Chủ Nhật, 26 tháng 5, 2019

Nhà văn Trang Thế Hy gió đưa gió đẩy


gió đưa gió đẩy về rẫy ăn còng
 về sông ăn cá về đồng ăn cua
(ca dao)

“Biết đâu au revoir (tạm biệt) chẳng là adieu (vĩnh biệt)”. Ông nói, giọng ngùi ngùi. Lần đầu tiên sau 24 giờ gặp nhau, tôi nghe một thoáng hẫng như đã từng đọc “những ổ gà không khí” có rất nhiều trong văn ông. Những cú hẫng những ổ gà những khoảng lặng như thế trong văn Trang Thế Hy bao giờ nghe lại đọc lại cũng khiến tôi ngùi ngùi…
Nhà văn Trang Thế Hy

Về nhà văn Trang Thế Hy, Từ điển văn học (bộ mới) viết: “Trang Thế Hy chuyên viết truyện ngắn và ký. Những tập truyện ký đã xuất bản: Nắng đẹp miền quê ngoại (1964), Mưa ấm (1981), Người yêu và mùa thu (1981), Vết thương thứ mười ba (1989), Tiếng khóc và tiếng hát (1993). Tác phẩm mới nhất, có thể coi như một tuyển tập của ông: Nợ nước mắt và những truyện ngắn khác (2001)”. Và từ điển trích một câu trong một truyện ngắn của Trang Thế Hy để nói về quan niệm nghệ thuật của chính tác giả: “Tôi nghe đó (từ câu chuyện của chị bán thuốc lá) là lời răn dạy rất nghiêm có giá trị thức tỉnh cao của một hiện thực đau buồn nhắc nhở người cầm bút đừng bao giờ đánh mất cái điểm tựa đáng tin cậy của mình là nỗi đau khổ lớn của số đông thầm lặng”.

Sinh năm 1924, Trang Thế Hy đã tham gia hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Hiện sống tại quê nhà, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

***

Có thể nói cả đời Trang Thế Hy thuận theo những con “gió đưa gió đẩy”. Gọi những con gió ấy là số phận cũng được, mà gọi là sự tình cờ vô thường cũng xong! Nghe nói, hồi ở chiến khu miền Đông Nam Bộ, Trang Thế Hy luôn thủ sẵn vài trăm… lưỡi câu để sẵn sàng giăng câu kiếm cá, hay ông có biệt tài bắt… nhái băm chả, câu rắn mối, biến những điều không thể thành có thể, viết chầm chậm những câu văn trong khi chờ mấy gã chuột sa bẫy trong những đêm rừng lạnh. Ngày đó, tôi ở bên binh vận cùng Lưu Kiểng Xuân - một nhà văn đặc Nam Bộ quê Cần Giuộc, Long An. Tư Xuân vốn là trung úy lái trực thăng của quân đội Sài Gòn, nhưng là cơ sở cách mạng ở nội thành, là cộng tác viên của nhóm Tin Văn - tên một tờ tạp chí văn nghệ thiên tả, có liên hệ với cách mạng. Tư Xuân sau đó đã lên chiến khu,viết truyện và bút ký có nhân vật là lính Sài Gòn, nên được đưa về ban tuyên truyền binh vận. Còn tôi chỉ là anh sinh viên mới tốt nghiệp ở Hà Nội, vào bộ đội chưa lâu, cũng làm tuyên truyền binh vận cho đài phát thanh, rồi đi B2, rồi về ban binh vận, rồi…

Chúng tôi chơi với nhau do có chút máu văn chương, và mỗi lần, khi chuyện trò về văn học, bao giờ Tư Xuân cũng léo vào cái tên Trang Thế Hy dưới biệt danh thân mật là Tư Sâm: “Tui khoái cha Tư Sâm này, văn chả kỹ mà sâu, lại đúng giọng Nam Bộ!” Dù chưa gặp Trang Thế Hy, cũng chưa có may mắn đọc văn ông - trong rừng mấy thứ văn chương còn hiếm hơn cả chuột hay rắn mối - nhưng tôi tự nhiên có cảm tình với Trang Thế Hy từ đó. Qua Tư Xuân, tôi còn biết Tư Sâm là người có “hoàn cảnh” có tâm trạng và nhiều lúc rất buồn, cô đơn nữa.Như thế lại giống Tư Xuân và tôi. Có một lần, Tư Xuân rủ tôi đi sang cứ của ban văn n ghệ R chơi, thăm Tư Sâm. Tiếc thay, lần đó khi chúng tôi mất nửa ngày trời băng qua những trảng cỏ voi và rừng dầu đến với Tư Sâm, thì ông lại đi công tác chiến trường, không có ở cứ. Hai chúng tôi được Anh Đức tiếp tại nhà, đãi một bữa cơm có thịt hẳn một con gà - điều quá hiếm ở rừng hồi ấy. Thôi thì ông anh Tư Sâm cũng xá cho, tôi với Tư Xuân chẳng qua cũng “gió đưa gió đẩy về cứ ăn… gà” chứ chúng tôi không cố ý. Hôm đó, trở về qua trảng cỏ voi, và tôi viết được bài thơ “Những dấu chân qua trảng cỏ”. Âu cũng là cái duyên với Trang Thế Hy, dẫu chưa gặp được ông, nhưng nhờ chuyến thăm hụt ông mà lận lưng được bài thơ không đến nỗi nào, vậy là ấm bụng! Cách đây mấy năm, khi gửi tặng tôi tuyển tập truyện ngắn “Nợ nước mắt và những truyện ngắn khác” - Lão nhà văn Trang Thế Hy đề tặng: “Tặng Thanh Thảo, người trở về vùng Tháp Chàm còn để lại ở rừng già phương Nam những “dấu chân trên trảng cỏ”. Một lời đề tặng vừa tình cảm vừa “kỹ”- đúng văn chất Trang Thế Hy.

Hoá ra ở đời vẫn có những tương hợp tình cờ như thế, “gió đưa gió đẩy” chúng tôi qua những cánh rừng miền Đông những bưng biền Đồng Tháp để cuối cùng, dù người về Bến Tre “đứng như bóng dừa”, kẻ trở lại quê nhà miền Trung nương bóng Tháp Chàm, ăn don và cả ăn đòn, chúng tôi lại gặp nhau… ăn cua. Vâng, ăn cua cốm. Ngay tại thị xã Bến Tre, sát mé sông Hàm Luông hẳn hoi. Tôi, nhà thơ Chim Trắng với nhà giáo dạy văn Nguyễn Tấn Huy từ Sài Gòn về Bến Tre thăm lão trượng Trang Thế Hy. Chim Trắng đã ngót 70 mà tay lái  còn “lụa” lắm! Nghe nói ở quê tôi có ông chủ tịch ít tuổi hơn Chim Trắng nhưng mới về hưu, nhớ tiếc một thời vàng son oanh liệt nên “Buổi sáng ông mặc áo đi giày ra đứng ngoài đường”… chờ xe, kết luận theo thơ Trần Vàng Sao thì ông là “một người yêu nước mình”. Đứng chờ xe, dẫu xe không đến, là còn muốn làm việc, là còn “yêu nước mình”, chứ sao! Chim Trắng cười ngất, nói là anh sẵn sàng ra Trung lái xe hầu “một người yêu nước mình” ấy. Anh vốn hâm mộ những người yêu nước.

Chúng tôi ăn cua cốm, thứ cua hai da vừa lột chưa lâu, có gạch béo và mềm, hạp với răng cỏ lão nhà văn. Lỗ Tấn có biệt tài là viết nhấn, mỗi câu văn là một con sóng, con sau cao hơn, mạnh hơn con trướcChekhov thú nhận là mình không thật đam mê trong bất cứ việc gì, cả làm thuốc và viết văn. Tôi nói với Nguyễn Quang Sáng, anh viết về tôi đúng cả, chỉ có cái này là sai: Trang Thế Hy quyết sống chết với văn chương. Không có đâu! Tôi chỉ dám là “người tình thoáng chốc” của văn chương thôi. Tôi không ăn thua đủ về bất cứ cái gì. Đó là cái dở nhất của tôi. Kể cả giải thưởng mà người ta định trao cho ông rồi… thôi? Ừ, cả giải thưởng. Nhưng tôi phải thú nhận là tôi có sốc nhẹ, vì khi nghe thông báo cứ như đã “được rồi”, tôi lỡ dại khoe với mấy người bà con nghèo, là Tư Sâm sắp khá, có món tiền to, sẽ biếu mấy anh em chút đỉnh tiêu chơi. Nào ngờ. Coi như tôi nói dối họ. Không nói dối đâu, anh Tư, nhưng là nói chưa thành sự thật. Quán ăn Trương Ký, lão nhà văn khẽ khàng gắp miếng cá chẽm kho ngót (kho ngọt) có để chanh, chiêu ngụm rượu vang trắng Alsace chánh hiệu mà Chim Trắng mang từ Sài Gòn xuống. Lỗ Tấn nói “nhà văn như con bò ăn cỏ khô rơm khô nhưng phải cho đời sữa tươi”. Tôi đế: Cá chẽm với vang Pháp cũng là cỏ khô sao anh Tư? Lão nhà văn cười mỉm mỉm. Ở đời, như Gorki phân loại, thì có hai kiểu chết: một là cháy bùng lên, hai là mục rã. Tôi thuộc loại thứ 2. Nhưng cố gắng làm sao mục rã coi cho được. Kể cả bùng cháy, cũng đừng bùng cháy khó coi, phải hôn anh Tư? Lại cười mỉm mỉm. Cua cốm này ăn đậm, cua cũng phải tới kỳ, ăn mới ngon, nữa là văn chương. Trang Thế Hy đeo bên thắt lưng một điện thoại loại xịn nhất, dường như có kết nối toàn cầu, màu bạc sáng loáng. Thỉnh thoảng ông lại móc điện thoại, mở nắp, chiêu một ngụm. Một ngụm thông tin toàn cầu? Rượu này tôi đặt riêng, nấu bằng nếp, uống thử coi, ngon hơn rượu Tây đó! Chúng tôi cứ trò chuyện lai rai không đâu vào đâu. Bóng tối len nhẹ vào quán trên những bước chân mèo, và trong ánh chập chờn, mắt ông lão nhà văn lấp láy. Người như thế có khi biết mà không nói, có khi nói nửa câu những gì mình nghiền ngẫm trọn đời. Nửa câu còn lại, để gió sông Hàm Luông giải quyết.

