh (Nhật kí cuối thế kỉ - Tuyết Nga), thậm chí còn hủy hoại thiên nhiên: Đừng hát nữa mà đau/ em ơi Hà Nội phố/ Ôi thôi thôi/ Cây đã về với kiếp tro than/ Người ở lại cùng lời nức nở! (Văn điếu cây Hà Nội- Vương Trọng).

Chạy theo công nghệ, con người bỏ rơi giá trị văn hóa truyền thống: Trăng lang thang ngoài bến sông Hồng/ Tìm lời ru những người mẹ trẻ/ Nhưng lời ru đã chết sau màn hình đa hệ/ Trăng ôm vào lòng đứa trẻ mồ côi (Nỗi buồn đô thị - Nguyễn Trác). Tách ra khỏi những cái nôi nuôi dưỡng tâm hồn, trái tim trở nên khô cằn không thể đón nhận âm vang cuộc sống, trái tim hóa thành vách đá/ tiếng vọng sượt qua/ rơi/ lả tả(Vách đá - Lê Quốc Hán). Thói vụ lợi biến con người thành kẻ vô tình: Tôi quên lãng những bông dạ hương trước một loài hoa hướng dương/ Tôi lãng quên những cây đại thụ khi ngồi trên sập gụ tủ chè (Quên lãng - Nguyễn Tấn Việt) và là kẻ giết người: Một góc phố một hiệu kim hoàn bị phá cửa/ Và trong quán rượu một người say đâm chết một người say (Đoản ca buổi tối - Nguyễn Quang Thiều). Mỗi câu thơ trên là một tiếng nói cảnh tỉnh sự tha hóa, vô cảm của con người.

3. Thơ Việt những năm đầu thế kỉ XXI lặn sâu vào thế giới nội tâm, truy tìm cái tôi cá thể và cái tôi bản thể, khai thác miền tâm linh. Thơ cách mạng vì điều kiện hoàn cảnh không thể là tiếng nói của cái tôi cá thể, càng không thể là tiếng nói của cái tôi bản thể và đi vào những đề tài nhạy cảm như tâm linh, vô thức. Chỉ khi chiến tranh qua đi, đặc biệt là sau Đổi mới, những nhu cầu nói trên mới trở nên mãnh liệt. Thơ Việt những năm đầu thế kỉ XXI đã tiếp tục mạch thơ này vắt sang từ những thập niên cuối của thế kỉ XX.

Cái tôi cá thể hiện nay đang được khẳng định như một giá trị. Đó là nhu cầu ý thức về mình, xác định chỗ đứng của mình trước thế giới và trong các quan hệ xã hội, cá nhân. Trước hết cá thể đó thể hiện ngay trong cái tôi sáng tạo của mỗi nhà thơ. Trong xu hướng đổi mới chung, mỗi nhà thơ hiện nay nỗ lực tìm tòi cho mình một hướng đi riêng, mang đậm dấu ấn cá nhân của một cái tôi đa chiều kích, đầy kiêu hãnh và độc lập. “Rời khỏi bầy đàn” trở thành tuyên ngôn chung cho cả một thế hệ nhà thơ, xác lập một tâm thế độc mã trên hành trình sáng tạo: Anh là con cá miệng dàn dụa trăng/ Rời bỏ bầy đàn quẫy vào biển động (Ngậm em trong miệng - Mai Văn Phấn); Tôi bứt khỏi tập thể/ Câu thơ bứt khỏi máu còn nguyên rễ (Giác quan ánh chớp - Nguyễn Hữu Hồng Minh). Nếu cái lạc lõng của các nhà Thơ mới là do bị đẩy ra khỏi bầy đàn thì cái lạc lõng của các nhà thơ đương đại là do họ chủ động lựa chọn, chấp nhận cô đơn, thậm chí quay lưng lại tập thể để xác lập một tiếng nói riêng. Cái tôi sáng tạo của thơ đương đại gai góc, nổi loạn một cách bản lĩnh. Bởi vậy đặc trưng của thơ cách tân đương đại là không dựa vào bất kì chuẩn mực nào, tự vươn tới những chân trời cao rộng của sáng tạo, bứt phá khỏi mọi khuôn mẫu giá trị cũ để tìm một không gian sáng tạo mới, như chú ngựa non vùng thức dậy chạy trên thảo nguyên bao la: Thức dậy đi hỡi chú ngựa non của lồng ngực trẻ/ Thức dậy và tung bờm cất vó/.../ Thức dậy, dẫm chân và lắc đầu kiêu hãnh/ Trước những yên cương rực rỡ sắc màu/ Thức dậy để uống sương mai/…/ Thức dậy đi ơi chú ngựa/ Đã ngủ sâu trong đáy tim nhiều năm tháng (Bài ca ngựa non - Trần Lê Sơn Ý).

Hiện tượng lấy tên mình đặt cho một bài thơ, một tập thơ không còn là hiếm (Trang Thanh - Trang Thanh, Vili in love - Vi Thùy Linh…), như một cách khẳng định cái tôi ngay từ tiêu đề tác phẩm. Con người ngày nay có khát vọng tạo dựng một chân dung riêng biệt của mình trong thơ. Đó có thể là chân dung ngoại hình: tôi nhìn/ tôi/ trán dô cằm nhọn má cao/ nhân trung sâu/ thọ đau kiếp nạn/ mím môi/ không sẻ cho người (Trang Thanh - Trang Thanh). Nhưng quan trọng hơn cả vẫn là chân dung tinh thần. Cái tôi cá thể dám làm và dám chịu trách nhiệm về những việc đã làm, cho dù đối lập với tất cả: Tôi phóng sinh tất cả khỏi lề thói/ Lao vào đêm ca hát những điều tôi thích/ Trong sự bất cần của những mặt nạ lặng câm/ Trong sự ồn ĩ của những mặt nạ phản đối (Bay lặng im - Trang Thanh).

Trong thơ hôm nay chúng ta còn gặp những lời tự bạch của người chơi như một cách khẳng định cá tính. Người chơi ở đây được hiểu là người có lối sống tự do, phóng khoáng, thích rong chơi không vướng bận với đời. Người chơi không phải là xa lạ đối với thơ Việt Nam. Thời trung đại, trong khuôn phép ngặt nghèo của Khổng giáo vẫn đã xuất hiện những nhà nho tài tử với triết lí hành lạc mà Nguyễn Công Trứ, Phạm Thái, Tản Đà là những tên tuổi tiêu biểu. Trong Thơ mới có những chàng thi sĩ mộng mơ: Tôi chỉ là một khách tình si/ Ham vẻ đẹp của muôn hình muôn thể (Cây đàn muôn điệu - Thế Lữ). Người chơi vắng bóng trong thơ cách mạng vì nó lạc lõng trong điều kiện chiến tranh. Sau 1975, khi cuộc sống trở về bình thường, người chơi trở lại trong thơ. Nếu như trong thơ 1975 - 2000, chơi có thể là một thái độ phản ứng lại những phi lí của cuộc đời: Rong hồn vào cõi chơi vơi/ Quên mình khổ hạnh, quên đời nhiễu nhương (Rượu tha hương - Lương Định), hoặc là một cách khẳng định cá tính đối lập với cuộc sống khuôn mẫu, buồn tẻ thì trong thơ đầu thế kỉ XXI, hình tượng con người chơi mang một vẻ đẹp mới. Con người chơi hiện nay không ở tư thế đối lập với hoàn cảnh, môi trường sống mà ở tư thế vượt lên hoàn cảnh, đạt đến độ ung dung, tự tại: Có lẽ không gì vui sướng/ Bằng đi cho hết chiều thanh/ Có lẽ không gì tự tại/ Bằng nay ta sống riêng mình (Tự tại - Phạm Văn Đoan). Chơi đối với họ vừa để khẳng định cá tính riêng không giống ai, vừa để khám phá những vẻ đẹp muôn màu của cuộc sống: Ta/ kẻ ăn sương đường phố/ Vẻ đẹp đêm/ Trăng chếnh choáng lên men/ Nhịp điệu màu nguyên thủy mê man/ Hồn hát cùng thân xác/ Muốn rủ cả bóng ma cậy nắp ván rong chơi/ Gõ phách bầu trời/ Tình tang cây cỏ bị bỏ rơi (Dạ ca - Trương Thị Kim Dung).

Không chỉ đi tìm mình trong quan hệ với thế giới, con người còn đào sâu vào cái tôi bản thể để phát hiện ra những mặt khác nhau của cái tôi. Với Cát Du, khát vọng đi tìm cái tôi bản thể lại khởi đi từ những câu hỏi mang tính bản thể luận của nhân loại như nhà thơ tự bạch: Ta từ đâu tới?/ Tới để làm gì?/ Ta sẽ về đâu?(Nàng). Cái tôi bản thể trong thơ Nguyễn Quang Thiều lại được khai thác ở một dạng khác. Trong Cây ánh sáng, nhà thơ băn khoăn truy tìm bản thể mình: Chàng là ai? Chàng sinh ra trên thế gian này với sứ mệnh gì? Trong hành trình đi tìm câu trả lời cho những câu hỏi đầy tính hiện sinh ấy, Nguyễn Quang Thiều hình dung thi sĩ như một hỗn thân với bao đối cực kiểu cái tôi đa ngã: con côn trùng, con lạc đà, con đại bàng, con sói, con đỉa khổng lồ, ngôi sao cô độc. Rồi cuối cùng, theo lối quy nạp, các mảnh ẩn dụ ấy được quy tập về trong cặp đối cực gốc là phần sáng và phần tối: Mi là ta bóng tối và ta là mi ánh sáng. Cả hai phần sáng tối ấy hợp lại làm nên cái tôi bản thể của thi sĩ với những đối lập: Một kẻ là chàng ánh sáng và một kẻ là chàng bóng tối/ Một kẻ ngập tràn ánh sáng và miệng chứa đầy ngôn ngữ minh tuệ/ Một kẻ ngồi trên chiếc ghế hành hình ngập bóng tối tự trừng phạt mình, chỉ trái tim không ngơi nghỉ dội vang. Xét cho cùng, có lẽ không chỉ riêng thi sĩ mới có cái tôi đa ngã, mà trong mỗi con người chúng ta đều có một cái tôi khác bị ẩn giấu, cho nên đôi khi không hiểu rõ chính mình.

Đi tìm cái tôi bản thể là một bước tiến của ý thức cá nhân, ở đó con người đã khám phá mình đến tận cùng và đưa thơ đến một chiều kích khác của tính nhân bản. Đi sâu vào thế giới nội tâm của con người, tất yếu đến một lúc nào đó thơ sẽ chạm đến thế giới tâm linh. Sang đầu thế kỉ XXI, đời sống tâm linh xuất hiện đậm đặc trong các tác phẩm của Tuyết Nga, Phạm Thị Ngọc Liên, Mai Văn Phấn…

Thơ Mai Văn Phấn ngập tràn yếu tố tâm linh. Đó là một thế giới đầy bí ẩn được tạo nên chủ yếu bởi những linh giác, trực giác với cảm quan tôn giáo đậm nét. Đọc thơ Mai Văn Phấn, đôi khi ta bắt gặp một không khí đậm chất liêu trai. Nhà thơ đã mang đến cho người đọc trạng thái rùng rợn khi kể về một ông khách xuất hiện trong ngôi nhà của mình, trò chuyện với mình thực chất là một bóng ma: Pha xong ấm trà/ Quay ra/ Ông khách không còn ở đó/ Gọi điện thoại/ Người nhà bảo ông ấy mất đã bảy năm. Chủ nhà tưởng mình nhầm lẫn, nhưng không phải, sau khi anh ta ra ngoài và về lại nhà thì: Trong nhà/ Trà vẫn nóng/ Đẩy chén nước về phía ông khách đã ngồi/ Luồng tử khí cao chừng một mét sáu dựng đứng trước mặt/ Chốc lại cúi gập (Vẫn trấn tĩnh tiễn khách ra ngõ). Nhà thơ có một niềm tin mãnh liệt vào sự tồn tại của thế giới linh hồn - một thế giới tồn tại vô hình, song hành cùng thế giới người sống và người sống có thể giao cảm với linh hồn bằng linh giác: Theo ngọn gió mở cánh đồng buổi sớm, ùa vào những căn phòng lẫn bụi và ánh sáng, lau mồ hôi vừa tắm gội giấc mơ/ Và như thế, cội nguồn trong gang tấc, lúc quay về là đi hết đời mình, hay chờ luân hồi trở lại kiếp sau/ Những linh hồn kia chưa kịp đầu thai, đang ngưng lại nơi không gian thờ phụng, bay lửng lơ rồi nấp vào bái vật giáo bất động… (Bức ảnh, trái cây và giấc mơ). Cảm quan Phật giáo cũng thể hiện rõ trong Những ngôi chùa trong đêm của Nguyễn Việt Chiến. Triết lí nhà Phật hòa quyện cùng những giá trị tinh thần cao quý của dân tộc - sự nhẫn nại, bao dung và lạc quan: Tiếng hát đều đều và chậm rãi của người/ Như nước chảy trong đá/ Như trăng soi trong đá/ Như máu thức trong đá/ Tiếng hát mệt mỏi và tha thiết của người/ Đưa bàn tay lại gần một bàn tay/ Đưa ánh mắt lại gần một ánh mắt/ Đưa con người lại gần một con người. Giọng thơ trầm đều, da diết, lắng sâu triết lí. Đây không chỉ là thơ mà còn như một khúc kinh cầu.

Để thể hiện sự mơ hồ, huyễn hoặc của thế giới tâm linh, các tác giả thường xây dựng không gian giấc mơ. Mai Văn Phấn thể hiện niềm tin đặc biệt vào sự ban phát của giấc mơ như một vị cứu tinh: Như bao muông thú/ Tôi lớn bằng giấc mơ/ Của ánh bình minh/ Của cơn mưa/ Bầy sao sa/ Trái đất/…/ Bình minh vắt ngang ngực/ lúc tôi bắt đầu hành thiền (Tĩnh lặng). Không gian giấc mơ được nhà thơ phát huy một cách cao độ trong tưởng tượng, giả định. Đó là những câu chuyện phi logic, hoang tưởng từ Chỉ là giấc mơ, Kể lại giấc mơ đến Giấc mơ vô tận. Dương Kiều Minh thì xây dựng không gian chập chờn giữa thực và ảo, ở đó những hình ảnh, mảng màu được gọi về từ cõi tâm linh. Trong không gian giấc mơ huyền ảo ấy “anh” thấy mình nhảy nhót như con thú hoang: Trong giấc mơ có anh/ Bên em không hề biết/ Anh xoài mình khắp những tán cây/ Con dốc ven hồ/ Vạt hoa trinh nữ/ Con thú hoang nhảy nhót trong mơ (Em đừng thức giấc). Trong thơ Dương Kiều Minh ranh giới giữa quá khứ và hiện tại, giữa mơ và thực rất mong manh, là sự hòa trộn hiện thực và kí ức. Kết cấu đồng hiện, liên tưởng đa tuyến là kết cấu chủ đạo. Trí tưởng tượng và những giấc mơ cũng tràn ngập trong thơ Nguyễn Quang Thiều (Trong giấc ngủ muộn, Nhịp điệu châu thổ mới, Âm nhạc...), trong thơ Phạm Thị Ngọc Liên (Giấc mơ, Giữa khuya có một giấc mơ, Ngủ mơ)…

Miền tâm linh, vô thức trong thơ hiện nay là sự tiếp nối mạch thơ mở ra từ sau Đổi mới nhưng thể hiện một cách sâu sắc hơn. Có thể nói, khi đi vào thế giới tâm linh thơ càng có giá trị nhân bản.

Trên đây là những “nét lớn”, cơ bản nhất của diện mạo thơ Việt đầu thế kỉ XXI. Bên cạnh những nét lớn, việc đi sâu tìm hiểu những “nét nhỏ” nhằm cụ thể hóa, tường minh hóa diện mạo thơ Việt trong khoảng hai mươi năm đầu thế kỉ XXI cũng là điều rất cần thiết vì đây là quãng thời gian đủ dài cho công việc tổng kết. Tuy nhiên đó sẽ là nội dung của nhiều bài viết khác

TRẦN THỊ MINH TÂM
(VĂN NGHỆ QUÂN ĐỘI)

Thứ Sáu, 26 tháng 7, 2019

Bảo vệ môi trường biển từ góc nhìn sinh thái học nhân văn

Biển là một hệ sinh thái tự nhiên, và cũng là một hệ sinh thái nhân văn. Nên khai thác biển, bảo vệ biển và phát triển từ biển, đều cần thiết phải có cái nhìn về văn hóa. Đó cũng là hướng nghiên cứu của nhân học sinh thái hay sinh thái học văn hóa, sinh thái học nhân văn. Trong hệ sinh thái biển có yếu tố con người hay nói cách khác, con người là một phần trong đó/thuộc về hệ sinh thái biển. Con người không sống dưới biển, không sống trên biển, mà sống trong biển. Nên bảo vệ hay khai thác bất cứ gì ở biển cũng đều có ảnh hưởng đến cuộc sống con người. Sinh thái học cũng gợi mở ra vấn đề bảo vệ môi trường biển một cách rộng lớn hơn, tổng quát hơn trên nhiều mối quan hệ khác nhau.
Cá chết hàng loạt tại biển miền Trung năm 2016. Nguồn interrnet

Vấn đề môi trường biển từ nghĩa rộng

Sự kiện cá chết hàng loạt ở các tỉnh miền Trung do Formosa (Hà Tĩnh) xả thải ra biển năm 2016 là một quả bom cảnh báo về việc ô nhiễm môi trường biển do các hoạt động kinh tế của con người. Từ sự cố môi trường đã lan rộng trở thành một phong trào xã hội rộng lớn, ảnh hưởng đến tình hình kinh tế, chính trị của địa phương và đất nước. Trước đó, do biển quá rộng lớn nên những hoạt động của con người vốn nhỏ bé và dần dần làm cho người ta ít quan tâm đến hệ quả của việc ô nhiễm môi trường biển. Tuy nhiên, càng ngày, hoạt động kinh tế của con người càng rộng lớn và sự ảnh hưởng đến môi trường cũng mạnh mẽ lên gấp nhiều lần. Nhận thức của con người về giới hạn chịu đựng của trái đất nói chung, của các môi trường tự nhiên và môi trường nhân văn cụ thể nói riêng cũng được nâng cao. Xây dựng một nhà máy ven một con sông hay xây một khu chế xuất ở bờ biển cũng làm người ta nghĩ đến việc ô nhiễm môi trường biển. Bởi nhiều người đã nhận thức được mối liên quan hệ thống giữa các môi trường với nhau. Đó cũng là góc nhìn mà các nhà sinh thái học quan tâm. Họ cố gắng phân tích hệ thống các mối liên hệ giữa các hoạt động của con người với môi trường và giữa các môi trường với nhau để tìm đến những cách giải quyết mang tính hệ thống hơn trong vấn đề bảo vệ môi trường. Một nhà máy sản xuất hoạt động làm ô nhiễm một nhánh của sông Hiếu hay hàng trăm bãi rác thải ven sông Lam (Nghệ An) đang hủy hoại môi trường hiện nay không chỉ là vấn đề riêng của các con sông đó nữa mà là vấn đề ô nhiễm môi trường lớn hơn, đó là môi trường biển bởi các con sông cũng đổ ra biển cả mà thôi.

Chúng ta cần hiểu môi trường biển (và hệ sinh thái biển) ở nghĩa rộng, gồm nước ở biển và các dòng sông đổ ra biển, hệ sinh vật sống dưới biển, hệ sinh vật ven biển và các hoạt động của con người liên quan đến biển bao gồm cả hoạt động kinh tế và chính trị… Biển cũng như rừng, đều có cấu trúc văn hóa của nó. Đó là nhận thức và ứng xử của con người với môi trường biển. Trong lịch sử của nhiều nhóm cư dân miền biển thì biển là một thế giới, và là thế giới rộng lớn, được cai trị bởi những vị thần và các hoạt động của con người liên quan đến thế giới đó đều cần phải tôn trọng các vị thần cai quản biển. Những cấu trúc văn hóa luôn ảnh hưởng đến sự ứng xử của con người với môi trường. Trong vài thập kỷ gần đây, khi mà các cấu trúc văn hóa liên quan đến biển thay đổi nhanh chóng thì sự khai thác kinh tế biển cũng trở thành một hoạt động ảnh hưởng mạnh mẽ đến môi trường biển. Hàng loạt các thành phố triệu dân gần ngay bờ biển, hàng loạt những con tàu siêu tải triệu tấn trên mặt biển, hàng loạt các nhà máy, khu công nghiệp, khu chế xuất được xây dựng gần biển, thêm vào đó là việc khai thác các tài nguyên dưới đáy biển cũng được đẩy mạnh. Nó làm cho vấn đề ô nhiễm môi trường biển trở nên cấp bách và là vấn đề toàn cầu lẫn quốc gia, địa phương.

Bảo vệ môi trường biển như là bảo vệ một hệ thống các môi trường

Môi trường biển rộng lớn và liên quan đến nhiều yếu tố khác nhau, nhiều hoạt động khác nhau, nên bảo vệ môi trường biển cũng phải nhìn nhận trong một hệ thống các vấn đề khác nhau và có mối liên hệ chặt chẽ với nhau.

Để bảo vệ môi trường biển, chúng ta cần phân tích nó trong một loạt các mối quan hệ khác nhau để nhận thức đầy đủ hơn về những việc cần làm. Thoát khỏi cái nhìn hạn hẹp rằng môi trường biển chỉ là môi trường trong khu vực bao phủ bởi biển và đại dương, chúng ta nhìn rộng lên cả khu vực bờ biển, các con sông chảy ra biển cũng như các thành tố khác liên quan.

Trước hết, bảo vệ môi trường biển từ việc bảo vệ các môi trường liên quan. Đó là môi trường sông suối, môi trường bờ biển và các miền địa cực… Nhiều người cho rằng bảo vệ môi trường biển không liên quan đến môi trường sông suối. Nhưng điều đó không đúng. Sông suối là một phần của biển. Nó nằm trong các chu trình tự nhiên có liên quan mật thiết với nhau. Suối đổ ra sông và sông đổ về biển. Suối và sông ô nhiễm thì như một lẽ tất yếu là biển cũng sẽ bị ô nhiễm. Trong quá trình công nghiệp hóa và đẩy mạnh sản xuất hàng hóa trong khoảng 3 thập kỷ qua đã khiến nhiều con suối, con sông, thậm chí các hệ thống sông lớn cũng bị ô nhiễm nặng. Ở nhiều vùng nông thôn, các địa phương thi nhau xây dựng các bãi rác lớn ở ven các con sông lớn. Sau một trận lũ, hàng loạt các rác thải bị nước cuốn trôi và đích đến của những rác thải này là biển. Trong số chất thải đó, có một khối lượng lớn chất nilon, vốn là một loại rác thải khó phân hủy và khi xuống đáy biển lại càng thêm nghiêm trọng hơn. Khi nói đến ô nhiễm sông suối, chúng ta cũng nghĩ đến rừng. Nói vậy để biết, mối liên quan giữa các môi trường đều rất chặt chẽ và ít khi có chuyện không liên quan. Tiếp đó là bảo vệ hệ sinh thái bờ biển. Các bờ biển luôn là không gian quan trọng cho các hoạt động kinh tế. Các khu cảng biển, các thành phố ven biển và hệ thống các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu thương mại dịch vụ không ngừng mọc lên ở bờ biển. Cùng với đó là hàng ngàn các hoạt động kinh tế sôi động khác. Các hoạt động này tạo sức ép rất lớn đến môi trường biển. Sự kiện ô nhiễm môi trường biển ở Fomosa là một ví dụ điển hình. Từ các hoạt động kinh tế ở bờ biển đã làm ô nhiễm nặng nề môi trường biển, gây suy thoái nghiêm trọng hệ sinh thái biển. Và cũng từ đó nảy sinh nhiều vấn đề liên quan đến chính trị, xã hội. Không thể bãi bỏ các hoạt động kinh tế ở khu vực bờ biển nhưng cần có sự kiểm soát cũng như có chiến lược phát triển thích hợp nhằm hạn chế ô nhiễm môi trường biển. Việc chuyển giao một diện tích lớn khu vực bờ biển cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cần được kiểm tra, giám sát chặt chẽ và xử lý nghiêm minh về vấn đề ô nhiễm môi trường.

Thứ hai là bảo vệ môi trường biển và các hệ sinh thái trên biển và đại dương. Hàng ngày, môi trường biển và đại dương đang bị ô nhiễm nặng dần từ các hoạt động vận tải biển và xuyên biển, hoạt động khai thác hải sản, khai thác khoáng sản trên biển. Hàng triệu con tàu siêu tải đang hoạt động trên biển cũng thải ra một lượng lớn chất làm ô nhiễm môi trường. Việc vận chuyển các loại hàng hóa như dầu mỏ rất nguy hiểm cho môi trường biển khi có sự cố chìm tàu, chảy dầu lan ra mặt biển. Việc đánh bắt hải sản theo công nghiệp cũng ảnh hưởng mạnh đến sự đa dạng sinh thái ở biển… Rồi các hoạt động thử nghiệm vũ khí hủy diệt, vũ khí có sức công phá lớn trên các đại dương cũng ảnh hưởng lớn đến môi trường biển. Những hoạt động của con người một mặt ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường biển, mặt khác gây nên những chấn động, đứt gãy trong lòng địa tầng và từ đó gây nên những xáo trộn lớn trong lòng đại dương và làm thay đổi, mất cân bằng hệ sinh thái dưới biển.

Những gợi mở trong bảo vệ môi trường biển

Sinh thái học coi trọng các mối quan hệ với nhau giữa các môi trường và giữa môi trường với các hoạt động của con người trong môi trường đó. Vậy nên, để làm tốt nhiệm vụ bảo vệ môi trường biển cần nhận thức có hệ thống về môi trường biển theo nghĩa rộng và các mối quan hệ của nó. Bảo vệ môi trường biển cần gắn với các chiến lược bảo vệ môi trường chung, từ bảo vệ rừng núi, sông suối, sinh vật, đất, nước đến khí quyển…. Cùng với đó là bảo vệ các môi trường nhân văn gắn liền với môi trường biển.

Về mặt pháp lý, cần hoàn thiện hệ thống chính sách bảo vệ môi trường nói chung và môi trường biển nói riêng dựa trên quan điểm phát triển bền vững và phù hợp với tinh thần pháp luật từ các nghị định cũng như quy định của các tổ chức quốc tế liên quan. Thực hiện kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm túc các trường hợp vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường biển và các môi trường liên quan.

Về mặt kinh tế, cần có hoạch định chiến lược phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường biển một cách rõ ràng. Trong đó cần nhấn mạnh đến việc phát triển kinh tế xanh để hạn chế ô nhiễm môi trường biển, ưu tiên phát triển du lịch biển bền vững. Việc xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất ven bờ biển cần phải tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh các yêu cầu về bảo vệ môi trường. Cố gắng thu hút các dây chuyền công nghệ sạch, hạn chế các chất thải nguy hiểm. Xây dựng và kiểm tra việc xử lý chất thải một cách công khai và minh bạch đối với mọi hoạt động liên quan đến môi trường.

Về chính trị, các quốc gia cần tôn trọng các quy định chung về bảo vệ môi trường của Liên Hợp Quốc, hạn chế chạy đua vũ trang và thử nghiệm vũ khí hủy diệt trên biển và đại dương. Tôn trọng lãnh thổ và lãnh hải theo các quy định quốc tế. Đối với các vấn đề liên quan đến bảo vệ môi trường biển cũng như các môi trường khác, cần tôn trọng và lắng nghe ý kiến của người dân, của tầng lớp trí thức có hiểu biết. Không đem vấn đề liên quan đến ô nhiễm môi trường làm điều kiện để nhượng bộ cho các hoạt động chính trị và lợi ích nhóm.

Về văn hóa, con người là một phần trong hệ sinh thái tự nhiên rộng lớn, trong đó có hệ sinh thái biển. Vậy nên con người cần tôn trọng sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường biển cũng là bảo vệ cuộc sống của chính con người. Cụ thể hơn, trong bối cảnh hiện nay, chúng ta cần phát huy các giá trị kinh nghiệm của người dân vùng biển trong việc khai thác hải sản và bảo vệ môi trường biển. Gìn giữ các làng nghề ven biển và các giá trị văn hóa biển của cộng đồng cư dân đó. Bên cạnh đó cần đầu tư nghiên cứu, tìm kiếm các công nghệ sạch để bảo vệ môi trường biển gắn với phát triển kinh tế.

Nói tóm lại, bảo vệ môi trường biển là việc xây dựng hệ thống tương tác giữa các hoạt động sống của con người với sự bền vững của môi trường biển và các môi trường liên quan. Theo đó, hầu hết các hoạt động của con người, hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp đều ảnh hưởng đến môi trường biển nói riêng và trái đất nói chung. Đây là vấn đề rộng lớn mang tính toàn cầu. Nhưng để giải quyết vấn đề lớn đó, lại phải bắt đầu từ nhận thức và ý thức của mỗi con người. Các nhà sinh thái học đã khuyến cáo về vấn đề này khi nhấn mạnh rằng: “Không có cái gì trên Trái Đất mà không liên quan đến sự sống còn của con người”.