Hồi trưa, lúc ngồi với Trang Thế Hy trong vườn dừa nhà ông, tôi để ý vườn dừa nhà bên có những miếng thiếc trơn bề rộng độ 3 tấc bao quanh thân dừa. Ngạc nhiên tôi hỏi, lão nhà văn cho biết, đó là cách ngăn chuột ăn dừa. Chuột dừa ở xứ cù lao này răng sắc và chịu khó lao động. Chúng phải gặm xuyên qua vỏ dừa, xuyên cả gáo dừa mới ăn được cơm dừa. Ăn cơm dừa nhưng không uống nước dừa, mà chỉ uống nước mương. Nên chúng phải trèo lên leo xuống. Những miếng thiếc kia khác nào những “cột mỡ” đối với chúng. Xuống cũng té “bịch”, mà lên cũng té “bịch”. Nhưng tôi không có tiền bao thiếc quanh thân dừa nhà mình, mỗi miếng thiếc tới 30 nghìn đồng lận. Nghĩa là vì nghèo mà ông có tình thử đạo? Tôi chọc. Tôi bây giờ “đêm nghe dừa rụng ngày nhìn chuột rơi”, kể cả dừa và chuột hàng xóm. Những tiếng rơi ấy, nghe buồn lắm. Tôi nhìn dáng ông lão lầm lũi đi con đường đất lầy lội dọc bờ mương về nhà mình, lúc chúng tôi chia tay nhau. Biết đâu au revoir (tạm biệt) chẳng là adieu (vĩnh biệt). Ông nói, giọng ngùi ngùi.

Lần đầu tiên sau 24 giờ gặp nhau, tôi nghe một thoáng hẫng như đã từng đọc “những ổ gà không khí” có rất nhiều trong văn ông. Những cú hẫng những ổ gà những khoảng lặng như thế trong văn Trang Thế Hy bao giờ nghe lại đọc lại cũng khiến tôi ngùi ngùi. Ông đã 83 tuổi, cầu Rạch Miễu mới làm xong, nhưng đoạn đường vô nhà ông vẫn sình lầy. Bao giờ? Vâng, bao giờ chúng tôi gặp lại nhau?

THANH THẢO
(NVTPHCM)


Thứ Hai, 20 tháng 5, 2019

Thi nhân Bùi Giáng: Một tiếng lá rơi dội trong sương mù

Phải nhiều năm sau khi đất nước thống nhất, tôi mới biết đến một con người kỳ dị trong làng văn: Bùi Giáng. Nói đúng hơn là tôi chỉ biết đến những tác phẩm của ông mà chưa bao giờ có dịp được diện kiến ông lần nào. Càng đọc những tác phẩm của ông, cái phần không hiểu lại càng lớn hơn cái phần hiểu được!
Nhà thơ Bùi Giáng

Nhưng rồi dần dần, tôi mới ngẫm thấy rằng điều đó chẳng quan trọng mấy. Nếu cứ đâm đầu vào đi tìm hiểu xem Bùi Giáng viết gì thì có ngày cũng dễ điên giống ông! Cái đọng lại trong tôi mỗi khi đọc Bùi Giáng, ấy là một cảm giác hân hoan không cưỡng lại nổi, cứ như thể được nhận quà từ tay một chú bé hồn nhiên, vui vẻ.

Cả thơ, cả văn hay khảo cứu của ông đều gây cho tôi cái cảm giác ấy. Với tôi, có lẽ thế là đủ.

Trong 73 năm sống trên cõi đời này, Bùi Giáng là người phiêu hốt qua hàng hàng chữ nghĩa. ông lãng đãng ngay từ bản khai lý lịch không “đụng hàng” với bất cứ ai:

Hỏi tên? Rằng biển xanh dâu
Hỏi quê? Rằng mộng ban đầu rất xa
Gọi tên là một, hai, ba
Đếm là diệu tưởng, đo là nghi tâm.

Có vẻ như với Bùi Giáng, đời là một cuộc vui bất tận và ông tận hưởng nó, diễn giải nó, yêu thương nó, như cái cách mà ông đã từng viết: “Thơ vô tận vui”.

Mở đầu cho Mưa nguồn, thi phẩm đầu tiên của Bùi Giáng được xuất bản năm 1962, ngoài lời đề từ giỡn cợt “rất Bùi Giáng” là “tặng ba người con gái - chiêm bao ở bờ cỏ Phi Châu”, Bùi Giáng còn rút ra hai câu trong bài Chào Nguyên Xuân có trong tập này, như một lời thề về cuộc đời (và có lẽ toàn bộ chữ nghĩa) của ông:

Xin chào nhau giữa con đường
Mùa xuân phía trước, miên trường phía sau

Đấy là cái tâm thế của một người tung tăng trên đường đời, chào gặp và giã biệt bất cứ ai dù lạ hay quen; và đời sống ông chảy trôi giữa hai cảnh giới: luôn có một mùa xuân vẫy gọi tíu tít ở phía trước, trong khi phía sau là những giấc ngủ dài.

Đời sống phiêu bồng của Bùi Giáng vang vọng trong thơ ông. ông như một người lữ thứ đi trong cuộc đời, không biết từ đâu đến và cũng không biết đi về đâu:

Ngày sẽ hết và tôi không ở lại
Tôi sẽ đi và chưa biết đi đâu
Tôi sẽ tiếc thương trần gian mãi mãi
Vì nơi đây tôi sống đủ vui sầu.

(Phụng hiến).

Trong cõi trần gian ấy, Bùi Giáng sống tận hiến cho từng satna một, với một niềm vui sống bất tuyệt, như ông đã viết, vẫn trong bài Phụng hiến:

Tôi đã gửi hồn tôi biết mấy bận
Cho mây xa cho tơ liễu ở gần
Tôi đã đặt trong bàn tay vạn vật
Quả tim mình nóng hổi những chờ mong
Một tình yêu mãnh liệt đời sống với những sắc thái tế vi của nó:

Xin yêu mãi yêu và yêu nhau mãi
Trần gian ôi! Cánh bướm cánh chuồn chuồn
Con kiến bé cùng hoa hoang cỏ dại
Con vi trùng cùng sâu bọ cũng yêu luôn.

Có lẽ, cái tình yêu đời sống mãnh liệt ấy đã là đôi cánh bướm mỏng nhẹ nhàng mang thơ ông len lỏi vào trái tim những người yêu thơ.  

Trong nền thơ Việt Nam, có một thế giới thơ tình Nguyễn Bính. Có một thế giới thơ tình Xuân Diệu. Vậy liệu có một thế giới thơ tình Bùi Giáng hay không?

Theo tôi là có.

Trong thơ Bùi Giáng, hình ảnh người con gái lớn mênh mông mà cũng thật nhỏ nhoi. Tựu trung lại, nàng bao giờ cũng đẹp:

Ôi một người con gái
Là đúng một bầu trời
Là sinh con đẻ cái
Đẹp bằng hột mưa rơi
ôi một người con gái
Dù là gái đốt than
Cũng đẹp như suối ngàn
Chảy từ trên núi xuống.

(Ôi một người con gái).

Trong tình yêu của thơ Bùi Giáng, nỗi nhớ luôn hiển hiện như một thành tố không thể thiếu. Có một thời, có lẽ do bị ảnh hưởng bởi những tiểu thuyết cổ trang, Bùi Giáng thường xưng “Trẫm”, như một vị vua trước các thần dân trong vương quốc tưởng tượng của riêng Bùi Giáng. Vị vua này cũng không được miễn nhiễm khỏi cái sắc thái thông thường của người đang yêu:

Trẫm ở bên trời
Trẫm nhớ em
Trên trời trẫm nhớ
Trẫm thương thêm
Trẫm buồn như thể
Trời buồn thảm
Trẫm khóc vô ngần
Trẫm nhớ em.

(Trẫm một mình nhớ nhung hoàng hậu của trẫm).

Và hiển nhiên là vị vua Bùi Giáng, khi xa cách em, cũng rối ren, cũng dằn vặt với câu hỏi thường xuyên đặt ra: “Em đâu?”. Hồi đó chưa có điện thoại di động, những người yêu nhau bình thường giải tỏa nỗi nhớ bằng cách viết thư cho nhau, còn Bùi Giáng thì… làm thơ:

Em ở đâu rồi Trẫm nhớ em
Trẫm buồn chẳng biết viết gì thêm
(Em có nhớ Trẫm chăng em nhỉ
Trẫm viết dòng nào
Cũng rối ren).

(Em ở bên trời).

Bùi Giáng là một trong số hiếm hoi những nghệ sỹ mà ngay khi ông còn sống đã có vô vàn những giai thoại vây quanh. Trong số đó, có một giai thoại về việc Bùi Giáng tự viết “tiểu sử” trong một bản thảo chép tay ghi trong cuốn sổ gửi vào chùa Pháp Vân, Gia Định, Sài Gòn ngày 10-11-1993. Trong cái “tiểu sử” giai thoại này, có những dòng liên quan đến đối tượng luyến ái của ông:
“1942: trở ra Huế vì nhớ nhung gái Huế…
1970: Lang thang du hành lục tỉnh, gái Châu Đốc thương yêu và gái Long Xuyên yêu dấu
Gái Chợ Lớn khiến bị bịnh lậu (bịnh hoa liễu)”.

Không rõ sự chân thực của những dòng “tiểu sử” giai thoại này đến đâu, nhưng trong suốt cuộc đời mình, ngoài người vợ chính thức Bùi Thị Ninh đã không may mất sớm, Bùi Giáng có vô số những người yêu trong mộng. Danh sách “người yêu” của Bùi Giáng, cũng là những nguồn cảm hứng bất tận cho thơ ông, trải dài từ Nam Phương hoàng hậu, Phùng Khánh (Thích Nữ Trí Hải), ca sỹ Hà Thanh, kỳ nữ Kim Cương cho đến những minh tinh màn bạc ngoại quốc tài danh đương thời Bùi Giáng như Marilyn Monro và Brigitte Bardot! Đấy là còn chưa kể đến những người tình không tên như “em Mọi nhỏ” mà Bùi Giáng luôn nhắc đến với niềm trân trọng.

Có lẽ bởi đó là những người yêu trong mộng tưởng nên tình yêu của Bùi Giáng đối với họ thấm đẫm những ẩn ức tình dục libido. Có thể thấy cái chất libido này lại thấm đẫm trong nhiều câu thơ của Bùi Giáng. Khả năng tận dụng từ ngữ tiếng Việt phi phàm cho phép Bùi Giáng tung hứng với những cách nói lái dân gian điển hình. Trong thơ ông xuất hiện với tần suất cao những “tồn lưu”, “liên tồn”, “lưu tồn”, “cồn hoa lá”, “lộn đàng”; thậm chí Bùi Giáng còn lấy bút danh của mình là “Vân Mồng” cho bản dịch tiểu thuyết Khung cửa hẹp của André Gide, lấy tên nhà xuất bản cho tập tiểu luận Đường đi trong rừng là Lá hoa cồn, hay đưa hẳn cái từ Lá hoa cồn này vào tên một tập thơ: Mưa nguồn và Lá hoa cồn, nhà An Tiêm xuất bản năm 1973!

Đây:

Mép bờ nước mọc nguyên tiêu
Tờ điên hoa dậy trăng Chiều Dã Man
Đất về lịch sử thênh thang
Cồn Hoa Lá trút cho hàng ngửa nghiêng.

(Cồn hoa lá).

Đây:

Trăm năm trong cõi sinh tồn
Cá bờ mương nhảy sô hồn xuống hang
Biết bao là gái lộn đàng
Nhớ nhung như nhớ lang thang mây chiều
Một ngàn cỏ lá cồn trơ
Đẩy ngang ngửa nhịp nước cờ chiêm bao
Dấn thân thể dấn bước vào
Xịch mành sực tỉnh hàng rào chắn ngang.

(Bờ tồn sinh).

Đây nữa:
Mở hai hàng cỏ long đong
Úp môi vào thút thít trong một vùng.

(Mở cỏ vào môi).

Đọc những câu thơ này của Bùi Giáng, thoảng như thấy Hồ Xuân Hương đâu đây.
Nhiều người biết Bùi Giáng là một dịch giả siêu phàm với hàng ngàn trang dịch các tác phẩm triết học khó nhằn của các triết gia, các tiểu thuyết, kịch hiện sinh của André Gide, Gérard de Nerval, Albert Camus, W.Shakespeare…ông cũng có những trang dịch với ngôn ngữ tuyệt đẹp các tác phẩm đầy thơ mộng của Saint Exupéry như Hoàng tử bé, Cõi người ta…

Nhưng ít ai biết được là Bùi Giáng đã từng dịch truyện chưởng!

Trong số các “đại gia võ hiệp” của tiểu thuyết chưởng Tàu thập niên 60 của thế kỷ trước, Ngọa Long Sinh là một tên tuổi nổi bật, sánh ngang với những Cổ Long, Lương Vũ Sinh, Gia Cát Thanh Vân…, có lẽ chỉ kém Kim Dung tí chút. Tiểu thuyết của các tác giả này được độc giả đô thị miền Nam nồng nhiệt đón nhận hồi thập niên 60-70, được dịch và in với số lượng lớn.

Một trong những tác phẩm của Ngọa Long Sinh mà Bùi Giáng chọn dịch là Kim kiếm điêu linh, sau này được những người dịch khác lấy cái tựa đề dễ hiểu hơn là Xác chết loạn giang hồ!

Cách đây nhiều năm, Bùi Giáng từng viết, trong bài thơ cuối của tập Mưa nguồn, bài Mai sau em về:

Ta đi còn gửi đôi giòng
Lá rơi có dội ở trong sương mù?

Cuộc đời cũng như sự nghiệp chữ của Bùi Giáng cũng giống như một tiếng lá rơi dội trong sương mù của đời sống. Tiếng dội ấy sẽ còn vang rất xa, rất sâu…

YÊN BA
(ANTGCT)




Thứ Bảy, 18 tháng 5, 2019

Dấu ấn nghề cá trong địa danh Nam Bộ

Nghề chài lưới đã để lại một dấu ấn khó phai, với những sắc thái khá phong phú trong các địa danh ở Nam Bộ. Qua các địa danh này, chúng ta có thể hình dung được lịch sử của các cộng đồng dân cư, cách thức mưu sinh, thế ứng xử với thiên nhiên của các cư dân nơi miền đất mới.
Nhà thờ Tắt Rỗi.

Xóm Vạn Chài có miếu Phú Hòa Vạn (miếu Nổi, quận Bình Thạnh, TP HCM) thờ bà Thủy Long. Năm 1972, miếu này bị đổi chủ, trở thành nơi thờ Tứ phủ. Đình Phú Hòa Vạn (4 Trần Quang Khải, quận 1), gần cầu Bông, đối diện miếu Phú Hòa Vạn (quận Bình Thạnh) thờ thần Thành hoàng, có bài vị “Đại Càn quốc gia Nam Hải Tứ vị thánh nương”, vốn là miếu thờ thần sông biển của dân xóm Vạn Chài, đánh cá sông, gốc ở làng Chơn Sảng (huyện Hòa Vang, Đà Nẵng) di cư vào sau năm 1859 từ khi Pháp đánh chiếm Đà Nẵng. Đến khoảng năm 1900, không rõ vì sao lại biến thành đình.

Nhà túc bên cạnh đình Bình Hòa (quận Bình Thạnh) thờ Tứ vị Thánh nương, thần bảo hộ nghề sông nước gốc từ cửa Cờn (Nghệ An). Đình Phú Nhuận thờ Mala Cẩn Thành hoàng chi thần, tức Đại Càn, vị thần Chăm. Xưa đình Phú Nhuận được dựng ở bờ rạch Thị Nghè, ở rạch này có Phú Hòa vạn ở đầu cầu Bông – miếu Nổi (quận 1 và Bình Thạnh) và các xóm từ sau rạp Văn Hoa đến chùa Vạn Thọ (cầu Kiệu) được gọi là xóm Chài.

Miếu Bà Ngũ Hành ở xóm Đáy (ấp 1, xã Nhơn Đức, huyện Nhà Bè, TP HCM), lập trên 100 năm, được dời từ ngoài vàm vô đây 20 năm. Ngoài ban thờ 5 bà Ngũ Hành, Phật Bà Quan Âm, am thờ Ông Hổ, còn có một am nhỏ thờ Cậu Hai. Cậu Hai đây chính là “cậu” trong tín ngưỡng Bà Cậu của người dân làm nghề hạ bạc ở xóm đáy này. Ngoài ra ở thành phố Hồ Chí Minh còn có xóm Đáy ở xã Phong Phú (huyện Bình Chánh), rạch Đáy ở huyện Cần Giờ, bản đồ năm 1885 đã thấy có tên rạch này.

Một xóm Đáy khác ở gần chợ và cầu Phú Xuân (thị trấn Nhà Bè, huyện Nhà Bè) được lập từ thập niên 1940, đến những năm 1989-1990 mới dẹp các sở đáy này do không còn nhiều cá tôm như trước.

Rạch Đáy ở huyện Cù Lao Dung (Sóc Trăng). Ba Đáy là con rạch ở xã An Thới Đông (huyện Cần Giờ, TP HCM), chỉ những cái đáy đánh cá hình ống to và dài, có cọc giữ miệng lưới đặt tại rạch này. Bến Đáy ở cửa Cổ Chiên, xã Mỹ Long, huyện Cầu Ngang (Trà Vinh). Bến Đáy là “nơi có nhiều người đặt đáy bắt cá”.