  TRANG TUỆ
(VHNA)

Tin bài khác:



Thứ Năm, 25 tháng 7, 2019

Biểu tượng “gió” trong Bước gió truyền kỳ của Phan Hoàng

Nhân dịp trường ca Bước gió truyền kỳ của nhà thơ Phan Hoàng vừa được Ủy ban nhân dân TPHCM trao Giải thưởng Văn học nghệ thuật TPHCM 5 năm lần thứ II, xin đăng lại bài viết nghiên cứu công phu sâu sắc của PGS.TS. Cao Thị Hồng từ Khoa Báo chí - Truyền thông và Văn học, Đại học Khoa học Thái Nguyên.
PGS.TS. Cao Thị Hồng

Xuyên suốt trường ca Bước gió truyền kỳ(1) của Phan Hoàng là biểu tượng gióGió được coi như là trục vận hành chính, là tâm điểm phát sáng nhiều thông điệp. Gió hiện diện trong tác phẩm với vai trò nối kết năm phân khúc rõ rệt: Những ngọn gió vô danh/ Gió tiếp sức ước mơ/ Bước gió truyền kỳ/ Gió dựng thành lũy biên cương/ Những cơn vượt thoát sinh tồn vĩ đại. Ứng với mỗi bước gió là một chủ đề lớn hàm chứa những chủ đề nhỏ hơn. Đặt trong tổng thể của tác phẩm, tất cả cùng hòa âm - những âm thanh của tưởng tượng vang lên như một bè hợp xướng đa thanh, lắng nghe sẽ thấy dàn hợp âm vang lên lúc êm ái, dịu dàng, lúc hào hùng, dữ dội, lúc trầm lắng, suy tư, lúc xót xa, đau đớn, lúc tha thiết tự hào…  đó chính là những cung bậc cảm xúc của tác giả cũng như của bất cứ người con đất Việt nào khi ngược dòng thời gian, sống cùng những sự kiện lịch sử của dân tộc, dõi theo từng bước đi của sinh thể Mẹ - Tổ quốc từ thuở ông cha “mang gươm đi mở cõi” (Huỳnh Văn Nghệ) cho đến hôm nay.

Trong văn hóa của nhiều dân tộc trên thế giới biểu tượng gió có ý nghĩa khác nhau. Kinh Coran lấy các cơn gió làm sứ giả của Chúa Trời, tương đương với các thiên thần. Thần của Chúa Trời bay lượn trên mặt nước nguyên thủy được gọi là gió. Trong hệ biểu tượng Hindu, gió (vâyu) là khí vũ trụ và là lời Thượng đế; gió là chúa tể của lĩnh vực tế vi, trung gian giữa Trời và Đất. Theo các truyền thuyết Hindu về nguồn gốc vũ trụ trong Luật của Manu, gió được sinh ra từ thần linh và gió sinh ra từ ánh sáng. Thần linh được kích thích bởi ước muốn sáng tạo đã sinh ra không gian. Từ vận động của cái không trung này, đã sinh ra gió. Gió chứa đựng tất cả các hương trong sạch, mãnh liệt, có đặc tính của xúc giác. Trong các truyền thuyết của Kinh Thánh, những cơn gió là hơi thở của Chúa Trời. Hơi thở của Chúa đã đưa trật tự vào hỗn mang nguyên thủy, hơi thở đó đã đem lại sinh khí cho người đầu tiên. “Những cơn gió cũng là những công cụ của quyền lực thần thánh; chúng truyền sinh khí, trừng phạt, giáo huấn, chúng là những dấu hiệu và cũng như các thiên thần, chúng mang những thông điệp. Chúng là một dạng biểu hiện của thần linh, muốn truyền đạt những cảm xúc của mình”(2).

Dựa trên nền tảng quan niệm của văn hóa nhân loại về biểu tượng gió, với chủ đích mượn gió để gửi gắm thông điệp nghệ thuật, trong Bước gió truyền kỳ Phan Hoàng đã xây dựng biểu tượng gió theo cách riêng của trái tim nghệ sĩ đầy mẫn cảm với một trí óc tưởng tượng bay bổng, phong phú. Gió trở thành nơi phát lộ những bí ẩn của vô thức, của hành động, khai mở trí tuệ về cái chưa biết và cái vô tận. Gió gợi cho người đọc suy ngẫm về cuộc đời của mỗi người Việt Nam qua tầng tầng lớp lớp thế hệ. Và thân phận mỗi cá thể vô danh ấy gắn liền với mỗi bước đi nhọc nhằn của mảnh đất quê hương hình chữ S - nơi mỗi chúng ta chôn nhau cắt rốn, cất tiếng khóc chào đời. Chạm đến tình cảm thiêng liêng ấy nên gió trong tác phẩm của Phan Hoàng đã lay động tâm thức người đọc ở vùng thăm thẳm nhất. Thổi qua nhiều miền tối sáng suốt chiều dài lịch sử dân tộc, nhưng không ồn ào mà rất khiêm nhường, điềm tĩnh, những Bước gió truyền kỳ đúng như tên gọi của nó đưa người đọc vào một hành trình kỳ lạ, vừa thực vừa mơ để khám phá những vẻ đẹp của văn hóa, khí phách và ý chí của dân tộc với nhiều cung bậc cảm xúc thẩm mỹ khác nhau.

Trong cảm thức của tác giả, gió là một biểu tượng luôn luôn động, luôn luôn biến hình hài, đổi trạng thái và mỗi bước gió là một sự tiến triển của đất trời, con người và vạn vật sinh linh…  

Mở đầu trường ca gió là tâm điểm hội tụ sức mạnh hồn thiêng dân tộc. Những ngọn gió vô danh gọi những linh hồn vô danh quần tụ, họ là những chàng trai và những cô gái mang trong mình “Ước mơ căng tràn ngực gió thanh xuân” Họ đã sống từ bao đời trước: Xác hóa mây bay hồn về đất mẹ/… Người từ ngàn năm người quên tên tuổi...” Nhưng chính những con người giản dị và bình tâm  ấy là những con người đã làm nên đất nước (Mặt đường khát vọng - Nguyễn Khoa Điềm).

Gió được thổi hồn và hiện diện như một sinh thể sống, gió là người và người là gió, gió quấn quýt, chia sẻ vui buồn cùng con người, gió mở đường bay, gió đồng hành cùng người từ những bước chập chững đầu đời, từ tuổi thơ hồn nhiên khát vọng truy tìm, khám phá những bí ẩn của cuộc sống. Với nhiều thủ pháp tu từ được sử dụng linh hoạt như dùng xen kẽ liên tục câu dài/ ngắn, câu khẳng định/phủ định, câu kể, câu cảm thán, câu hỏi…, âm hưởng chậm rãi, trầm lắng của khúc ca đưa mỗi chúng ta trở về với tuổi thơ của mỗi người và tuổi thơ của dân tộc. Đó là thời khởi sinh trong trẻo hồn nhiên, đầy ắp kỷ niệm ngây thơ êm đềm nhưng cũng đã biết “khóc người lớn cười/ cười người lớn khóc”. Từ thuở mới khai sinh lập địa, thuở hồng hoang mới biết hát đồng dao, người Việt Nam đã biết phân biệt phải/ trái, đúng/ sai, nuôi khát vọng, mơ ước, biết suy tư trăn trở tìm đường để hướng đến những giá trị sống cao đẹp: “bay đường nào con người bớt khổ đau?/ bay đường nào con người bớt nghèo đói?/ bay đường nào con người bớt phản trắc?/ bay đường nào con người tin được nhau? ”.  
   
Có thể nói bốn tiểu khúc trong phần Gió tiếp sức ước mơ: Gió mở đường bay/ Đồng giao nghịch gió/ Cuộc trò chuyện giữa gió và núi/ Gió tiếp sức ước mơ là những khúc đoạn vừa bay bổng, lãng mạn vừa giàu chất triết luận. Đáng chú ý là Cuộc trò chuyện giữa gió và núi được hình dung trong giấc mơ của người kể chuyện: “Nhiều đêm trong mơ ngược dòng ấu thơ đuổi bắt sao trời, ta trộm nghe núi mở lòng với gió”.

Các nhà phân tâm học cho rằng về ý nghĩa giấc mơ là sự thỏa mãn một ước vọng.  Theo S. Freud, ước vọng là yếu tố chính tạo nên giấc mơ, ước vọng bị dồn nén được thỏa mãn một cách tượng trưng và “trá hình” trong giấc mơ. Mọi giấc mơ là sự thực hiện tưởng tượng hay biểu tượng của ước muốn. Giấc mơ “nghe núi mở lòng với gió” của Phan Hoàng là một giấc mơ đẹp, lạ. Giấc mơ mang theo hình hài địa lý của Tổ quốc, có “Biển Đông, có đồng bằng, có con đường xuyên sơn ngoằn ngoèo”… giấc mơ tái hiện lịch sử bi hùng “một thời đội sấm đội chớp mở đường” của cha ông… Phải chăng thông qua giấc mơ về Cuộc trò chuyện giữa gió và núi tác giả trường ca Bước gió truyền kỳ muốn góp thêm tiếng nói khẳng định một giá trị thuộc về truyền thống văn hóa của những con người được nuôi dưỡng từ cái nôi của nền văn minh lúa nước trên dải đất hình chữ S: dẫu trải qua bao dâu bể thăng trầm và biến thiên của lịch sử, người Việt Nam luôn sống thuần phác, nhân hậu, bao dung, phóng khoáng,  luôn mong muốn “bắc yêu thương những nhịp cầu đồng dao!…” và “lấy cây rừng làm bút/ lấy đá núi làm nghiên, lấy nước biển làm mực, đề thơ lên thạch trụ cao vút chín tầng xanh…”. Đó là giấc mơ thấm đẫm khát vọng hòa bình và tự do, tinh thần ấy là sợi dây bền chặt “nối ngàn xưa cho đến mai sau”.

Khúc thứ hai cùng tên tác phẩm: Bước gió truyền kỳ - đây là khúc trọng yếu của thiên trường ca. Với những thức nhận sâu sắc về văn hóa, lịch sử dân tộc, tác giả đã tái hiện bức tranh hoành tráng về quá trình bảo vệ và khẩn hoang mở rộng bờ cõi của cha ông qua bốn tiểu khúc: Bước gió truyền kỳ/ Gió khẩn hoang/ Gió xuôi chín khúc sông rồng/ Tây Nam mùa gió chướng. Âm hưởng hào sảng, tha thiết tự hào bao trùm khúc ca. Câu thơ ngắn, dài, biến ảo linh hoạt, gợi hình ảnh;  nhịp điệu nhanh, dồn, mạnh mẽ và hối thúc. Biện pháp điệp từ, ngữ được sử dụng một cách triệt để và đắc địa. Quá khứ lịch sử dân tộc với những bước chân huyền thoại thuở hồng hoang trở về rõ mồn một sau từng câu chữ…
Trường ca Bước gió truyền kỳ của nhà thơ Phan Hoàng

Như sự đặt để của số phận, dân tộc Việt Nam là một trong những dân tộc phải đối mặt với nhiều cuộc chiến tranh nhất để mở cõi và giữ nước. Trong kết tinh của đất và nước có rất nhiều máu, mồ hôi và nước mắt: “máu/ máu/ máu/ mở cõi/ máu/ máu/ máu/ giữ nước… lớp lớp người/ tay cuốc tay cày/ lớp lớp người/ tay chèo tay lưới/ chém cá tràng kình/ mắt xua mây xám biển Đông/ lưng bóng nắng/ mồ hôi lạnh/ ngực dằn cơn ho cơn sốt…/ chân ngăn từng dòng nước khách lũ/ vật vã/ kiên trì/ tự lực/ khẩn hoang”… âm hưởng của lời ca nghe như có tiếng nấc, như có tiếng khóc, xót xa nhưng không hề bi lụy… Hiện lên trước mắt người đọc là trùng trùng lớp lớp những con người bé nhỏ, vô danh nhưng dũng cảm gánh trên vai một sứ mệnh lớn lao mà lịch sử dân tộc giao phó. Cuộc thiên di về phương Nam nhọc nhằn, gian khó nhưng những con người lao động chỉ có tay cuốc, tay cày, tay chèo, tay lưới cùng với ý chí kiên cường, đức nhẫn nại, hy sinh của người dân nước Việt. Họ đã làm nên truyền thống, làm nên lịch sử cho xứ sở này - truyền thống ấy mãi mãi âm vang bước gió truyền kỳ, tạc khắc trong hiên ngang dáng núi, bao dung tình sông

Xét trong chỉnh thể của tác phẩm, như bản nhạc vang ngân, khi tiểu khúc Bước gió truyền kỳ và Gió khẩn hoang với âm hưởng hào hùng, bi tráng “cuồn cuộn chuyển động sắc màu vũ trụ” tạm lắng xuống, thì tiểu khúc Gió xuôi chín khúc sông rồng vang lên với âm hưởng chậm rãi khoan thai, có những nốt lặng lắng sâu nhiều suy tư về cuộc sống “phía sau nỗi đau trận mạc”.

Đất nước hòa bình, con người lại trở về với những giấc mơ hoa đời thường mà do chiến tranh ngăn trở nên đã không thể thực hiện. Hạnh phúc đáng nói nhất là “tình yêu lứa đôi không còn bão lửa cắt chia”. Tâm điểm của bức tranh hòa bình là hình ảnh quấn quýt hòa trộn nhau thắm thiết, nồng nàn của đôi lứa yêu nhau được Phan Hoàng phác họa sinh động mang sắc màu “nhục thể lành mạnh” (F.Engels): “Thịt da nhiệt đới/ hừng hực ngực lửa/ hừng hực đùi hương/ bềnh bồng suối tóc/ bồng bềnh môi trầm/ bềnh bồng mông núi/ bồng bềnh lạch hoa/ bồng em lốc xoáy/… em làm vợ ta làm chồng/ yêu nhau thì cứ bềnh bồng bập bênh”. Ở đây  khát vọng hướng đến những giá trị nhân bản, nhân văn nhất của con người được thành thực trải lòng. Kiến tạo văn bản theo một sơ đồ chủ ý trộn lẫn giữa truyền thống và hiện đại nên có lẽ vì vậy trường ca Bước gió truyền kỳ của Phan Hoàng đã không bị sa vào khuôn mẫu xơ cứng, đơn điệu của kiểu viết trường ca theo “cảm hứng sử thi” đầy sắc màu “lý tưởng” tạo khoảng cách quá xa vời giữa con người trong tác phẩm và con người của cuộc sống đời thường.

Thế giới nghệ thuật vốn bao giờ cũng là thế giới trung gian giữa thực tế và mơ mộng. Nhiều khi thế giới thực không thỏa mãn được ước vọng của người đời, thế giới mơ tưởng có thể thực hiện được những ước vọng đó. Và ở khúc đoạn này, Phan Hoàng đã thành công khi mơ một “giấc mơ sinh trưởng” lãng mạn nhưng cũng rất chân thực với cách diễn đạt tưởng chừng tưng tửng, dí dỏm, nhưng ám gợi sâu sắc tâm thức người tiếp nhận.