Xóm Chài thuộc khu vực 3, phường Hưng Phú, có bến phà (qua bến Ninh Kiều bên nội ô thành phố Cần Thơ), có chợ Hưng Phú, dân cư đa số là dân lao động hoặc mua bán nhỏ, một số sống với nghề chở khách du lịch bằng những loại thuyền nhỏ và vừa, hầu như chẳng còn mấy ai sống bằng nghề chài lưới nữa.

Cần Thơ có xóm Chài, ngày xưa bên kia sông Cần Thơ, nay vừa qua cầu Quang Trung là tới. Ở đây hàng năm vào ngày Rằm tháng Giêng có diễn ra lễ cúng miễu Bà Xóm Chài và tống bè chuối lớn (lễ Tống ôn). Ngày trước dân ở đây làm nghề hạ bạc và phần lớn là người tứ chiếng dạt về ở. Xóm Chài là xóm nghèo hay xóm trộm cắp.

Xóm Chài, gồm 61 hộ, chuyên sống bằng nghề đánh cá ven sông tại ngã ba kinh Đôi và rạch Bà Tàng, thuộc phường 6 (quận 8, TP HCM). Xóm Chài ở ấp 3, xã Bình Hưng, huyện Bình Chánh (TP HCM). Xóm Chài ở thành phố Vĩnh Long. Xóm Bà Chài ở gần biển Tân Thành, huyện Gò Công Đông (Tiền Giang). Bà Chài vì ở đây có xóm Nhà Chài, vài bà vợ các ông chài sinh sống nên có tên trên.

Xóm Câu xưa ở làng Tân Châu, nay thuộc phường 1, quận 5 (TP HCM), chuyên sống bằng nghề chài lưới. Xóm Câu ở xã Vĩnh Đông, huyện Cần Giuộc (Long An). Hiện nay họ vẫn hành nghề trên khúc sông Hàn ở huyện này.

Rạch Nò ở xã Phú Xuân, huyện Nhà Bè, từ cánh đồng ruộng chảy qua đường Huỳnh Tấn Phát, đổ vào rạch Phú Xuân, dài khoảng 1.000 m. Cầu Rạch Nò bắc qua rạch Nò. Ba Nò là địa danh ở huyện Gò Công Tây (Tiền Giang). Tại đây có 3 ngọn rạch nhỏ, đầu mỗi ngọn được đặt một cái nò. Xóm Bãi Nò ở cách trung tâm thành phố Hà Tiên (Kiên Giang) khoảng 2km, nằm bên chân núi Đèn Rọi, cũng gọi là bãi Trước. Bãi Nò là nơi định cư của những người chuyên sống bằng nghề đặt nò bắt cá. Nò là loại lờ có nắp vĩ, đặt dưới nước, khi cá vô ăn mồi thì vĩ sập xuống.

Bến Rớ được chép trong sách Hoàng Việt nhất thống dư địa chí: “Phía đông cầu này có một con kinh tục gọi Bến Rớ, rộng 10 tầm, nước lên sâu 1 tầm, nước xuống sâu 3 thước”. Xóm Rớ ở làng Bình Hòa (Thạnh Bình), nay thuộc quận 8 (TP HCM), nơi tập trung dân cư làm nghề đánh bắt bằng rớ. Bến Rớ là con tắt ở cạnh rạch Xóm Củi và rạch Gò Nổi, được ghi trong bản đồ tỉnh Gia Định năm 1902, nay thuộc huyện Bình Chánh (TP HCM). Tắc Bến Rớ là rạch ở xã Bình Hưng, huyện Bình Chánh, nối rạch Xóm Củi với rạch Cây Khô, dài khoảng 1.500 m. Tắc Bến Rớ nay ở vị trí cầu Tắc Bến Rô, chạy từ cầu Phạm Hùng qua khu dân cư T30. Ngã ba Bến Rớ là nơi gặp nhau của sông Ba Tri Cá Trại và rạch Bần Quỳ, thuộc xã Châu Hòa, huyện Ba Tri (Bến Tre), nơi đây ngư dân có dựng một số rớ giàn để đánh bắt tôm cá. Rớ là dụng cụ đan bằng chỉ gai, hình vuông, lớn gấp nhiều lần cái vó mà ngư dân dùng để đánh bắt cá trên sông rạch. Ở Nha Trang có hòn Rớ nằm trong vịnh Nha Trang.

Sách Hoàng Việt nhất thống dư địa chí ghi về con rạch Tắt Rỗi: “Tới phía trước 600 tầm, bờ bên nam có con sông, tục gọi là Tắt Rỗi”. Tắc Rổi là rạch ở phường Tân Thuận Đông, quận 7, bắt đầu từ xóm Tắc Rổi chảy ra sông Sài Gòn, dài khoảng 2.000 m.

Con rạch Tắt Rỗi (phường Tân Thuận Đông, quận 7) là con đường thông thương của những chiếc ghe bầu từ miền Trung vào mua bán với Sài Gòn. Ghe của Quảng Ngãi, Bình Định và nhiều nhất vẫn là Bình Thuận chở cá mắm từ Phan Thiết, chỉ sơ dừa từ Quảng Ngãi vào và mua gạo, các mặt hàng gia dụng ra. Vào tháng 2 những chiếc ghe này đã có mặt ở đây, mỗi chuyến đi kéo dài vài tháng, cho đến khi bán hết hàng.

Ngày xưa ghe thuyền sau khi vào sông Soài Rạp, qua ngã ba Đèn Đỏ, đến đậu ở vàm rạch Kỳ Hà (gần cầu Phú Mỹ nay), chờ nước lớn, theo rạch Tắt Rỗi để đi tiếp vào sông Sài Gòn, rút ngắn được 2km và an toàn hơn so với đi ngoài sông lớn. Một nhà thờ nhỏ, có tuổi đời trăm năm cũng được dựng bên cạnh cầu Đình. Giáo xứ Tắc Rỗi do người em thứ tư của thánh Lê Văn Gẫm là ông Lê Văn Bằng (thương gia chuyên buôn hàng từ Singapore và Penang) mua toàn bộ khu đất ruộng, cù lao dọc sông Nhà Bè này vào năm 1860. Năm 1991, khu chế xuất Tân Thuận được xây dựng thì nhà thờ cũng được dời về gần chợ Tân Mỹ (phường Tân Phú, quận 7). Gần ngã ba kho 18, đường vào cảng Tân Thuận là địa danh "bờ Tắt Rỗi" hồi còn xe đò Sài Gòn - Phú Xuân, vẫn nghe lơ xe gọi tên khi đến đây. Tắt là dòng nước để đi tắt; rổi là những người đi bán cá tôm bằng ghe. Vì tắt chảy từ nơi sinh sống của những người làm nghề lái rổi nên có tên này. Tắt rổi hay bị viết nhầm là “tắc rổi”.

Ở ấp An Phước, xã Tam Thôn Hiệp, huyện Cần Giờ (TP HCM) cũng có rạch Tắc Rổi, nối liền tắt Dinh Cậu với sông Giữa ở ngã tư Đuôi Cá, dài 3.200 m.

Rạch Cá Bè ở huyện Cần Giờ (TP HCM). Cá Bè là “cá lồng, cá được nuôi trong lồng đặt ở dòng sông”.

Cái Vạn là địa điểm ở xã Long Thọ (huyện Nhơn Trạch, Đồng Nai). Cái Vạn là “rạch xóm chài”. Nơi đây có di chỉ khảo cổ học nổi tiếng được khai quật vào năm 1978 với những dấu tích của cư dân thời tiền sử.

Ngã ba Đầm Chít ở xã Tân Khánh Hòa, huyện Giang Thành (Kiên Giang). Đầm Chít có âm gốc là đầm chích là “nghề bắt cá theo chằm nò. Nghề chài lưới” (theo Huỳnh Tịnh Của)

Chợ tạm Phan Bội Châu (phường 2, thành phố Vũng Tàu) còn gọi là chợ Xóm Lưới đối diện tượng Trần Hưng Đạo, họp xôm tụ nhất vào lúc 5-6 giờ chiều, đặc biệt vào những ngày cuối tuần thì không thiếu bất cứ hải sản gì.

NGUYỄN THANH LỢI
(TINH HOA VIỆT)

Thứ Ba, 14 tháng 5, 2019

Tái kết nối những cội rễ phi nhân như một hình thức thức nhận bạo lực

(Đọc Người ăn chay của Han Kang)  

Bất cứ điều gì chúng ta có thể làm với những con vật chúng ta cũng có thể làm với nhau, chỉ là chúng ta đã thực hành trên chúng trước mà thôi
            (Surfacing, Margaret Atwood, 121)

1. Sống và sự đứt lìa bạo lực khỏi sự sống 

Đúng như nhận định của nhà nữ quyền luận Luce Irigaray, ngày nay, sinh thái đã trở thành một bước ngoặt thời thượng: “Nếu như con người từng dối trá rằng mình có thể thống trị tự nhiên, đặt khả năng dùng văn hóa để khuất phục tự nhiên vào một vị trí cao trên thang bậc giá trị, thì ngày nay, con người có xu hướng quay sang bảo vệ gìn giữ tự nhiên”1. Dù vậy, bằng sự nhạy cảm của mình, bà nhận ra một sự bất ổn nghiêm trọng vẫn tiềm ẩn đằng sau khuynh hướng tưởng chừng như không có gì phải bàn cãi này, bởi “dù rằng hành vi này nghe qua có vẻ như thiên về đạo đức, thực chất lại vẫn nảy sinh từ cảm thức về một quyền lực tuyệt đối chế ngự sự sống thay vì một thái độ trân trọng sự sống […], vẫn còn sự sống là một cái gì nằm bên ngoài bản thân chúng ta, trong tương quan với sự sống của chính chúng ta” (Irigaray 101). Nói cách khác, nguy cơ nằm ở chỗ chúng ta vẫn không ngừng hướng mối quan tâm của mình tới một “thế giới tự nhiên bên ngoài”, tới các loài động vật và thực vật, tới một “môi trường sống xung quanh”, trong khi lại không xem bản thân mình cũng là những tồn tại sống (living beings). Như thế, hành vi sinh thái đầu tiên chính là suy ngẫm và định vị lại tình trạng sinh tồn của bản thể, đặt ra một câu hỏi mang tính phản tư về việc “liệu có phải chúng ta đang thực sự sống không, hay làm thế nào để chúng ta có thể là hoặc có thể trở thành một tồn tại sống”, để biết “sống và coi chính mình như là một tồn tại sống giữa các tồn tại sống khác, trong một môi trường cho phép sự sống tồn tại và nảy nở sinh sôi” (Irigaray 101). Con người, tóm lại, phải không ngừng hoài nghi bản ngã, hoài nghi lại chính trạng thái sinh tồn của mình bởi nó, ngay từ khi ra đời, đã luôn đứng trước nguy cơ bị cắt gọt và khuôn đúc để trở thành một sản phẩm xã hội chuẩn mực: “văn hóa cắt rời chúng ta khỏi những cội rễ tự nhiên của mình thay vì góp phần hướng đến dung dưỡng chúng ta trong tư cách là những tồn tại tự nhiên”. Theo cách đó, văn hóa “khiến chúng ta trở nên xa lạ với nhau trong tư cách là những tồn tại sống, không những thế, khiến chúng ta trở nên càng lúc càng xa lạ với chính mình” (Irigaray 101). Con người xã hội, từ đó, không là gì khác ngoài những tồn tại vong cội, thiếu sót, bị chia cắt khỏi phần tồn tại bản nguyên được định danh là “phần tự nhiên không được giáo dưỡng” (uneducated nature) vốn vận hành theo những luật tắc trừu tượng và tùy tiện của sự sống tự nhiên. Bị đứt lìa khỏi cội rễ ấy, như một đứa trẻ bị cắt lìa dây rốn khi vừa chào đời, chúng ta loay hoay tìm một cách thức “phi-tự nhiên” để gắn kết với kẻ khác và với thế giới thông qua việc học để làm chủ các mã văn hóa thay vì “bắt đầu từ những xung lực căn rễ, những hấp lực hay những đồng cảm hướng đến tôn trọng sự sống của chính mình, của môi trường mình sống, cũng như của các tồn tại sống khác” (Irigaray 101). Cứ thế, theo thời gian, năng lượng sống của chúng ta “bị tê liệt và hư hỏng nặng”, và thế chỗ cho nó là thứ “lực cơ học” máy móc, cứng nhắc, không còn tìm được sự chia sẻ hài hòa nào với năng lượng vũ trụ và năng lượng của những sự sống khác. Ngược lại, “nó bành trướng và lợi dụng những nguồn lực vật chất hay tinh thần, rồi kết thúc bằng việc phá vỡ sự hài hòa toàn diện của thân thể, của thế giới tự nhiên, của cộng đồng sinh thể sống, hay hành động một cách bạo lực chống lại, ngay cả khi có ý chăm sóc bảo vệ những đời sống ấy”. Tất cả những gì con người đã làm chỉ là “chinh phục thế giới tự nhiên ở bên trong cũng như bên ngoài mình”. Đó là nguyên nhân khiến cho ngay cả khi cố gắng kiếm tìm sự sống, chúng ta thực chất vẫn đang “không ngừng khuất phục sự sống ấy theo hoạch định và sự chế tác của mình thay vì để cho nó được tồn tại, tăng trưởng và sinh sôi theo cách của riêng nó. Chúng ta không dễ dàng từ bỏ vai trò của Đấng sáng tạo, ngay cả trong những kì vọng sinh thái gần đây, bởi chúng ta không bắt đầu từ chính mình như một tồn tại sống” (Irigaray 102).

Với Người ăn chay2, Han Kang đã trực tiếp đặt vấn đề về sự hủy hoại và tự hủy hoại này từ chính những gì con người tiêu thụ thực phẩm và lựa chọn thức ăn. Những phản ứng kinh sợ thân thể nhất của nhân vật nữ trước các thực phẩm thịt cũng như việc ăn thịt mà với kẻ khác là nghiễm nhiên khiến tác phẩm như một sự phơi bày, một nỗi hãi hùng nhạy bén khi thức nhận thứ bạo lực được ‘bình thường hóa’ trong đời sống. Tất cả phơi bày hiện trạng được Simon Estok định danh là “sự đứt gãy giữa những gì chúng ta ăn và môi trường”3.

2. Kết nối căn tính động vật: sự thức tỉnh về một thân thể chịu bạo lực 

Ngay từ những trang viết mở đầu, Han Kang đã phô diễn một lựa chọn nam giới - anh chồng - chủ động lựa chọn một kẻ phi cá tính. Nhân vật nữ chính (người vợ) - kẻ được lựa chọn - hiện lên như một kẻ tật nguyền thiếu sót với một thân thể phi sức sống hay bị cắt gọt và tách rời khỏi nguồn sống nguyên thủy: “chiều cao vừa phải, đầu cắt vuông không ngắn cũng không dài, nước da vàng nhợt đôi chỗ bị khô, gò má hơi nhô ra trên đôi mắt một mí, kiểu ăn mặc không chút màu mè như thể sợ bị coi là người có cá tính… cô tiến gần đến bàn tôi ngồi đợi với nhịp bước không nhanh không chậm, không mạnh mẽ quá mà cũng không nhẹ nhàng quá”, đến cả “bộ ngực gần như không có gì”. Thân thể cô được trình hiện trọn vẹn như một sản phẩm hứng chịu bạo lực - một thứ bạo lực khuôn đúc mọi thứ vào khuôn khổ của cái “bình thường”, kháng cự lại mọi dòng mạch khó nắm bắt và đôi khi khó kiểm soát của xung lực tự nhiên. Nói cách khác, từ sự miêu tả rất bình thường ấy, Han Kang như không muốn tiếp tục che đậy tình trạng phi sự sống của một thân thể bị xã hội kiến tạo. Hay, mượn nhận xét của Pierre Bourdieu, thân thể lúc này trở thành “khuôn đúc của những khái niệm phổ biến, phải chịu một sự kiến tạo của xã hội”, trở thành một tồn tại bị cắt lìa khỏi chính nó, bị bóp méo, biến dạng, một thứ thân thể bị quy phục.4

Ở bên cạnh một thân thể nữ đã “hội nhập sự thống trị” một cách cam chịu và ngoan ngoãn như thế gần như là cách để người đàn ông né tránh cho mình khỏi mọi áp lực của “đặc quyền nam giới”: “Nếu như phụ nữ, vốn phải chịu đựng một công cuộc xã hội hóa nhằm giảm giá trị của họ, phủ định họ, thường học tập những đức tính tiêu cực của sự hi sinh, sự nhẫn nhục, và sự thinh lặng, thì đàn ông cũng là tù binh, và là nạn nhân một cách âm hiểm, của hình dung thống trị” (Bourdieu). Người chồng gần như là một kẻ thất bại hoàn toàn trong nỗ lực vươn tới chuẩn mực nam tính thống trị (bụng dưới bắt đầu có từ khi ngoài hai mươi tuổi, bắp tay bắp chân gầy nhẵng chẳng có tí cơ bắp dù đã cố tập tành, cái “của quý” bé tí từng là nguyên nhân của nỗi tự ti…). Nếu như “đặc quyền nam giới cũng là một cái bẫy và đặc quyền này tìm thấy phức bản đối chiếu của nó ở trạng thái căng thẳng và gắng sức thường trực, đôi khi bị đẩy lên đến phi lí” (Bourdieu) thì việc tự so sánh với hình ảnh của “đám đàn ông trong catalogue thời trang” phơi bày cách một hình dung tưởng tượng, một huyền thoại nam tính được kiến tạo và áp đặt, trở thành sức ép với mọi người đàn ông trên các thang bậc xã hội. Bởi vậy, để hòa nhập vào xã hội, sau những nỗ lực vươn tới một huyền thoại chuẩn mẫu về thân thể, là việc chấp nhận thân thể và từ đó tìm cách xếp đặt thân thể ấy vào những vị trí xã hội phù hợp với nó, tìm kiếm những không gian xã hội mà thân thể ấy vừa vặn và có khả năng thích nghi. Bạo lực, theo đó, là thứ được chịu đựng và thích nghi thay vì kháng cự. Điều ấy khiến trưởng thành giống như một quá trình kiếm tìm những vị trí thích hợp trong sơ đồ xã hội, tự đặt mình vào một sự vận hành cơ học hóa thay vì lắng nghe những ham muốn bản năng của thân thể: anh chồng khi nhỏ thì cầm đầu đám trẻ con bé hơn mình hai ba tuổi - lớn thì đăng kí vào trường đại học có học bổng kha khá - rồi vào làm ở một công ti nhỏ nhỏ biết quý cái năng lực vừa phải của mình - và thỏa mãn với mức lương bình bình nhận đều đặn hàng tháng.