Phần thứ ba mang tên Gió dựng thành lũy biên cương gồm ba tiểu khúc: Linh hồn gió/ Gió cõng hương qua núi đồi/ Gió dựng thành lũy biên cương.

Chiến tranh dẫu đã đi qua, nhưng trong mỗi ngày của cuộc sống hòa bình những ám ảnh, đau thương mất mát vẫn nhức nhối khôn nguôi, “cái ác mang mặt nạ hữu nghị viển vông” vẫn lởn vởn. Đêm đêm linh hồn của những chàng trai, cô gái “hồn phách tinh anh mỉm cười bước ra chuyện trò cùng với gió (…) bao linh hồn trẻ hóa gió hiên ngangcanh giữ giấc ngủ bình yên đất mẹ”. Đến đây, gió trở thành biểu tượng của sức mạnh tâm linh huyền diệu, thần kỳ. Sức mạnh ấy được khởi nguồn từ tình yêu đất nước của lớp lớp thế hệ đi trước, họ đã dâng hiến tuổi thanh xuân vì bình yên của mảnh đất này, vì “cuộc sống những đứa trẻ không còn mồ côi đói khát…/ mùa trăng mật dâng hiến lứa đôi/ mùa sinh nở dâng tặng tiếng khóc những ngôi sao hy vọng...”. Trên nền âm hưởng trầm lắng, man mác buồn, hoài niệm, tiếc thương người đã khuất, nổi bật hình tượng Gió cõng hương qua núi đồi thấm đẫm sắc màu kỳ ảo: “Dường như có bóng ai lướt nhanh trong màn sương đục/ bóng của hôm qua bóng của hôm nay hay bóng của mai sau? gió vẫn miệt mài cõng hương qua núi đồi một thời trận mạc/ gió nói gì với những chiếc bóng lang thang chưa yên nghỉ mộ phần?”. Trước thế giới tâm linh thiêng liêng, những dấu hỏi như găm vào lòng người sống hôm nay bao ngẫm ngợi, suy tư, khắc khoải về thân phận con người…

Với độ lùi thời gian, điềm tĩnh nhìn lại những “bước gió” bi hùng của lịch sử dân tộc, tác giả trường ca xác quyết một sự thật: “không dân tộc nào/ không đất nước nào/ hiếm hoi thế hệ bình yên/ nối nhau quẫy đạp bóng đêm/ đứng lên” như dân tộc Việt Nam; và “không dân tộc nào/ không đất nước nào/ oằn vai/ gánh/ mười bốn cuộc chia ly không hẹn ngày về/ không dám bày tỏ nỗi niềm nhớ thương/ không biết cha con đối đầu/ không ngờ anh em bắn nhau/ máu đỏ oán sông/ xương trắng hờn than núi/ bao tinh hoa hóa thành cát bụi/ bao bà mẹ tim ngừng đập vẫn mở mắt đợi con/ bao người vợ úp mặt chờ chồng lửa lòng đông cứng!”. Chiến tranh là máu và nước mắt, là cái chết, là chia ly, tan tác, chia lìa. Người dân đất Việt đâu có mong muốn chiến tranh, nhưng “cực chẳng đã” buộc phải đứng lên để “giành lại từng dấu chân giao chỉ/ giành lại từng viên đá cuội in bóng chim lạc chim hồng/ giành lại từng hạt cát mang hình đảo chìm đảo nổi/ giành lại từng tia sáng cánh cò cánh vạc/ giành lại từng tiếng khóc bình yên tao nôi” . Và dòng hào khí kết tinh từ tinh hoa của lớp lớp người mãi trường tồn, vút bay cao “hóa thân bước gió truyền kỳ, cùng những vì sao nhấp nháy nhấp nhổm nụ cười” để làm nên Những cơn vượt thoát sinh tồn vĩ đại của dân tộc.

Nếu quan điểm của tư duy lý luận hiện đại cho rằng chức năng cơ bản của biểu tượng là sự phát hiện hiện sinh của con người cho chính mình thì ở Bước gió truyền kỳ biểu tượng gió giúp người đọc nhận ra chính bản thân mình từ những phát hiện về phẩm chất của dân tộc từ góc nhìn nhân văn nhất về lịch sử dựng nước và giữ nước của người Việt. Xoay xung quanh biểu tượng này chúng ta có thể suy ngẫm để khám phá nhiều ý nghĩa về thực tại cuộc sống: đó là mối quan hệ ràng buộc và những ứng xử mang giá trị văn hóa sâu sắc giữa cá nhân và cộng đồng, cộng đồng và cá nhân… Sử dụng biểu tượng gió như một thủ pháp nghệ thuật để thể hiện những ẩn dụ cảm xúc từ trìu mến, yêu thương thiết tha nhất đến giận dữ, uất nghẹn, sôi sục nhất, tác giả Phan Hoàng đã thành công trong lối dẫn dụ người đọc đi vào thế giới cảm xúc cùng những suy tư về văn hóa, lịch sử và vận mệnh của dân tộc một cách tự nhiên trên tinh thần “tự cảm hóa”. Với cách xử lý nghệ thuật khéo léo, tinh tế, sáng tạo, trường ca Bước gió truyền kỳ của Phan Hoàng đã vượt qua giới hạn của lối tư duy tụng ca về những vấn đề đại tự sự một cách đơn giản, sáo rỗng, vô hồn, thiếu thuyết phục mà bạn đọc vẫn còn bắt gặp đó đây trong sáng tác hôm nay. Và đó chính là một trong những nguyên nhân sâu xa, cơ bản nhất khiến tác phẩm này hàm ẩn nhiều thông điệp nghệ thuật, tiếp tục “vẫy gọi” bạn đọc đồng sáng tạo.

Tháng 3.2016
PGS.TS. CAO THỊ HỒNG
(Khoa Báo chí - Truyền thông và Văn học,
Đại học Khoa học Thái Nguyên) 

Chú thích:

 (1) Phan Hoàng, Bước gió truyền kỳ, Nxb. Hội Nhà văn, 2016.
 (2) Jean Chevalier, Alain Gheerbrant, Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, Nxb. Đà Nẵng, Trường viết văn Nguyễn Du, 1997, tr.363.     


Thứ Ba, 23 tháng 7, 2019

Nguyễn Thị Ánh Huỳnh - Chiếc lá xanh trên những cành xanh

Mười lăm mười sáu năm trở lại đây, độc giả yêu thơ quen thuộc với một nhà thơ nữ qua những tập thơ “Giọt mưa bất chợt” (2003), “Không dám tắt đèn” (2005, tác phẩm đã nhận tặng thưởng thơ của Hội Nhà văn TPHCM), “Đừng múc cạn nỗi buồn” (2008) và “Những vàm sông đêm” (2018). Tác giả của những tập thơ này là Nguyễn Thị Ánh Huỳnh...
Nhà thơ Nguyễn Thị Ánh Huỳnh.

Lần đầu tiên tôi biết đến thơ của Nguyễn Thị Ánh Huỳnh là khi chị gửi chùm thơ tham dự cuộc thi thơ chào mừng kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội mang tên là “Thơ về Hà Nội” do báo Văn nghệ và đài PT-TH Hà Nội phối hợp tổ chức. Đó là quãng năm 2008 – 2010. Thú thực khi đọc những câu thơ như “Ngó từ cửa sổ máy bay/ tạm biệt !/ Hà Nội dưới hai ngàn mét/ xanh một vệt cảm động/ còn ai đó chào em/ kìa sông Hồng / cuốn lấy thủ đô / yêu đương ì oạp” (Hà Nội hớp hồn ai) tôi đã “giật mình”. Thơ của Nguyễn Thị Ánh Huỳnh có gì đấy đầy nữ tính được ẩn trong “vẻ” mạnh mẽ và hiện đại.

Thế rồi được làm quen với chị nhưng mà chỉ được làm quen dưới dạng “kết bạn” trên FB. Ban đầu khi thấy “nick” ghi là “Chiếc lá trên cành” tôi đã ngại. Ngại lắm khi kết bạn với những ai dùng “nick” không sử dụng tên thật, nhưng rồi “sự ngại” nhanh chóng trôi qua. Tấm ảnh đại diện đã cho tôi sự tin cậy. Đó là một người đàn bà có nét mặt thân gần. Nhưng cho mãi tới giữa thu năm 2015 tôi và chị mới được trò chuyện nhiều hơn, dịp đó Hội Nhà văn Việt Nam tiến hành Đại hội lần thứ 9. Buổi tối trước ngày khai mạc, như thông lệ, các đại biểu sẽ có buổi “làm việc” trước khi Đại hội chính thức tại Khánh sạn La Thành. Vừa bước chân vào sảnh trong thì tôi thấy một dáng người nhanh nhẹn rời khỏi ghế ngồi tiến lại gần. Tôi hơi ngỡ ngàng vì bất ngờ nhưng cũng dễ dàng nhận ra chị. Nguyễn Thị Ánh Huỳnh “củng cố” thêm, chị cười nói nhỏ “Chiếc lá trên cành đây mà”. Vậy là hai chị em thân với nhau. Chị bảo “Truyện ngắn “Ngôi sao xanh xa ngát” của Văn mình thích lắm. Giá mà có tiền để làm phim nhựa thì tuyệt”. Tôi mừng lắm, mừng nhất là “các nhà văn còn đọc nhau”.

***

Nhà thơ Nguyễn Thị Ánh Huỳnh khi “U50” mới trình làng với tập thơ “Giọt mưa bất chợt” nhưng đã nhanh chóng “lấy lòng” được độc giả yêu thơ bằng một “lối” thơ khá hiện đại. Một sự muộn mằn? Tôi có lần hỏi nhưng nhà thơ chỉ mỉm cười, chị không nói. Tôi đành nói kiểu tự nói với mình: “Năm 2003 in tập thơ đầu tay để rồi 4 năm sau thành “nhà thơ” thực thụ, Nguyễn Thị Ánh Huỳnh vào Hội Nhà văn Việt Nam năm 2007, chậm mà hóa ra nhanh”.

“Người con gái Long An” - mọi người đã thân mật gọi chị như vậy bởi mảnh đất Cần Đước ở nơi cuối dòng của con sông Vàm Cỏ Đông chính là quê hương chị. Cho dù sinh ra và lớn lên ở Sài Gòn nhưng mà sao người đọc vẫn phải “thảng thốt cõi lòng” khi đọc thơ của chị, chắc là chị phải yêu quê hương miền hạ Long An đến nhường nào mới viết được những câu đầy ám ảnh "Đước à/ có tiếng cười lạt lẽo/ nhưng khóc không lạt lẽo/ khóc mặn/ một hôm/ những cây đước bước lên bờ thành người Cần Đước/ em - người đàn bà miền Nam gốc đước" (Cần Đước).

Nhà thơ Nguyễn Thị Ánh Huỳnh vốn là một cô giáo dạy văn cấp 2, cư trú tại quận 8, TP.HCM. Những năm 80 của thế kỷ trước, đời sống kinh tế khó khăn, lại một nách 3 con nhỏ nên chị đã nghỉ dạy để ra tạp hóa ở chợ Hoà Hưng. Trong cái thời buổi “gạo tiền” ấy. Trong cái thời buổi “cơm áo không đùa với khách thơ” ấy, năng khiếu thơ và niềm đam mê thơ ca của chị đã bị cuộc sống khốn khó phong toả. Những tưởng thơ ca sẽ chỉ là dĩ vãng, ấy vậy mà hồn thơ trong chị cứ “dùng dằng”. Chị kể: “Chỉ những lúc về khuya, những cảm nhận đời sống qua sự nhạy cảm của sợi dây tình cảm thi ca mới lại được trỗi dậy”. Và cứ thế cứ thế, cô cựu sinh viên Văn khoa Sài Gòn lại ngồi dậy âm thầm làm thơ. Những bài thơ viết vội. Viết như thể nếu không viết thì cảm thấy như mình đang mắc lỗi vậy. Hồn thơ trong chị ào ạt tuôn trào để rồi lặng lẽ đọng lại trên những trang giấy viết học trò. Nhà thơ Nguyễn Thị Ánh Huỳnh tâm sự: “Hai con trai học xong đại học mình mới dám in tập thơ đầu tay” (đó cũng là lúc chị trở thành hội viên Hội Nhà văn TPHCM).

Hóa ra là vậy. Với thơ, Nguyễn Thị Ánh Huỳnh chưa bao giờ “muộn” cả mà chị chỉ chờ dịp thích hợp thì mới công bố mà thôi. Thảo nào khi nghe tôi hỏi về sự muộn mằn chị chỉ mỉm cười chứ không nói.

Tôi được nghe kể rằng, một dạo ở Sài Gòn người ta cứ thắc mắc không hiểu vì sao có một người đàn bà bán bánh mì trên hè phố mà có nhiều nhạc sĩ đến để đặt hàng viết lời bài hát đến thế. Đấy là Nguyễn Thị Ánh Huỳnh. Nếu nói theo cách người ta hay nói bây giờ thì “Thơ của mình phải như thế nào người ta mới đặt làm lời ca khúc chứ”. Người đàn bà có vóc dáng nhỏ nhắn, gương mặt nhu lành, tính nét thân gần ấy tưởng như chì biết lo toan việc nhà chăm chút con cái, ấy vậy mà “tâm hồn dào dạt”. Người ta còn nói thêm, chị đã phải giấu chồng giấu con, đem những tờ giấy có lời bài hát (kiểu “lén lút” gửi những lá thư tình vậy) ra ngoài đầu đường để trao cho các nhạc sĩ và để nhận về chút ít tiền “nhuận bút” mà nuôi con và để trả nợ. Chuyện nghe vui vui, chuyện thơ nghe chen lẫn chuyện đời.
Bìa tác phẩm của Nguyễn Thị Ánh Huỳnh.

Nhà thơ Nguyễn Thị Ánh Huỳnh cho hay quê hương chị có thứ gạo Nàng Thơm ngon nổi tiếng, những ai đã một lần được bưng bát cơm nấu bằng gạo Nàng Thơm hẳn không thể nào quên được thứ mùi có vị ngọt ngào ấy. Được ăn gạo Nàng Thơm, được uống nước Vàm Cỏ Đông – dòng sông thi ca ấy và “má chôn cuống nhau em/ vào tiếng cuốc/ chiều miệt vườn gió lạc trong cây/ đêm bị thương bởi tiếng đờn cò/ chú Tư vuốt/ ánh trăng thành tiếng nấc/ miệt vườn/ gan ruột ai xuống xề câu vọng cổ” (Miệt vườn) mới thấy dù sống xa quê nhưng tình yêu quê hương chưa khi nào cạn nguôi trong chị.