Tồn tại xã hội, do vậy, là chấp nhận và duy trì một trạng thái “bình thường” để đảm bảo sự vận hành của bộ máy xã hội ấy. Trạng thái hiện tồn ấy đem đến một sự dễ chịu bởi nó vừa thừa nhận những chuẩn mực và sự phân cấp vừa học cách định vị để tồn tại vừa vặn bên trong nó. Người ăn chay phơi bày nghịch lí ngay từ những gì nhỏ nhặt nhất: danh dự nam giới có nguy cơ bị tổn tại khi người vợ không chịu mặc áo lót: “thà rằng cô ấy mặc áo ngực dầy lên thì tôi có cái mà sĩ diện với bạn bè”. Thân thể nữ, như thế, không ngừng bị ngụy tạo, bị sử dụng, bị coi như một thứ vật chất được lợi dụng để khẳng định năng lực chiếm đoạt và đem lại danh dự cho người đàn ông. Cô gái trong truyện có thể không có tiếng nói nhưng thân thể của cô không câm tiếng. Cô “khó chịu khi mặc vào vì nó cứ thít lấy bộ ngực của cô”. Cô tháo bỏ áo ngực như muốn cởi bỏ sự bó buộc nguồn sống. Thế mà riêng điều này thôi đã là đi ra ngoài địa hạt của cái bình thường.

Tóm lại, ham muốn và bản năng của chủ thể dục tình (sexuate subjects) gần như bị lãng quên tuyệt đối để đánh đổi lấy sự bình thường: “mọi thứ đều bình thường… Năm nay là năm thứ năm kể từ khi chúng tôi kết hôn, ngay từ đầu tình yêu cũng không lấy làm cuồng nhiệt cho lắm nên đến giờ cũng không có gì đặc biệt nhàm chán”. Việc có thai như một việc làm được lên kế hoạch. Và trong mọi việc được lên kế hoạch mang tính vĩnh viễn như thế, cách hành xử của người vợ đột ngột chệch khỏi đường ray: “Tôi cũng không thể tưởng tượng được rằng có một ngày cuộc sống vợ chồng của chúng tôi lại thay đổi”.

Việc cô khước từ ăn thịt bắt đầu từ những ám ảnh vô thức. Những cơn mơ đột ngột, sự mất ngủ trong sợ hãi, nhìn chằm chằm vào cái tủ lạnh 400 lít màu trắng đục mà không hiểu vì sao, muốn nằm nằm co quắp như một bào thai,… tất cả bắt nguồn từ sự khủng hoảng trong việc “nhận thức lại” chính những gì cô và chồng vẫn ăn hàng ngày - “những túi nilon trắng, đen và cả những hộp kín bằng nhựa để đầy trên sàn nhà đến nỗi không còn chỗ len chân. Thịt bò để nấu lẩu, thịt lợn ba chỉ, hai đôi xương chân bò to đùng, những con mực trong túi nilon, những cái bánh bao nhân thịt”, rồi: “thịt bò, thịt lợn, thịt gà chặt thành miếng”,… Sự ngụy tạo của văn hóa tiềm ẩn trong ngay từ những cách gọi tên, những cách đóng bọc - ngôn ngữ cũng chẳng khác gì túi nilon hay như lớp vỏ bánh bao bọc bên ngoài những phiến/miếng thịt. Không thể chối cãi, đó chỉ là một cách che giấu sự thật, một cách đánh tráo khái niệm, một cách “thực phẩm hóa” mọi thứ trước đó đã từng là những con vật sống. Nhưng nếu như ý thức cố tìm cách giấu giếm đi những sự thật tàn sát thì vô thức nhắc nhở cô. Căn nguyên tiên khởi dẫn tới hành động của cô là những giấc mơ - một sự trỗi dậy của vô thức, dẫn đến một nhận thức đánh động vào da thịt, một sự đồng cảm từ-dưới-lên.

Song song với việc loại trừ thịt ra khỏi lựa chọn thực phẩm là việc cô dần dần phá vỡ việc duy trì hình ảnh một người vợ lí tưởng theo tiêu chuẩn “bình thường”: không giặt áo, không chuẩn bị đồ đạc cho chồng, cũng không tiễn chân chồng đi làm (lần đầu tiên kể từ năm năm sau ngày cưới). Sự bất bình thường khiến người chồng sợ hãi. Tỉnh dậy giữa đêm, cô như một miếng thịt đông lạnh câm tiếng được bao bọc trong túi nilon được nhét trong tủ - “không nhúc nhích”, “khuôn mặt chìm trong bóng tối nhưng có cái gì đó rất ghê rợn”, là người sợ lạnh nhưng lần này chấp nhận cái lạnh (chân không, áo ngủ mỏng mặc mùa xuân thu), “đứng đờ ra như tượng đá”,… Trong cô như đang diễn ra “sự trở thành người khác” (becoming other) với minh chứng đầu tiên là trở thành dạng thức tồn tại khiến mình bị ám ảnh - một tảng thịt động vật đông lạnh - một thứ cũng bị cắt rời khỏi chỉnh thể sống vốn có của nó, khỏi nguồn sống gốc rễ của nó và được cố giữ cho tươi (hay đúng hơn là được bảo quản để có thể giữ được giá trị sử dụng). Thức nhận này giống như một sự thức tỉnh lại hiện trạng sinh tồn của bản thể, nhận thức lại sự vô tri giác và cứng đờ của bản ngã thì hiện tại, nhưng đồng thời lại là sản phẩm của một quá trình bạo lực diễn ra trước đó.

Trong giấc mơ, cô lạc vào một “nhà kho bỏ hoang” - một biến thể của lò sát sinh với “hàng trăm tảng thịt to đùng, đỏ ối treo trên những thanh gậy to dài. Có những tảng thịt còn chưa kịp khô, tiết đỏ vẫn chảy xuống ròng ròng… Chiếc áo trắng đang mặc đã bị dính máu đỏ tươi”. Lúc này, những tảng thịt không còn là những vật vô tri, mà hiện nguyên hình là những thân thể chịu bạo lực. Sự xuất hiện của máu và thịt - nhắc nhở rằng những miếng thịt trong tủ lạnh kia từng thuộc về một thân thể, từng sở hữu một “gương mặt”, từng bị trải qua một quá trình tàn bạo tước đoạt sự sống, và từng đau đớn. Con vật được trả về đúng xác thịt ban đầu của nó: máu, xương và thịt. Và nhìn từ khía cạnh này, chúng không còn là ‘kẻ khác xa lạ’ với chúng ta. Han Kang đề xuất một sự tương đồng vừa theo nghĩa đen vừa theo nghĩa biểu tượng: thân thể người thực chất chỉ là một thứ bị xã hội và những định kiến ăn sâu cắt gọt, bị tước đoạt sự sống và nguồn sống. Chiếc áo trắng tưởng như có thể là cách để con người cố che đậy đi thân xác da thịt, cách để con người tìm kiếm một sự phân biệt hẳn với những tồn tại động vật phi nhân, và cũng là cách để con người tự đặt mình vào vị trí vô can, không nhuốm tội lỗi; giờ đây nhuốm máu. Con người không né tránh được tồn tại thực sự của mình, cũng không thể chối bỏ được tội lỗi mình gây ra cho những con vật và của chính mình, cũng như của những người khác - con người không vô can với tự nhiên, cũng không vô can với chính mình.

Phản ứng khước từ của cô trọn vẹn từ không ngủ, không muốn ăn, đến từ chối quan hệ tình dục. Câu trả lời của cô với chồng mình là vì ‘Mùi’ - ‘Mùi thịt bốc ra từ người anh’. Không gì khác, đó là một ý thức về thể xác: con người không thể né tránh việc mình mang thể xác của động vật. Nếu như câu trả lời của người chồng “Anh vừa tắm xong. Mùi thịt ở đâu ra” giống như một sự đứt gãy, khăng khăng khẳng định ‘mùi thịt’ là một cái gì đó ở bên ngoài mình, không thuộc về mình; thì ngược lại, cô vợ khẳng định đó là mùi từ-bên-trong, một thứ mùi có thể được coi là bằng chứng cho bản chất động vật của con người. Nó tỏa ra từ “từng lỗ chân lông” mà không ai có thể che giấu. Sự nhạy cảm khiến cô bị lệch ra khỏi khuôn khổ xã hội mà cô buộc phải và vốn vẫn cố gắng vừa vặn: “Mỗi khi thấy vợ lo lắng chuyện không hay, tôi lại nghĩ, bố mẹ vợ làm xưởng mộc và có cửa hàng ở một thành phố nhỏ, vợ chồng chị gái và em trai đều là người tốt như thế, còn cô ấy thì không hợp tí nào với một gia đình như thế cả”. Việc từ bỏ ăn thịt không chỉ đặt cô ra bên ngoài những bữa ăn, nó khiến cô lệch khỏi những bình thường được nâng lên làm chuẩn mà tất cả mọi người trong gia đình dường như đều đáp ứng được. Ăn thịt cũng bằng với mở được xưởng mộc, cũng bằng với quản lý một cửa hàng, cũng bằng với làm người tốt. Có một logic ngầm kết nối những gì không liên quan ấy lại với nhau - logic của cái bình thường, logic của sự hài lòng với khả năng đạt được độ trung bình trong mọi thứ, một mức sống trung lưu “bình thường nhất” để tồn tại và vận hành tốt nhất có thể, không va chạm, không gây khó chịu.