Có lẽ vậy chăng mà đọc thơ Nguyễn Thị Ánh Huỳnh, ta càng hiểu thêm về chị, nhất là khi nhà thơ từng trải qua quãng đời cơ cực của một gia đình trí thức, tần tảo vượt qua lận đận thời cuộc. Cay đắng nhiều, thêm quả ngọt, vợ chồng chị nuôi con khôn lớn, thành tài. Dù không còn những lãng mạn vẩn vơ song phía sau những câu chữ vẫn là màu lãng đãng mà chất chứa nhiều ân tình sâu nặng "Chúng ta lấy nhau/ vì khát/ giếng nước yêu/ đứt sợi dây gàu/... em ngó trời/ thấy giếng mọc thành sao". Hay như những câu thơ "Xin anh/ đừng múc cạn nỗi buồn/ trong đôi mắt em/ để em còn là giếng nước" (Đừng múc cạn nỗi buồn).

Có lần tôi hỏi nhà thơ Nguyễn Thị Ánh Huỳnh “Sao lại là chiếc lá trên cành?”. Chị cười: “Thì mình chỉ mong được như là một chiếc lá thôi”. Chất “con gái” vẫn là đấy, nhẹ nhàng và giản dị. Cái chất con gái trong thơ chị cho dù được biểu đạt bằng cảm nhận tâm hồn của một thi nhân hay diễn đại bằng những ngôn chất chứa cuộc sống thực nhưng chẳng thể nào lẫn được “bắc một cái thang/ là đèo Chuối/ bắc hai cái thang/ là đèo Bảo Lộc/ bắc ba cái thang/ là đèo Prenn/ em đã trèo lên mây/ bằng xe hơi/ Đà Lạt treo trên trời/ lửng hửng mù sương” (Bắc thang lên Đà Lạt).

Thơ Nguyễn Thị Ánh Huỳnh đọc sao mà “sướng” những câu thơ không giấu giếm, không ngại ngùng nhưng vẫn cho thấy một trái tim con gái rất “mong manh”. Những câu thơ như sau chẳng hạn “Nhớ tối nào/ anh hôn em/ bầm dập cả trăng non/ giữa trưa nắng/ anh hôn em/ trời đất tối mù/ trong đêm đen/ không có anh/ em vẫn được hôn/ sáng thức dậy/ chẳng có ai hôn ai/ ngoài ban mai/ đang hôn từng/ giọt sương/ sắp khóc” (Nụ hôn).

Sau đại hội lần thứ 9 Hội Nhà văn Việt Nam, nhà thơ Nguyễn Thị Ánh Huỳnh được “ngồi” trong Hội đồng Thơ, đó không chỉ là vinh dự mà điều đó thể hiện “về sự đánh giá” tài năng thơ của một “giọng thơ” đất phương Nam. Tôi đùa: “Được thiên hạ vị nể là nhất rồi còn gì”. Nhà thơ Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lắc đầu “Ngồi để làm việc cho công bằng, cho tử tế thì là một áp lực không hề nhỏ”. Rồi Hội đồng Thơ được lập mới theo định kỳ lại không thấy tên chị. Thôi cứ làm thơ bằng suy nghĩ của mình. Đấy, chùm thơ của chị mới in trên báo Văn nghệ hôm mùng 8 tháng 6 đấy. Hay “quá xá” luôn.

Tại sao lại là “Chiếc lá trên cành” nhỉ? Tôi chợt hiểu ra: “Thà làm một chiếc lá xanh trên những cành xanh còn hơn, chị nhỉ?”.

NGUYỄN TRỌNG VĂN
(TINH HOA VIỆT)



Thứ Hai, 22 tháng 7, 2019

Khí quyển thơ-sinh thái của Mai Văn Phấn: Thơ, bầu trời và những linh hồn

Nhà thơ Mai Văn Phấn

Bên câu thơ cư trú những linh hồn
 (Mai Văn Phấn)

Tóm tắt:

Từ góc nhìn phê bình sinh thái (ecocriticism), bài viết này mong muốn đóng góp một cách nhận diện khí quyển thơ – sinh thái đặc trưng trong thơ Mai Văn Phấn. Việc tập trung vào mối quan hệ đa chiều và không dễ nắm bắt giữa thơ ca (hành vi sáng tạo) – bầu trời (không gian sinh thái) và những linh hồn (sự sống ẩn tàng trong vạn vật) chỉ là vài ý tưởng, như hé một khung cửa nhỏ mở vào bầu trời.

Không khó nhận ra mối quan hệ mật thiết giữa thơ và sinh thái trong thơ Mai Văn Phấn, nhưng điều tôi muốn nhấn mạnh là, ở mỗi nhà thơ, mỗi thế hệ thơ, mỗi truyền thống thơ ca, mỗi thời đại, mối quan hệ giữa con người và môi trường sinh thái lại có những nét khác biệt. Dù thơ Việt Nam, cũng như nhiều quốc gia phương Đông, thường được cho là có quan hệ mật thiết với thiên nhiên, song cũng chính là những nơi đang có các vấn đề nghiêm trọng nhất về môi trường. Chính bởi thế, việc tiếp cận từ góc độ phê bình sinh thái ở trường hợp thơ Mai Văn Phấn, không phải chỉ là một mối quan tâm về không gian như một yếu tố trội của thơ anh, mà còn là một cách tra vấn mối quan hệ giữa thơ ca và tự nhiên tưởng như yên ổn. Từ đó, việc sáng tác và phê bình cũng đồng thời là sự đề xuất những cách nghĩ khác, cũng chính là điều sẽ quyết định cách con người ứng xử và chung sống với Tự Nhiên, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa và khủng hoảng sinh thái buộc chúng ta phải tìm con đường trở về với trái đất nguyên thủy.

Một vấn đề khác không kém quan trọng mà tôi muốn nhấn mạnh song song với chủ đề trên là ý thức thơ tồn tại như một hệ sinh thái của Mai Văn Phấn, một con đường sáng tạo riêng mà thi sĩ lựa chọn từ những bài thơ đầu tiên, có thể là một hành trình từ vô thức đến ý thức ngày một rõ hơn. Trong hành trình đó, Mai Văn Phấn đã nỗ lực khám phá ngôn ngữ như một phương cách thiết yếu để thấu nhập vào thế giới tự nhiên và từ đó, tạo dựng khí quyển thơ riêng của mình, một bầu khí quyển kết nối cá thể người và thế giới, linh hồn người và linh hồn tạo vật trong sự bình đẳng và quấn bện của tình yêu thuần giản. Do đó, đọc thơ Mai Văn Phấn từ góc nhìn này cũng khơi mở hi vọng về một con đường sáng tạo thơ ca, trong đó, việc trở về với cội rễ đồng thời là một cách nạp năng lượng cho thi ca. Ở góc độ này, Mai Văn Phấn, ngay khi được xếp vào thế hệ những nhà thơ đổi mới với nỗ lực cách tân thi ca đã khẳng định một cách nghĩ riêng về giá trị và sáng tạo.

***

Về mặt từ nguyên, Tự nhiên (nature) không phải chỉ để quy chiếu tới thế giới phi-nhân (nonhuman [1]) mà gốc Latin của nó là natura, nghĩa là “đặc điểm thuộc về tự nhiên, vũ trụ” hay natus (sự sinh ra, được sinh ra)… để phân biệt với thế giới được chế tạo, như các đồ vật được làm bởi con người. Dẫu vậy, “tự nhiên” đã trở thành một diễn ngôn mơ hồ, lưỡng lự và luôn biến đổi, nó là cái tồn tại mặc nhiên từ buổi hoang sơ, nhưng cũng là cái đã bị con người sở hữu và chiếm hữu theo nhiều cách. “Tự nhiên” do đó đã không còn là nó một cách nguyên thủy, mà các yếu tố cấu thành nó ít nhiều đều bị quy định bởi con người. Theo sự biến thiên này, cặp từ tự nhiên (nature) - văn hóa (culture) không còn là sự đối lập đơn giản mà chúng “nợ nần” lẫn nhau. Từ ngữ mà con người tạo ra để phân lập với chính mình nay nở ra vô tận các dạng tồn tại, và dần dần, trở thành một cấu trúc ngôn ngữ và văn hóa - xã hội. Thêm nữa, chính con người cũng đã tạo ra những dạng công nghệ xanh, mà ở khía cạnh nào đó, góp phần làm nhòa mờ sự phân lập giữa không gian xã hội và tự nhiên.

Mối quan hệ giữa văn chương nghệ thuật và môi trường sinh thái là điều tưởng như hiển nhiên từ thời tiền sử, nhưng suốt một thời gian dài, môi trường chỉ được coi là một dạng “phông nền” ít quan trọng trong tác phẩm. Sự ra đời chính thức của phê bình sinh thái (ecocriticism) vào đầu thập kỉ 90 của thế kỉ XX không phải là một cuộc cách mạng đột ngột, nhưng sự phát triển mạnh mẽ và đa dạng của nó trong những thập niên sau đó cho đến nay khẳng định tầm quan trọng của việc để tâm đến mối quan hệ giữa thế giới con người và thế giới phi-nhân trong các diễn ngôn văn hóa. Cùng với các mối quan tâm về tự nhiên, phê bình sinh thái trở thành một giải pháp khôi phục ý nghĩa và tầm quan trọng của tự nhiên với con người cũng như khẳng định vai trò của ngôn ngữ trong việc định hình và thay đổi các quan niệm về tự nhiên. Cho đến nay, phê bình sinh thái không hề có một khuôn khổ đông cứng về đối tượng, phương pháp cũng như các vấn đề chính, mà nó càng ngày càng mở rộng và phức tạp. Xu hướng tìm kiếm và khai thác các sáng tác mang chủ đề thiên nhiên hoặc có sự tập trung mạnh mẽ vào thiên nhiên như mục ca lãng mạn (romantic pastoral) dần chuyển sang phê bình sinh thái - xã hội (eco-social), chẳng hạn như ecofeminism (nữ quyền sinh thái), phê bình sinh thái và các vấn đề giới, bản sắc, không gian hậu thuộc địa, v.v... Đối tượng khảo sát cũng mở rộng tới cả các diễn ngôn khoa học, phim hoạt hình, chương trình truyền hình. Lĩnh vực này còn mới mẻ ở Việt Nam và cần đến những giới thiệu và dịch thuật công phu của giới nghiên cứu, nhưng có thể hiểu một cách đơn giản, phê bình sinh thái đang được thừa nhận theo nghĩa rộng nhất là mọi nghiên cứu về các tác phẩm liên quan đến tự nhiên, mối quan hệ của con người và thế giới phi-nhân, ngay cả khi mối quan hệ đó không hiển hiện rõ ràng như một chủ đề trực tiếp. Phê bình sinh thái với văn chương, sinh ra và phát triển từ các nước Âu - Mỹ, với các chất liệu Âu - Mỹ như thơ lãng mạn của Wordsworth, John Clare, Henry David Thoreau, v.v… đang có xu hướng mở rộng tới những vùng văn chương Á, Phi, Viễn Đông. Chính các học giả Âu - Mỹ lại tìm đến các nước phương Đông – vốn được coi như là kiểu mẫu của tình yêu, sự gắn bó với thiên nhiên, sự sủng ái thiên nhiên nhưng cũng là những vùng nảy sinh nhiều vấn đề về môi trường nghiêm trọng hơn hết – để nghiên cứu, như một cách mở rộng phạm vi chất liệu của phê bình sinh thái, và từ đó khai mở những tiềm năng lý thuyết mới của phê bình sinh thái.[2] Trong văn chương, mối quan hệ của con người và thế giới phi-nhân tất nhiên được nhìn nhận trước hết từ văn bản tác phẩm.

Được gợi ý từ phê bình sinh thái, cùng với trải nghiệm đọc cá nhân, tôi hướng tới nhận diện khí quyển thơ-sinh thái đặc trưng của Mai Văn Phấn. Việc tập trung vào mối quan hệ đa chiều và không dễ nắm bắt giữa thơ ca (hành vi sáng tạo) – bầu trời (không gian sinh thái) và những linh hồn (sự sống ẩn tàng trong vạn vật) như những biểu trưng quan trọng chỉ là vài ý tưởng, như hé một khung cửa nhỏ mở vào bầu trời. Không khó nhận ra mối quan hệ mật thiết giữa thơ và sinh thái trong thơ Mai Văn Phấn, không khó cảm nhận Mai Văn Phấn là nhà thơ – tình nhân đích thực của thiên nhiên nhưng điều tôi muốn nhấn mạnh là, ở mỗi nhà thơ, mỗi thế hệ thơ, mỗi truyền thống thơ ca, mỗi thời đại, mối quan hệ giữa con người và môi trường sinh thái lại có những nét khác biệt cần khám phá. Chính bởi thế, việc tiếp cận từ góc độ phê bình sinh thái ở trường hợp thơ Mai Văn Phấn, không phải chỉ là một mối quan tâm về không gian như một yếu tố trội của thơ anh, mà còn là một cách tra vấn mối quan hệ giữa thơ ca và tự nhiên tưởng như yên ổn trong truyền thống thơ Việt Nam và thơ phương Đông. Từ đó, việc sáng tác và phê bình sẽ đồng thời là sự đề xuất những cách nghĩ khác, cũng chính là điều quyết định cách con người ứng xử và chung sống với Tự Nhiên, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa và khủng hoảng sinh thái buộc chúng ta phải tìm con đường trở về với trái đất nguyên thủy. Một vấn đề khác không kém quan trọng mà tôi muốn nhấn mạnh song song với chủ đề trên là ý thức thơ tồn tại như một hệ sinh thái của Mai Văn Phấn, một con đường sáng tạo riêng mà thi sĩ lựa chọn từ những bài thơ đầu tiên, có thể là một hành trình từ vô thức đến ý thức ngày một rõ hơn. Trong hành trình đó, Mai Văn Phấn đã nỗ lực khám phá ngôn ngữ như một phương cách thiết yếu để thấu nhập vào thế giới tự nhiên và từ đó, tạo dựng khí quyển thơ riêng của mình, một bầu khí quyển kết nối cá thể người và thế giới, linh hồn người và linh hồn tạo vật trong sự bình đẳng và quấn bện của tình yêu thuần giản. Do đó, đọc thơ Mai Văn Phấn từ góc nhìn này cũng khơi mở hi vọng về một con đường sáng tạo thơ ca, trong đó, việc trở về với cội rễ đồng thời là một cách nạp năng lượng cho thi ca. Ở góc độ này, Mai Văn Phấn, ngay khi được xếp vào thế hệ những nhà thơ đổi mới với nỗ lực cách tân thi ca đã khẳng định một cách nghĩ riêng về giá trị và sáng tạo.