Một gia đình ‘bình thường nhất’ được xác quyết thông qua việc ăn uống: “Nghĩ đến người nhà cô ấy, tự nhiên mùi tỏi nướng và khói ngào ngạt hiện ra trong đầu tôi. Những chén soju nâng lên đặt xuống, mỡ thịt cháy bốc lên, đám phụ nữ nói chuyện ríu rít trong bếp… mẹ vợ biết làm gỏi cá sống, ông anh đồng hao và vợ là những người có thể chặt một con gà thành những miếng vuông vức bằng dao chuyên dùng ở cửa hàng thịt. Tôi cũng từng thích sự mạnh mẽ của vợ khi thấy cô ấy có thể lấy bàn tay đập mấy con gián một lúc. Chẳng phải cô ấy là người đàn bà bình thường nhất thế gian mà tôi đã chọn đấy sao…”. Những mô tả này có khác gì một chuẩn mực bình yên hạnh phúc gắn với những bữa ăn gia đình vẫn thường được ca ngợi?

Dù vậy, Han Kang dám để cho nhân vật của mình kháng cự lại, để cho nó dám đơn độc tra vấn về bản chất ngụy tạo của văn hóa, về trật tự nhân loại/ phi nhân vốn được đặt trong tổng thể cái trật tự được gán cho là “tự nhiên” và “vĩnh viễn” của sự vật vẫn không ngừng “xã hội hóa cái mang tính sinh học và sinh học hóa cái mang tính xã hội” để ban cho con người những đặc quyền phi lý (Pierre Bourdieu).

ĐẶNG THỊ THÁI HÀ
 (TCSH350/04-2018)

_______________

1. Luce Irigaray, Starting from Ourselves as Living Being, Journal of the British Society for Phenomenology, 46:2, 2015, 101-108.
2. Người ăn chay, Han Kang (Giải thưởng Man Booker International 2016), Nxb. Trẻ, 2011.
3. Simon C. Estok, Theorizing the Disconnect Between What we Eat and the Environment, Literature and Environment, Vol 10., No 2., 2011.12 (241-257).
4. Pierre Bourdieu, Sự thống trị của nam giới, Nxb. Tri thức, 2010.  


TIN LIÊN QUAN:



Thứ Sáu, 10 tháng 5, 2019

Truyện ngắn Trần Như Ý: Nỗi buồn con nước

Giữa màn đêm tĩnh mịch, mấy con bồ tọt ngoài hè cứ kêu râm ran. Chế Hai chong ngọn đèn dầu, ngồi nhẩm tính mua đồ cho ngày xuống mối. Chốc chốc lại tặc lưỡi: “Mong là tới đám gả mày trời đừng có mưa vậy nữa. Dột hết, nhìn nhà cửa nhếch nhác lắm”. Chế dừng vài giây rồi nói tiếp: “Mày được gả về đó tao mừng”. Nói rồi, chế tới bàn thờ châm thêm dầu vào bình đèn. Giọng chế nói chuyện tôi nghe sao y hệt má, ngay cả cái dáng của chế nhìn từ ngoài sau, tôi cảm giác như má đang ở trước mặt mình…

Lục đục đến khuya, chế mới chịu vô mùng ngủ. Trở mình nhiều lần không yên giấc, chế căn dặn tôi: “Mày cứ thương con thằng Trung như là con của mày, con nít mày thương nó thì nó mới thương mày. Nhớ hồi đó dì Ngãi không, đâu có tình cảm với chị em mình, nên bây giờ không có gì đọng lại. Ba mất là chẳng còn mối liên hệ nào ngoài thằng Út”. Chế nói mà tôi cứ tưởng như là chế đã trải qua cuộc sống hôn nhân rồi vậy. Tôi thở dài, buồn bã nói: “Sao chế không cho em ở với chế tới già, muốn em lấy chồng chi?”. Chế trầm ngâm giây lát, xoay người ôm tôi rồi vuốt mấy sợi tóc bảo: “Một mình tao mang tiếng đủ rồi…”. Chế không nói gì thêm, tôi cũng im lặng vì cảm giác có thứ gì đó đang chặn lại cổ họng mình. Khó khăn lắm cả hai chị em mới chìm vào giấc ngủ.

Tuy cách nhau 6 tuổi nhưng lúc nào tôi cũng xem chế như là mẹ. Hồi đó, chế ra đời không được bên nội tôi chào đón vì họ mong đầu lòng là đứa cháu trai. Má tôi buồn rầu mà sinh bệnh, vì sức khỏe yếu mà những lần mang thai sau đó bà không giữ lại được người nào cho đến khi có mặt tôi. Cũng như chế Hai, tôi bị họ hàng ghẻ lạnh. Ngay cả ba ruột của mình, tôi cũng không nhận được sự yêu thương. Tôi chỉ nhớ mang máng, cách mấy tháng có khi cả năm trời ông chỉ về thăm nhà một lần vì bận đi làm ăn xa, những lần hiếm hoi đó ông chẳng bao giờ dòm ngó đến tôi, huống chi là cưng nựng. Rồi mỗi khi ông đi, má tôi lại khóc. Tôi thì còn quá nhỏ chưa hiểu gì, chỉ có chế Hai mới biết cách ủi an má. Những lần như thế, má lại ôm hai chị em tôi vào lòng mặc cho nước mắt tuôn rơi. Tôi cảm nhận rất rõ ngực của má ấm, lưng má gầy nhấp nhô những lằn xương, còn Chế Hai dáng người nhỏ nhắn, đôi mắt vô hồn ngân ngấn nước nhìn xuống dòng sông - nơi có mấy đám lục bình lênh đênh trôi nổi…

Sáng hôm sau đàn trai xuống sớm, hai chị em tôi tất bật nấu nướng, thỉnh thoảng tôi thấy ánh mắt mẹ chồng tương lai dò xét xem tôi có đảm đang hay không. Người lớn bên này là dì Ba có mặt để bàn tính chuyện đám cưới với họ. Khi vô tình thấy Trung lén nhìn mình đầy yêu thương, tự dưng tôi nghe tim mình rung động. Thì ra bấy lâu nay, chỉ vì thương chế Hai mà tôi đã dẹp bỏ tình cảm nam nữ sang một bên, nên bây giờ gặp người đúng thời điểm, niềm khát khao mái ấm gia đình trong tôi thức dậy nhưng lại ngậm ngùi cho số phận hẩm hiu của chị mình. Cùng là phụ nữ, có lẽ chế Hai cũng như tôi, cũng khao khát tình cảm vợ chồng hơn ai hết. Cơm nước xong, tôi ngồi sau hè rửa chén thì Trung cũng đi theo, nhìn hai công ruộng đầy mạ non tôi thấy mắt cay xè. Tôi lấy chồng rồi, ai cùng chế Hai gặt lúa, cày cấy ruộng vườn. Trung là người đàn ông từng trải nên nhận ra ngay tâm tư ấy, anh giúp tôi múc nước đổ xuống thau, giọng từ tốn: “Cưới nhau rồi anh sẽ thường xuyên đưa em về nhà thăm chế Hai. Tới mùa gặt anh nhờ người qua phụ. Em đừng suy nghĩ nhiều”. Tôi chỉ gật đầu nhẹ vì chẳng biết nói gì.

Hai tháng sau, ngày trọng đại của đời người con gái cũng đến. Tôi ngồi trong phòng hồi hộp chờ Trung. Nhìn vào gương, hiện trong mắt tôi là hình ảnh cô dâu lộng lẫy với mái tóc bồng, phần đuôi uốn xoăn nhẹ. Điểm xuyến trên đỉnh đầu là viền hoa li ti. Ai ai cũng bảo tôi đẹp rạng ngời. Chiếc váy cưới trắng khoác lên người khiến tôi thêm phần kiều diễm. Qua ngưỡng 30, nhan sắc của tôi đã trở nên mặn mà, đằm thắm - Trung vẫn hay khen tôi như thế. Rồi phút giây quan trọng cũng đến, tôi nghe bên ngoài tiếng chú Tư thông báo là đàn trai đang bưng mâm quả từ ngoài ngõ đi vào. Hôm nay nhà tôi chỉ còn lại vài người đi đưa dâu. Nhờ nắng tốt mà tiệc xuất giá tối qua được họ hàng, láng giềng đến đủ mặt chung vui. Cũng lần đầu tiên trong cuộc đời, tôi thấy bên nội sốt sắng, nhiệt tình với chị em tôi. Lúc làm lễ từ đường, thấy cảnh nhà đơn chiếc, mấy cô mấy chú ra bàn ngồi uống ly rượu lễ khiến hai chị em cảm thấy rất ấm lòng. Ngồi trong này, mặc dù nghe chủ lễ nói bài bản, rất hay nhưng tôi không tài nào tập trung bởi những cảm xúc đan xen, lẫn lộn. Vậy là ít phút nữa thôi, tôi đã trở thành vợ của Trung. Tôi sẽ không còn bị người đời dị nghị là "gái ế" suốt ngày lầm lũi, quấn quýt bên bà chị già khắc khổ. Đến lúc đàn gái cho của hồi môn, chế Hai trình ra mớ vàng lụn vụn nhưng tròn trĩnh một cây khiến tôi rơi nước mắt. Bao nhiêu của cải tích lũy bấy lâu, chế dành hết cho đứa em gái cũng là người thân duy nhất của mình. Nhìn chiếc nhẫn, tấm lắc, cọng dây chuyền rời rạc, tôi thấy mắt mình mờ bởi làn nước bao vây. Nhớ mấy bữa chế bệnh, tôi năn nỉ kêu đi bác sĩ, chế nhất định không đi. Tết nhứt hay đám tiệc, tôi chèo kéo mua đồ mới mặc, chế cũng quyết không chịu. Nhiều lúc tôi tức anh ách vì cái kiểu ăn không dám ăn, mặc không dám mặc của chế, nhưng nào biết một cây vàng làm của hồi môn mà chế cho tôi là từ cách sống tằn tiện ấy.