Hệ sinh thái trong thơ Mai Văn Phấn: những linh hồn trong bầu trời

Theo một góc nhìn hẹp, có thể xem các thi phẩm của Mai Văn Phấn, dù hoàn toàn không có những liên đới trực tiếp với thơ điền viên trung đại hay thơ đồng quê lãng mạn, nhưng cũng có thể coi là các bài thơ sinh thái (ecopoems) hay thể hiện yếu tố thơ sinh thái (ecopoetics) [3]. Thiên nhiên trong thơ trung đại Việt Nam, đậm đặc ở mảng thơ Thiền Lí Trần, thơ điền viên, thường được coi như điểm gợi hứng, biểu tượng hay một khung cảnh. Đến Thơ Mới lãng mạn, tiếp thu ảnh hưởng của văn học Pháp, thiên nhiên trở thành đối tượng mô tả khách quan, trở thành chính nó, đặc biệt ở những nhà thơ “thuần túy thiên nhiên” như Đoàn Văn Cừ, Bàng Bá Lân, Anh Thơ, riêng Nguyễn Bính có những biến thể, trong đó sức mạnh của đô thị được biểu hiện như một không gian hủy diệt bản tính, không chỉ con người “chân quê” mà cả bản tính thiên nhiên (“hương đồng gió nội bay đi ít nhiều”). Cảm hứng mạnh mẽ với thiên nhiên, đồng quê trong thơ thời Đổi mới có thể kể đến nhiều tác giả với những cá tính riêng biệt: ít nhiều Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn còn giữ niềm vui hồn nhiên với không gian quê kiểng; Nguyễn Quang Thiều hoài tiếc đến đau đớn như thể hoài nhớ một thiên đường đã mất, Cái Đẹp và Sự Cao cả đã mất, một kẻ muốn “rời bỏ thành phố” để tìm lại những giá trị vững bền của con người và tự nhiên, nhưng cũng không ít va đập đau đớn; Trần Tiến Dũng nhớ bầu trời quê, tự nguyện làm “người chơi một mình tự do trên đồng đất” trong tưởng tượng đến chỗ “đô thị hóa”, thậm chí trở nên “đặc sệt” đô thị với góc nhìn hài hước (qua các tập thơ từ Khối động (1997), Hiện (2000) tới Bầu trời lông gà lông vịt (2003). (Chắc chắn còn những tác giả khác mà tôi chưa có cơ may đọc, chẳng hạn tôi rất tò mò về tập thơ với cái tên rất dài của Thi Hoàng Theo đuổi tự nhiên và những bài liên quan hay là cộng sinh với những khoảng trống). Trong số các cá tính thơ đó, Mai Văn Phấn dường như giữ một cái nhìn điềm tĩnh hơn. Đọc thơ anh, tôi cảm nhận một quan hệ tương thích hài hòa của kẻ thấy mình trong thiên nhiên và thấy thiên nhiên trong mình hơn là những nỗi bi ai, hoài nhớ, đau xót một thiên đường đã mất. Có những khi, thế giới phi-nhân muốn nổi loạn, “đòi đặt tên”, nhưng nhiều hơn vẫn là một sự quấn bện kì lạ, như thể anh sống ở một không gian khác, nơi các linh hồn kết tụ với nhau đầy bí ẩn cùng với viễn tượng về một không gian (thơ) sinh thái của thì tương lai. Cách ứng xử, chung sống với tự nhiên của Mai Văn Phấn trong quan niệm và trong thơ ca dường như cũng là căn cốt thi sĩ của anh, đồng thời là cái “khí” thơ đẹp khỏe khoắn, vững bền, tinh lọc, không hướng về những vùng tối mà hướng về ban mai và ánh sáng, không bị kéo trĩu bởi cảm thức hoài nhớ (nostalgia) hay nỗi “thương nhớ đồng quê”- để gợi nhắc một tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp - thường thấy trong văn chương lãng mạn và hiện đại, khi những giá trị của văn minh xung đột với những vẻ đẹp văn hóa bản nguyên.

Bầu trời

Không gian thơ Mai Văn Phấn dường như được nuôi dưỡng bởi kí ức vùng nông thôn miền Bắc Việt Nam, kí ức giàu có đó vẫn đầy sức sống ngay cả trong không gian đô thị hóa của thì hiện tại. Cũng có thể bởi Hải Phòng, như đôi điều tôi cảm nhận, là một đô thị biển, không đậm đặc chất đô thị như Sài Gòn, không có nỗi hoài vọng về “thủ đô thanh lịch”, lại vẫn giữ được vẻ phóng khoáng của gió, nước, một không gian hỗn trộn giữa làng và phố, nhiều phấp phỏng về thế giới vật chất nhưng vẫn dễ dàng bắt được một bóng cây, một bóng mây đẫm lửa…  Cảm giác dằn vặt vì mất mát không đậm nét trong thơ Mai Văn Phấn, và thậm chí, ở khía cạnh nào đó, anh còn được nuôi dưỡng bởi một thứ suối nguồn lãng mạn để xây dựng những tưởng tượng đẹp về thời chưa tới với một không gian đô thị sinh thái, một không gian trút bỏ mọi ràng buộc, trở thành Tự Nhiên, mở rộng đến vô cùng, mà lại có thể thu vào trong lòng tay, để cái mênh mông đó cũng là một không gian Mái Nhà. Nơi đây, trẻ con sinh ra và sự sống khai mở, hồi sinh, những nguồn cảm hứng mãnh liệt của Mai Văn Phấn từ những sáng tác giai đoạn đầu:

Màu xanh
Trái đất - Căn nhà hộ sinh
Tiếng trẻ con chào đời truyền trong không gian xanh những dòng
mật mã...
Đêm đầu mùa
Anh cuống quýt hôn em qua kẽ lá
Khi sương tan cành biêng biếc xanh.
Cô đơn tràn bãi trưa hanh
Mùa đi rung cây lá đổ
Phải dằn dữ và cũng mềm như gió
Gió từ biển xanh mang sắc của trời.
Bình minh lên chiếu sáng nửa đời
Còn nửa kia chìm vào bóng tối
Bao lối cỏ cứ xanh vội vội
Thấm lên bàn chân ai qua.
Sóng trên cây thầm thĩ mỗi hiên nhà
Con đò thời gian hối hả
Khi mỗi chúng ta là chiếc lá
Thì rừng hoang bỗng hóa nhà mình.
Trái đất -  Căn nhà hộ sinh
Tiếng trẻ con chào đời truyền trong không gian xanh những dòng
mật mã...

Ở bài thơ này, Trái Đất – không gian rộng lớn được đồng nhất với Căn Nhà Hộ Sinh, và hơn thế, Tình Yêu (hôn nhau qua kẽ lá) cùng với sự Sinh Ra (tiếng trẻ con chào đời) hợp thành một thế giới trở về đúng với cái khởi nguyên, cái kì diệu, và tất cả cũng được đồng nhất với Màu Xanh. Nếu nói bầu trời là không gian ôm trùm thơ Mai Văn Phấn, thì cách diễn đạt tốt nhất có lẽ chính là thơ của anh: viễn tượng về một “Bầu trời không mái che”, tên tập thơ mới nhất của anh năm 2010. Bầu trời này, không chỉ là giấc mơ về một không gian sống khoáng đạt, nó còn là một giấc mơ về không gian tư tưởng, cảm xúc, nơi các cá thể người và không phải người thả lỏng tuyệt đối để tận hưởng và khai mở sự sống bản thể.

ao chuôm tìm hướng lên trời
dòng sông vừa chảy
vừa sinh nở
             (Đất mở)

Thực ra, nếu so sánh với các hình tượng các yếu tố nguyên thủy khác như đất (biến thể là cánh đồng, đất đai, v.v…), nước (biến thể là sông, biển…), lửa (biến thể là ánh sáng, mặt trời) thì “bầu trời”(đúng ra là biến thể của yếu tố “khí” nguyên thủy, cùng với các biến thể khác như hơi gió, làn hơi…) xuất hiện có vẻ thưa vắng hơn. Tuy nhiên, hình tượng không gian này lại trở nên giàu có, bởi tiềm năng khêu gợi tưởng tượng về một không gian vô tận của tự nhiên và suy tưởng của nó, bởi đó là chiều cao, chiều rộng và cả chiều sâu, bởi nó hướng về một viễn tượng xa xôi. Một lí do khác ngẫu nhiên hơn, “Bầu trời không mái che” có thể dẫn đến liên tưởng thú vị với “Bầu trời có nắp đậy”, một ví von tinh nghịch thi vị của Trần Tiến Dũng – như biểu tượng cho thế giới đô thị của anh, một thế giới phân biệt với làng quê bởi cái… bồn cầu.  Cái viễn tượng trái đất xanh, đô thị xanh, mái nhà xanh của Mai Văn Phấn cũng có thể quy chiếu xa hơn với “thơ đô thị” nhiều thế hệ: Từ Tú Xương buổi giao thời đến Vũ Hoàng Chương thời Thơ Mới đến không gian thơ đô thị của Trần Tiến Dũng chẳng hạn. Dường như Mai Văn Phấn có khả năng thích nghi và hòa hợp, do đó không tra vấn day dứt về các phạm trù tự nhiên và đô thị để chấp nhận, đau xót hay dấn thân như Trần Tiến Dũng, không chìm đắm trong hoài niệm và huyền thoại như cách của Nguyễn Quang Thiều, anh thấu nhập “tôi” vào vũ trụ, tan vào đất, nước, lửa, không khí, vào những yếu tố bản nguyên. Mai Văn Phấn đã tìm đến thiên nhiên theo cách của một thi sĩ phương Đông: hòa nhập vào “thế giới”, phóng chiếu tâm tưởng vào vũ trụ để nhận ra cái tinh thần, hay những linh hồn của muôn vật.

Linh hồn

Trong bầu trời sinh thái của Mai Văn Phấn, có những thực thể tồn hữu sống động-linh hồn, cả linh hồn con người, linh hồn cây cỏ, thậm chí cả linh hồn đồ vật. Tính chất thực của không gian sinh thái do đó được ảo hóa, hình tượng thơ trở nên lưỡng lự đa nghĩa. Nếu tự nhiên trong thơ anh được “thi hóa” thì cái môi trường vật lí mà anh quan sát, cảm nhận kĩ lưỡng, chính xác cũng chính là môi trường tinh thần khó có thể phân lập.
Chẳng hạn, một bài tứ tuyệt đáng nhớ trong tập Gọi xanh.

Bất chợt vệt cánh chim bay qua 
Hay quanh quất bóng mình sót lại 
Cánh chim tựa que diêm quệt vào ngây dại 
Ngọn lửa thiên thần nào có thể bén vào tôi
(Cánh chim bay qua)

Bầu trời có cánh chim bay, nhưng ngôn ngữ thơ không muốn làm chức năng của một chiếc máy ảnh chớp nhanh và làm bất động một khoảnh khắc, ngôn ngữ muốn lưu giữ, không phải cái còn hiện diện, mà là cái vừa vắng mặt nhưng vẫn như là đang hiện diện,đang còn lại dấu vết trong bầu trời kia. Dấu vết của “cánh chim bay qua”, để lại vệt chớp sáng, nhưng cũng là vệt bóng mình, nhưng cũng không phải là cái bóng của thân xác đang hiện hữu, mà hóa ra là cái bóng của tiềm thức về thời thơ ngây dại vừa chợt hiện lên… Mấy câu thơ nén chặt những lớp hình ảnh không gian mờ chồng, như trong một bầu trời mở ra vô tận bầu trời, những lớp thời gian mờ chồng, cả quá khứ, hiện tại đồng hiện… Rõ ràng, chính xác mà hư ảo. Thành ra, không gian sinh thái trong thơ Mai Văn Phấn là không gian của tưởng tượng, của ý nghĩ nhiều hơn. Cảm giác về vùng đồng bằng Bắc bộ có thật (như thôn Vân của Nguyễn Bính) hay những ấn tượng về biển không đậm đặc trong thơ anh. Nó chìm vào hồi ức, cảm giác, nó được chắt lọc lại, trở thành một thứ nước chưng cất, không vướng bụi.

Nỗ lực đi sâu vào thế giới cảm giác, vào cái vô thức, tiềm thức, đánh thức những mối liên hệ ẩn tàng trong lòng tạo vật tồn tại bình đẳng và thống nhất cũng là nỗ lực tra vấn các kinh nghiệm mới mẻ của ngôn ngữ trong việc “thăm dò tiềm thức” và tái hiện những kinh nghiệm đột khởi tươi ròng. Độc giả dường như có thể nảy ra bất cứ câu thơ nào của thi sĩ mà họ yêu mến để ngắm nhìn và mộng tưởng cùng những linh hồn bay nhẹ như hơi thở, như hơi đất râm ran vị cỏ mùa xuân.

Tôi thích cách Mai Văn Phấn viết về “hôn nhau”. Nụ hôn và hành vi hôn, và “thực thể hôn” là đôi môi luôn được bọc trong sự tươi mát của tự nhiên, con người sinh ra cùng thiên nhiên và tình yêu cũng sinh ra cùng thiên nhiên: “hôn nhau qua kẽ lá” “khép vào kẽ lá”… là hình ảnh thường thấy trong thơ anh, những cá thể người tự thu nhỏ để trở thành những sinh thể trú ngụ trong ngôi nhà xanh của lá. Có thể kể nhiều câu thơ khác:
Những đôi môi giấu mãi vào nhau
Như vỏ cây muốn lẫn vào ruột gỗ
Sự hòa hợp thành lặng im bắt đầu.
             (Sợi dây im lặng)

Hôn em trời đổ mưa
đất đai hồi sinh tươi tốt
Hạt giống nảy mầm rồi bỏ đi xa
             (Những bông hoa mùa thu)

Hành vi của con người dường như luôn được quan sát bằng “con mắt thiên nhiên”. Không gian không phải là bối cảnh tĩnh mà là một thực thể, là một sự tham dự.

Qua kẽ lá, nắng lay tôi từng giọt
(Ngủ quên trong rừng)

Sau tiếng chân chim nhẹ nhàng đậu lên sống lưng đỉnh sọ
Ta thấy qua ngực mình mây xám dần trong.
             (………)
Bóng em đi bằng bước chân của gió
Trên mình anh những tiếng chân nai
(Vầng trăng và con đường)

Cũng từ góc nhìn này, Mai Văn Phấn nhìn ra sức sống và sức mạnh của thiên nhiên so với những giá trị nhân tạo, và thế giới các đồ vật – vốn là “thiên nhiên” được con người khai thác, tạo ra để “ủng hộ” sức mạnh của con người – đã phải nhận lấy các bài học từ thiên nhiên, theo lời vọng của tổ tông, tổ tông của con người và tổ tông của chính các đồ vật. Có lẽ không cần phân tích dài dòng, bài thơ “Quay theo mái nhà” trong một tập thơ như muốn nổi loạn (Tập Hôm sau) là một ví dụ tiêu biểu:
Đêm tỉnh dậy. Đồ gỗ trong phòng mọc tua tủa nấm nhĩ. Bức tượng chảy xệ xuống thành nắm đất nhão. Chiếc quạt mở ra lần cuối rồi khép lại làm ống tre. Trong bóng tối, tiếng những nghệ nhân đã khuất cùng đồng vọng:

- Hãy quay theo mái nhà đánh thức các đồ vật!

Tôi quay cùng chai lọ, con giống, bóng đèn… qua môi người thợ thổi thủy tinh, qua con chữ rùng mình nhìn bột giấy chìm trong thuốc tẩy. Những giọt mực tụ lại rồi loang xa như một vết dầu. Bộ quần áo trang nghiêm rũ xuống. Đấy là giờ mặc niệm tơ tằm và những cây bông. Bóng tối nuốt sạch thực phẩm ôi thiu, không khái niệm về văn hóa ẩm thực. Hương trà thơm về rừng. Nước gào thét trong chiếc ấm bục đáy....

Những đồ vật quay không thể dừng lại. Thùng rác quay mắc phải khung ảnh, quạt trần, dây điện thoại. Chiếc quần lót mắc kẹt giữa tủ bát đĩa và máy tập thể hình. Chổi cùn, bình diệt muỗi, đĩa CD chui vào tủ lạnh. Con cá tắt thở trên đường gần đến cửa sổ. Lũ chuột nhắt chết đuối bơi qua chảo mỡ. Bột giặt vừa quay vừa rắc lên hoa quả, dao thớt, bàn thờ. Bát nước chấm quay cùng bìa đậu phụ. Lọ tương ớt lao đi trong tư thế lộn ngược. Và kim giây quay chậm hơn hẳn kim giờ...

Mọi người vừa quay vừa tỉnh dậy. Vẫn đủ thời gian uống nước và rửa mặt. Chọn cho mình một đồ vật bất kỳ. Và nhanh chóng đặt chân vào vạch Xuất phát.


Những gì chúng ta tiết lộ trong thơ không phải là cái tồn tại có thực, không phải là kinh nghiệm mà chỉ là các dấu vết của kinh nghiệm – thứ kinh nghiệm luôn bị điều kiện hóa bởi cấu trúc văn hóa, trong đó có thiên nhiên, môi trường. Vậy thì cần phải lật lại một nhận thức ảo tưởng: phải chăng con người là loài cao cấp nhất và có quyền sở hữu hay thống trị thế giới phi-nhân, bằng chính sức mạnh của họ và bằng những công cụ mà họ đã tạo ra? Mai Văn Phấn dường như đã linh cảm chính xác rằng tự nhiên luôn không im lặng, nhưng con người có thể đánh mất tiếng nói bởi lòng kiêu ngạo. Bởi thế, con người nghe tiếng nói của tự nhiên là nghe chính mình, hay phải nghe tiếng nói của tự nhiên để hiểu chính mình. Con người từ chối tự nhiên là từ chối sự hiểu biết về chính nó. Vậy là, mối quan hệ của cái tôi với Cái Khác (Others) không phải chỉ là mối quan hệ của Tôi như Người Này với Người Khác, theo xu hướng nhân trung luận (humancentric) mà còn là mối quan hệ của Tôi và Tự Nhiên, trong đó Tự Nhiên cũng là một Cái Khác tồn tại bình đẳng trong không gian vũ trụ. Nhưng nó không biệt lập với con người, bởi có thể, tự nhiên ở chính tâm hồn con người vậy, và có thể con người đang nằm ngủ đâu đó trong kẽ lá kia thôi.

Thơ như một cấu trúc sinh thái

Thơ Mai Văn Phấn có thể coi như một cấu trúc sinh thái: từ nhan đề các tập thơ, từ cách trình bày, sự trở đi trở lại của một số chủ đề cơ bản, một số không gian thơ, mối liên hệ giữa tác giả và vùng đất máu thịt của anh… Đi sâu hơn vào các văn bản thơ, một nhà thống kê học tỉ mỉ sẽ gom góp được một hệ từ vựng đáng kể về hệ sinh thái: đất đai, bầu trời, con nước, biển cả, gió lộng, vách núi…. Điều đáng chú ý là hệ sinh thái này luôn như mang giọng con người. Như thể làm nhớ tới một cụm từ nổi tiếng của nhà thơ Mỹ Seamus Heaney, trong một thi phẩm về thiên nhiên “Kinship”, cụm từ “nguyên âm của trái đất”, cây cỏ trong khí quyển của Mai Văn Phấn cũng Tập phát âm:

Không còn ác cảm hôm nào
Bóng tối mềm duỗi dài trên đất
Thanh bĩnh tĩnh lặng
Cỏ hân hoan vừa nhận ra mình.
Màu đen thấm dần từ ngọn xuống chân
Chảy từ vú u ơ khổng lồ nhẫn nại
Dòng sự thật âm bản hiện lên
Ngỡ ai phát nhanh những thước phim đã mốc.
Miệng bóng tối ghé vào thanh bạch
Hơi độc từng phun ngược lại âm hình
Nơi đoán phạt trắng đen, thiện ác
Lá cỏ trồi ra chiếc lưỡi phân minh.

Đâu là cách kết nối giữa các yếu tố tự nhiên và ngôn từ thi ca? Phải chăng ở chính khoảng không của tự nhiên và khoảng lặng của những chữ, sự viết bắt đầu? Ở đó, cây cỏ “nhận ra mình” để nói lên sự thật bằng “chiếc lưỡi phân minh”.

Người đọc cũng dễ dàng nhận ra hàng loạt những hình tượng thiên nhiên có tính chất biểu tượng, ẩn dụ trong thơ Mai Văn Phấn. Tôi muốn nói thêm rằng: đó không phải là những biểu tượng bất biến, cố định, chết cứng, mà nó sinh thành cùng kinh nghiệm cảm giác của chính tác giả trong mỗi lẫn phát kiến một bài thơ, một câu thơ, thậm chí một từ ngữ. Cái kinh nghiệm đó không ai thay thế được. Do đó, khi nhà thơ nói đến nước, bầu trời, cỏ cây, vách đá… thì đó không phải là những biểu tượng sẵn có mà là cách nhà thơ cảm nhận về thế giới. Và ngược lại, những từ ngữ đó cũng không “tự nhiên sinh ra” mà bị định dạng bởi chính tự nhiên. Một quan hệ phụ thuộc hai chiều. Ý nghĩa của thơ ca, ở khía cạnh nào đó, mang khả năng khơi gợi lại, không phải để gọi tên sự vật mà còn là tiết lộ thân phận của chúng, khám phá thân phận của thiên nhiên trong thế giới ngôn ngữ, trong quan hệ với con người. Cũng chính bởi từ ý thức đó, Mai Văn Phấn khơi sâu mạch nguồn ngôn ngữ của cảm giác để phá bỏ những hàng rào ngôn ngữ và đi sâu vào thế giới của những linh hồn, dù tất nhiên, anh ý thức ngôn ngữ có giới hạn của nó.

Và để những linh hồn bay lượn tự do trong bầu trời, để là một linh hồn tự do trong bầu trời, Mai Văn Phấn chọn thơ ca.

Thơ là để bám rễ vào mặt đất

Nỗ lực tìm đến nguồn cội của thi ca cũng như bản lai diện mục của con người đưa nhà thơ trở về với đất đai, đồng quê như nguồn cội của sự sinh. Đồng quê gắn với công việc làm ruộng và thiên nhiên đã trở thành quan hệ mĩ học của nhà thơ với một vùng đất. Có lẽ phải hiểu bầu khí quyển thơ khi Mai Văn Phấn xuất hiện với tư cách một nhà thơ, cuối những năm 90 của thế kỉ XX, khi cuộc va chạm với văn minh làm cho không gian đồng quê thương tổn, đổ vỡ, nỗi lo âu, đau đớn biểu hiện mạnh mẽ trong văn xuôi Nguyễn Huy Thiệp, thơ Nguyễn Quang Thiều… để hiểu hơn thái độ điềm tĩnh và hơn thế, đầy khao khát kiếm tìm dấu vết quá khứ của Mai Văn Phấn. Không nặng về “tự thú trước cánh đồng”, anh muốn ”nhân danh đất đai” để lần tìm kí ức từng thớ đất, từng vết người đi trên cỏ.

Tôi chưa từng đọc nhà thơ nào khao khát lần tìm dấu vết của kí ức tha thiết, thành thực và tinh tế như cách ứng xử của Mai Văn Phấn. Mười bài tập mùa xuân có thể là một khúc biến tấu trên chủ đề kí ức. Kí ức của nhụy hoa đầy dấu chân ong. Kí ức vết bùn gợi dáng ông bà, con đường cổ lỗ. Kí ức cánh cò trong bức tranh thủy mặc. Mặt người đã khuất và hồn người chết. Dường như sức mạnh của đô thị hóa và toàn cầu hóa làm con người và cả thơ ca, hốt hoảng trước khả năng có thể bị đánh bật ra khỏi gốc rễ bất cứ lúc nào. Mai Văn Phấn muốn mình là cái cây có rễ thật sâu, thật khỏe, cái rễ trụ vững trước mọi bão gió, làm thành bản sắc thơ và căn cước tâm hồn anh, cái gốc rễ nằm sẵn trong con người và trong thơ, nhưng phải tìm và tìm ra nó. Anh lưu giữ cẩn trọng tro than của mùa đốt đồng trên ngực mình, đồng thời cũng theo “chiếc cày chìa vôi sục tìm trong đất” để “Lật lên bao kiếp người theo vết chân trâu”.

Mai Văn Phấn ca ngợi vẻ đẹp cội rễ, ngay cả khi phóng túng bật tung cội rễ:

Bay qua. Bay qua
Tóc cuốn cành khô
Thân em nhẹ làm bật tung cội rễ
              (Hát từ đất)

Cội rễ giữ đất
Con đường bầu vú vương thơm
nối khuôn mặt với bao nhiêu hộp sọ
trên tay chuyền một chuyền hai
             (Làng)

Cội rễ anh vươn mắt em nhìn tươi tốt
Từng đọt mầm phun hơi ấm lòng đất ướt
từ hơi thở làm bầu trời đổi khác
từ khoảng không được quyền kiến tạo đám mây
             (Bài hát mùa màng)

Nhưng thực ra, ở hầu khắp các bài thơ trong các tập thơ của anh đều có thể tìm thấy chiều sâu quan niệm về mối liên hệ của con người, thiên nhiên và cái gọi là “cội rễ”. Tôi rất muốn đọc thưởng thức những bài thơ này, chỉ cần đọc lên, để nghe vang vọng tiếng của tổ tiên, của cội nguồn, của những tiền kiếp tạo thành hiện tại.

Bức ảnh, trái cây và giấc mơ

Những bức ảnh thiếu sáng, những trái cây chín ép và giấc mơ rụng cánh trước cơn mưa, chầm chậm trôi ngược dòng ký ức.
Theo ngọn gió mở cánh đồng buổi sớm, ùa vào những căn phòng lẫn bụi và ánh sáng, lau mồ hôi vừa tắm gội giấc mơ.
Và như thế, cội nguồn trong gang tấc, lúc quay về là đi hết đời mình, hay chờ luân hồi trở lại kiếp sau.
Những linh hồn kia chưa kịp đầu thai, đang ngưng lại nơi không gian thờ phụng, bay lửng lơ rồi nấp vào bái vật giáo bất động.
Có ai chạy từ giấc mơ, trái cây đến bức ảnh, để nhặt được những gì mình đánh mất, nghe tù đọng từng giọt nước mắt và nhận ra sự chai lì của mỗi bóng râm.
Nơi đầu nguồn đã thay một không gian và thế hệ cỏ non đang ran ran trên đất.
Những linh hồn đứng vào góc mở ánh sáng khác, trong tiếng rên của giọt sương mới, dè dặt vụng về gõ cửa từng nguyên âm.
Nhưng khắp nơi đang bắt đầu những dòng đổ vào ký ức, cả từ bức ảnh, trái cây, giấc mơ thành giọng nói đêm qua.

Hồi sinh

Cùng rền rĩ trong mê man cơn sốt
Cho tầng lá già lênh đênh chưa kịp mục
Cho bén rễ vào thịt da những mùa ngũ cốc
Nước mắt ban mai trổ những đòng đòng.
Trên ngực bùn nâu đã linh thiêng ban lộc
Máu hồi sinh rần rật chạy qua
Thấy nghĩa địa lặn đi thành vết sẹo
Thấp thoáng người xưa tỉnh lại cấy cày .
Và nhảy múa với các hình nhân bện bằng rơm rạ
Sống động không gian chất ngất ngày mùa
Tôi gượng dậy giữa cánh đồng rộng lớn
Có con nước cường chảy dọc sống lưng

Dấu vết bình minh

Sóng sắc lẻm, đường chân trời đã vỡ
Ban mai trào lên nơi ranh giới xoá nhoà
Muôn ngàn mắt em xoay không gian lập thể
Trong hạt sương trôi căng mọng phập phồng .
Đừng trôi lại gần đám mây đẫm xăng
Dù cố giấu đi mười ngón tay có lửa
Những lưỡi gió thơm tho luồn vào lỗ tai
Ấp lên hoang sơ giấc mơ của cỏ .
Da thịt anh rộn ràng mang dấu chân em
Làm những móng tay trên đất càng vang vọng
Mỗi đốt xương muốn rời ra ngân lên bộ hơi
Ngỡ có đôi môi trên đỉnh đầu đang thổi.

Bến cuối

Cánh cửa bật mở. Người người gắn chặt vào tổ tiên trong những tảng băng trong suốt. Mọi chuyển động dừng lại tại thời điểm khởi hành. Quá khứ bắt đầu gầm rít quanh đời sống đã chết. Tất cả bị ướp đông trong hơi lạnh nhân tạo. Ướp đông tiếng nói vụng trộm. Ướp đông căn bệnh mãn tính. Ướp đông giọt mực gắn chặt ngòi bút vào trang giấy, chén rượu đưa lên vĩnh viễn cách môi. Nắm đất ném lên trời không bao giờ trở lại. Mặc người nói lắp đã không qua nổi chữ “”...
Bóc dần từng mảng thời gian. Quá khứ nhập vào đến đâu, những thân xác nóng lên đến đó. Và kiêu hãnh từ từ.

Dấu vết

Bức tường và cánh cửa vẫn đóng. Làn hương lao về phía tôi tìm cửa thoát hiểm cuối cùng. Đập vỡ khuôn mặt thủy tinh hương thơm đào thoát vào trong, qua những khoảng tối nhốt đầy kỷ niệm... Từng quả trứng nở bung dị ảnh, thoáng bóng cô hồn vào ăn cỗ cưới, ai thắp đèn đuổi ma trong cây, tiếng khóc dạ đề huơ trên đống lửa... Tôi trong quầng sáng khó phân định, dính chặt vào loa phóng thanh đầu xóm mùa lũ. Bàn tay nước giờ đã khô còn mắc kẹt trong khe cửa. Không xa là hàng rào thưa. Không xa là đàn rêu đến kỳ sinh nở. Những làn hương thanh tao bầm dập cùng đổ về trong cơn lốc phân định lẽ phải cuối cùng. Nhưng tiêu chí chúng đặt ra quá đỗi mơ hồ nên chẳng bao giờ tìm được chân lý, tốt hơn hết chỉ còn cách đào thoát. Dù đào thoát về hướng nào, bằng cách nào cũng không giấu nổi dấu vết. Trong sổ tay những đoàn khảo sát chúng sẽ được gọi đích danh bằng thuật ngữ La-tinh.

Khi Mai Văn Phấn tuyên ngôn trong thơ: “Muôn năm con người! Muôn năm thiên nhiên!” hay giãi bày trong đời: (…) các nhà thơ lần theo thơ ca nhằm khai mở tiếng nói mới, hoặc tìm lại âm sắc thuở hoàn nguyên đã mất.“; “(…) thơ ca còn tìm cách đặt tên lại sự vật, định hình lại thế giới”; “Việc sáng tạo thi ca gần giống trạng thái bàng hoàng của một đứa trẻ lần đầu được nhìn thấy những hiện tượng kì lạ của thiên nhiên và khám phá những bí ẩn, phức tạp của con người”; “Mục đích của thi ca là tạo lập một từ trường, để trong không gian đặc biệt ấy, tất cả từ đồ vật đến linh hồn đều được cất tiếng nói, được công bằng như nhau trong một trật tự mới. Những hình ảnh hiện lên trong không gian ấy là cánh cửa mở ra tương lai hoặc tìm về với quá khứ, hoặc tất cả cùng đồng hiện và đồng hành trong những thời khắc đặc biệt” (Trả lời tạp chí Thi Bình) thì vẫn là một con người-thơ Mai Văn Phấn: anh “đi tìm”, chứ không phải “tìm về”, truyền thống như một con đường riêng biệt để sáng tạo thơ ca. Không thể hiểu cái gọi là “truyền thống” ấy một cách đơn giản, và hành trình của anh càng không đơn giản. Cao vọng về một không gian sinh thái – mái nhà cũng là cao vọng về một không gian thơ rộng lớn mà thân thuộc, mở ra từ truyền thống, nhưng không phải truyền thống lưu cữu trong các quan niệm mòn sáo, mà là truyền thống được làm mới từng ngày. Nhưng gọi tên truyền thống Việt đâu dễ dàng! Thành ra cuộc đi tìm của Mai Văn Phấn cứ như một nỗ lực không có đích, lại không nhiều đồng vọng nhất là trong không gian phân mảnh của thơ đương đại.

***

Tôi không bao giờ thích nói hay nghĩ về sứ mệnh của một thi sĩ, nhưng câu hỏi này vẫn được đặt ra: Nhà thơ thuộc về đâu? Phải chăng cả khi anh/chị ta không thuộc về đâu cả, anh/chị ta vẫn thuộc về một nơi nào đó, một bầu khí quyền, một không gian sinh thái? Đặt ra câu hỏi này, tôi đã tự tìm cách hóa giải những cảm giác ban đầu của tôi về thơ Mai Văn Phấn mà tôi xin chia sẻ như một cách tạm khép lại bài viết còn nhiều dang dở này.

Trong 9 tập thơ của Mai Văn Phấn đã xuất bản, tôi tiếp xúc trọn vẹn 5 tập: Gọi xanh, Vách nước, Hôm sau, và đột nhiên gió thổi, Bầu trời không mái che và cuốn Tuyển Thơ Mai Văn Phấn dạng bản thảo mà tác giả gửi đến. Cái cảm giác của tôi, như một người đọc, gần như bị thử thách: không phải thử thách vì đứng trước một dòng thác quá lớn, quá mãnh liệt làm mình choáng váng, mà bị thử thách vì cái đẹp của một cánh đồng mênh mông, nơi tôi quen thuộc tuổi thơ, nhưng lại không nhiều quyến rũ với một tâm hồn trẻ tuổi. Tôi vốn ưa những thứ kì bí lạ lùng, hay cực độ dữ dội. Thơ Mai Văn Phấn hay, nhưng không phải cái hay đập ngay vào cân não tôi, làm tôi hoảng hay tim đập mạnh. Nó là cái hay nhuần nhị của trí tuệ và xúc cảm, buộc phải đọc lặng lẽ, kiên nhẫn, phải cảm và phải mở rộng cảm xúc của mình để cảm, để trải nghiệm. Nó không dễ, dù không khó, ngay cả ở những bài, những câu, những hình ảnh, thi tứ tưởng như “dễ chịu”, hiền lành. Chính bởi thế suốt nhiều ngày, tôi như kẻ bế tắc trong việc tìm ra một cách đọc tương thích, nhất là khi tôi không thể chỉ lấy cái cảm nhận chủ quan, tôi không biết phải bắt đầu thế nào để vào được khí quyển thơ Mai Văn Phấn, một không gian luôn rộng mở đón đợi người đọc đồng sáng tạo nhưng lại không dễ dàng để gọi tên cái “khí” của một người thơ miệt mài, nhẫn nại, trong lành và nhiệt huyết như Mai Văn Phấn?

Ở một góc nhìn nào đó, về tính chất thời đại trong thơ hay quan hệ của nhà thơ với thời đại, Mai Văn Phấn dường như tách ra khỏi mối quan tâm về những chủ đề đang “nóng” của thơ ca, như giới, chủng tộc, màu da, phản kháng chính trị… Anh như thể giữ gìn quá cẩn trọng màu xanh thanh khiết trong tâm hồn và thơ của mình. Vậy thơ Mai Văn Phấn có xa lạ với thời đại không? Hóa ra, khi đọc và đọc lại nhiều lần, dù không phải tất cả thơ anh, và nỗ lực lần theo cách anh tìm ra con đường sáng tạo của riêng mình, tôi bỡ ngỡ phát hiện ra một Mai Văn Phấn khác, một Mai Văn Phấn thậm chí “cực thời đại”. Phản tỉnh về cách ứng xử kiêu ngạo trước thiên nhiên, coi mình là trung tâm muôn loài của con người, những cách ứng xử sẽ dẫn đến hủy diệt, Mai Văn Phấn không bi ai, không hoài nhớ chìm đắm, cũng không tuyên ngôn cực đoan về sinh thái như là trung tâm (ecocentric) mà nỗ lực tìm kiếm các dấu vết của kí ức để mở ra một viễn tượng về tương lai. Không quan tâm các vấn đề thời thượng, nhưng Mai Văn Phấn đã tìm ra được mối liên hệ với thời đại, với vấn đề toàn cầu theo hướng đi của riêng mình. Định vị lại, tìm kiếm sâu hơn các tiềm năng ngôn ngữ con người trong một thế giới không chỉ có con người, mà rộng lớn hơn, đó đâu phải một vấn đề nhỏ bé?

Hóa ra, ở Mai Văn Phấn, nỗ lực hiện đại hóa thơ ca, nỗ lực tìm kiếm các kinh nghiệm ngôn ngữ mới luôn đi kèm với nhu cầu nói lên tiếng nói phản tư về xã hội và con người, để tham dự như một nhân tố tích cực. Ở anh, cái gọi là Tiền Phong cũng không bao giờ là một phạm trù mĩ học tự trị, thuần túy mà không tách rời mối ưu tư thường hằng về đời sống và vũ trụ, trong đó có sự quan tâm tới những cái bình thường nhỏ bé nhất. Mối quan hệ tương tác giữa con người và tự nhiên trong thơ Mai Văn Phấn, ở chỗ này là hòa nhập trong im lặng, lúc khác là sự nổi loạn bức bối của đồ vật… nhưng bao giờ cũng ngầm sâu một đề xuất về một cách nghĩ mới về mối quan hệ của con người và thế giới phi nhân. Con người không thống trị và sở hữu thiên nhiên, mà hiểu biết về sự nhỏ bé, sự mong manh hư huyễn của chính mình để lắng nghe tiếng nói của thiên nhiên. Đó là một vẻ đẹp có tính chất đạo đức trong thơ Mai Văn Phấn.

Vậy, nếu nhìn nỗ lực để thiên nhiên cất lên tiếng nói và đặt lại tên của Mai Văn Phấn là một cuộc “cách mạng xanh” trong thơ, thì bản thân thơ Mai Văn Phấn cũng có thể coi là một cuộc cách mạng xanh. Trong nỗ lực của kẻ tìm về truyền thống – vốn dễ bị dán lên những từ như bảo thủ, rác rưởi, cũ mòn, Mai Văn Phấn đã tìm ra một cách đẹp để giải phóng chính mình khỏi áp lực của truyền thống, khẳng định sự tự do thực sự của thơ ca. Mai Văn Phấn đi theo con đường của người làm thơ lần tìm cội rễ, trở lại nằm áp tai xuống đồng đất để nghe vị cỏ râm ran da thịt.

Bắt đầu từ thế kỉ XIX, phê bình văn chương trở thành một lĩnh vực chuyên nghiệp, tách rời khoa học tự nhiên và khoa học nhân văn. Hơn một thế kỉ sau, vào đầu thế kỉ XXI, xu hướng liên ngành dường như là thích hợp hơn với sự đa phương hóa các quan niệm. Từ đây, sự kì vọng vào cái gọi là nghệ thuật thuần túy có thể lại tồn tại như một dạng thức hoài niệm. Chính vì thế, mối quan hệ giữa văn chương và môi trường có những thay đổi quan trọng, từ chỗ môi trường vốn bị đứng sau văn chương như một thứ phông nền nay thậm chí muốn nổi lên ở bình diện thứ nhất, thành đối tượng trung tâm, đã đành, nó còn thành một thực thể sống động mà ở đó, môi trường buộc con người phải quay lại nhìn lại chính mình và nhìn lại thế giới xung quanh. Sự vị kỉ nhân trung luận nhường chỗ cho sự thương thỏa với không gian và thế giới phi-nhân. Tất nhiên, nỗ lực của các xu hướng, các học thuyết, những niềm hứng khởi mãnh liệt bao giờ cũng đi từ chỗ cực đoan, đơn giản và phiến diện tới sự đa dạng hóa, khả năng khắc phục những quan niệm sơ sài để trở nên phong phú và giàu có hơn. Cách nghĩ với tự nhiên phải thay đổi, để đảm bảo cho sự chung sống hài hòa. Đó là một viễn tượng tương lai của xã hội mà nghệ thuật, tưởng chừng chỉ nỗ lực vươn tới cái đẹp, cái hài hòa tự nó, đã trở thành một tác nhân tham dự theo nghĩa nào đó. Và từ đây, trong sáng tạo và nghiên cứu văn chương, có những không gian khác mở ra, cho những thảo luận xa hơn về nghiên cứu thơ và sinh thái ở Việt Nam.

Nhưng dù mọi cách đọc, cái còn lại với một người đọc thơ là được tận hưởng những câu thơ hay. 

11/5/2011
NHÃ THUYÊN

(Thơ Mai Văn Phấn và Đồng Đức Bốn, khác biệt và thành công,
Kỷ yếu hội thảo thơ tại Hải Phòng, 15/ 5/ 2011, NXB Hội Nhà văn, 2011).
______________________________
 1. Greg Garrad – Ecocriticism – Routledge, 2004
2. Karen Thornber – Ecocriticism – Tài liệu của Viện Văn học, 2011
3. Karen Thornber - Ecocriticism and Japanese Literature of the Avant-Gardehttp://interlitq.org/issue8/karen_thornber/job.php
4. Kate Rigby – Ecocriticism – trong Introducing criticism at the 21st century, Julian Wolfreys (ed), Edinburgh University Press, 2002
Trong bài viết Ecocriticism and Japanese Literature of the Avant-Garde (Phê bình sinh thái và Văn chương tiền phong Nhật Bản), giáo sư Karen Thronber, một chuyên gia về phê bình sinh thái, Đại học Harvard đã dùng từ “nonhuman” để chỉ cả các thành tố sinh học hữu cơ và vô cơ như đất, nước, không khí, từ “human” để chỉ tồn tại con người và cả các cấu trúc nhân tạo vật thể và phi vật thể, bao gồm công nghệ như là các công cụ của con người. Ở đây, tôi dùng từ “thế giới phi-nhân” và “thế giới con người” theo cách cắt nghĩa này. Xin xem bài viết tại: http://interlitq.org/issue8/karen_thornber/job.php
Xin xem bài viết của Karen Thornber dẫn ở trên, trong đó, bà dùng phê bình sinh thái như một góc nhìn để tiếp cận văn chương tiền phong Nhật Bản (với tiểu thuyết Người đàn bà trong cồn cát của Kobo Abe và một tuyển tập các bài thơ về bom nguyên tử của Nhật Bản). Bà cũng đã sang Việt Nam trong khuôn khổ Hội thảo quốc tế 2011 "Tiếp cận văn học châu Á từ lý thuyết phương Tây hiện đại: vận dụng, tương thích, thách thức và cơ hội". Tại Viện Văn học, bà cũng đã có buổi giảng giới thiệu về Ecocriticism. Hiện tại, bài viết này chưa có ấn bản online.
Cách hiểu về ecopoetry/ecopoems/ecopoetics có những khuôn khổ ít nhiều khác biệt giữa các học giả, liên quan tới cách khu biệt các sáng tác được gọi chung là environmental writing/ nature writing; Tuy nhiên, trung tâm của ecopoetry (thơ sinh thái) vẫn là mối quan hệ của thơ và tự nhiên, được khơi gợi cảm hứng mãnh liệt hay đưa ra các thông điệp về sinh thái. L. Buell (1995) trong cuốn Enviromental imagination: Thoreau, Nature Writing and the formation of American Culture, London: Princeton University Press, đã đưa ra bốn tiêu chí cho nature writing của Mĩ, xin tạm dịch: 1. Môi trường phi-nhân hiện diện không phải chỉ như một phương tiện khung cảnh mà như một hiện diện để bắt đầu đề xuất rằng lịch sử con người không tách biệt với lịch sử tự nhiên; 2. Mối quan tâm về con người không được hiểu là mối quan tâm hợp thức duy nhất; 3. Trách nhiệm của con người với thiên nhiên là một phần của khuynh hướng đạo đức của văn bản; 4. Ý nghĩa của môi trường được hiểu như một tiến trình chứ không phải một ý nghĩa cố định hay chỉ ngầm ẩn trong văn bản.

TIN LIÊN QUAN:





Nhà văn Thùy Dương: Trăn trở với mỗi thân phận Người

Nếu không biết Thùy Dương sinh ra và lớn lên ở Hải Dương, sẽ đoán   chắc nàng là người Hà Nội gốc. Gọi là nàng v ì nàng không chỉ xinh đẹp, ...