Sau những nghi thức, lễ nghi, Trung nắm lấy tay tôi cùng đi ra đầu ngõ. Tôi bước về phía trước mà không có dũng khí ngoái đầu nhìn lại căn nhà lá tiêu điều. Đó là mái tranh mà tôi gắn bó hơn 30 năm, nơi có hai chiếc bóng ra vào, tối lửa tắt đèn em chị có nhau. Dòng sông quê vẫn chảy xuôi lững lờ hai con nước. Rồi đây chẳng còn tiếng í ới gọi nhau khi đến bữa cơm chiều. Ở nơi đó, đang có dáng người nhỏ bé cô đơn lặng lẽ nén đi dòng nước mắt…

TRẦN NHƯ Ý

TIN LIÊN QUAN:



Thứ Tư, 8 tháng 5, 2019

Truyện ngắn Đoàn Giỏi: Tiếng gọi ngàn

Cứ vài ba tháng là bà con ấp Kèo Nèo lại rủ nhau tổ chức đi "san hội" một lần. Bởi lâu ngày thèm thịt, an mãi cá tôm phát chán cũng có. Bởi thích thú được chạy nhảy đuổi bắt, hò la thỏa sức cũng có. Đối với các tay lì lợm có chút ít võ nghệ thì đó là dịp phô phang tài trí, đem gan góc ra thử thách, đối chọi với nanh vuốt của các con vật rừng hung hãn nhất.

Đàn ông trai tráng khỏe mạnh tích cực, tất nhiên. Mà đàn bà trẻ con yếu ớt cũng hang hái theo phụ trợ. Bởi các con thịt lớn san được, đều có phần chia cho từng nhà, còn con nào nho nhỏ thì gia đình ai bắt được nấy an. Và cũng bởi trong các câu chuyện kể ở các tiệc nhậu giỗ, nhậu cưới... thì chuyện đi san được thực khách đứng ra biểu diễn lúc chính mình đánh nhau với ác thú, bao giờ cũng là tiết mục hấp dẫn, hồi hộp, khoái trá được mọi người hoan nghênh nhất. Mà ở cái xứ rừng heo hút của đất Gò Quao - trong những nam hai mươi của thế kỷ chúng ta đang sống đây - đã gọi là tay "võ dõng" thì nào ai há chịu kém ai. Chính vì thế mà hầu như không có mấy con vật rừng sống sót, mỗi lần họ tập hợp hàng đôi ba trăm người ham hở kéo nhau gõ thùng thiếc, khua chiêng, huơ giáo mác vây kín cả một khu rừng nào đó, từ lúc mặt trời còn chưa ló dạng.
Nhà văn Đoàn Giỏi

Từ hổ báo, lợn rừng, nai, hoẵng, khỉ, vượn, chim nước, kỳ đà, rắn, rùa... cho tới con nhen con sóc vừa giật mình thức dậy nhô đầu ra khỏi bộng cây, con chuột nhum an đêm chưa kịp về đến tổ chui trốn xuống hang cũng đều khó lòng thoát khỏi tay họ. Nói chung tất cả các loài bò, bay, lủi, chạy trong khu rừng bị bao vây đều biến thành mồi nhậu của những bữa rượu kéo dài thâu đêm.

Vậy mà lần nọ, có một con lợn rừng con thoát chết. Lợn rừng mẹ đã chống cự quyết liệt để bảo vệ con. Bị mác thông đâm lút cán, nó không ngớt hộc lên dữ dội, còn nghẹo cổ cắn nát cái mác thông và húc mấy người suýt toi mạng. Hạ được mẹ rồi, họ nổi khùng giết luôn cả đàn con. Còn một con trốn chui vào hốc cây. Khi một ngọn mũi chuồi vừa chong ra, sắp sửa thọc vào hông con vật rừng bé nhỏ thì chú Tư Đằng trưởng ấp phát hiện thấy nó có cái vá trắng giữa trán, bèn la lớn:

- Dừng tay lại! Đừng đâm... Đừng đâm nghe các cha nội!

- Tại sao? - Người toan đâm, mắt đầy sát khí, hầm hầm quay lại hỏi.

- Linh vật đa! Không thấy cái đốm giữa trán nó sao? Từ nhỏ tới giờ tôi mới thấy giống heo rừng có con này là một.

- Vậy mà thả nó sống để nó lớn lên thành tinh à?

- Thả đâu! Bắt về chớ! Để bắt nó về tặng thầy giáo Bảy!

Nhờ cái vá trắng giữa trán và lòng mến mộ thầy giáo Bảy của bà con ấp Kèo Nèo mà con lợn rừng con này thoát chết.

***

Thầy giáo Bảy thích nuôi chim, nuôi khỉ, nuôi trăn... Khi chúng quen người và lớn rồi, thầy thả sống tự do chứ không giam nhốt. Dường như con nào cũng "khôn", rong chơi chán - có khi đến vài ba tháng - lại biết tìm về nhà chủ. Nhưng rút cuộc nhà thầy không còn con nào. Có thể chúng sa hầm vướng bẫy, thọ tên chết ở một cánh rừng nào đó, cũng có thể chúng ra đi theo tiếng gọi của núi rừng và giống loài muôn thuở cũng nên. Thật là: "Uổng công xúc tép nuôi cò, cò an cò lớn cò dò lên cây!". Cũng đã có vài người tiếc hộ công lênh, chê thầm thầy như vậy.

Thầy Bảy được tiếng là người có tài thuyết phục các con vật rừng mà ai cũng cho là khó nuôi dạy. Nhiều lúc thầy ngồi suy tư hàng giờ, con trăn bò lên cổ, quấn quanh người, thè lưỡi liếm mặt, thầy cũng không động đậy. Chú Tư Đằng từng nghĩ: ắt thầy là người khai sáng một thứ đạo gì đó, chẳng qua "phong vân chưa gặp hội" nên còn ẩn tích mai danh, chưa ra mặt cứu đời. Cho nên khi ôm con lợn rừng con đến tặng thầy, chú có nói vui, giọng thật thà: "Biết đâu nó cũng là một Thiên bồng nguyên soái(1) phải đọa xuống trần cũng nên!". Thầy Bảy cười, cám ơn chú rối rít, rồi lại lắc đầu cười mà chẳng có ý kiến nhận xét, bình phẩm gì.

Nói cho "miên" thì bà con chẳng ai rõ lai lịch thầy Bảy. Người thì bảo chắc ông thất tình hoặc trốn nợ; kẻ cho rằng: có chữ nghĩa như ông, ra làm việc thì thông ngôn ký lục dễ như chơi, lại bỏ trốn thị thiềng lánh về xứ khỉ ho cò gáy này, sống như một nông dân lam lũ, là ông muốn tỏ thái độ bất hợp tác với nhà nước Pháp... Tất cả những tiếng xầm xì ấy đều có đến tai thầy. Thầy chỉ mỉm cười. Mà điều này chánh hương quản ở tận trên "nhà việc" cách hai mươi cây số cũng có để mắt tới. Nhất là chuyện khi mới về đây, thầy thường khuyên nhủ bà con cố gắng cho con cháu đi học để "mở mang tâm trí". Biết vậy, nhưng mà học ở đâu? Ngay cả xã và các làng phụ cận cũng không có lấy một trường tiểu học? Hương chức hội tề nhiều ông còn dốt đặc cán mai, tập được một chữ ký tên cũng là khá lắm. Thầy xin phép làng, đứng ra dạy các em học tại nhà mình không lấy một đồng xu cắc bạc nào; trò nào nghèo quá thầy còn cấp cho cả giấy bút. Bà con dân ấp cảm phục nghĩa cử ấy, mặc nhiên gọi ông là thầy giáo. Lâu ngày thành một danh xưng. Ở thời đế quốc tư bản Pháp khuếch trương kinh tế lớn tại các thuộc địa sau đại chiến thế giới thứ nhất, giữa lúc mọi người bon chen theo đường danh lợi, giữ mình thanh khiết được như thầy là chuyện hiếm. Thầy cất một ngôi nhà sàn nhỏ ngoài đầu xóm, xin phá đất cấy một khoảnh ruộng nhỏ đủ gạo an; cũng đi "an ong", đốn củi như mọi người. Ngoài những giờ lao động, thầy lấy sự dạy trẻ và cham sóc các con vật rừng làm vui. Hầu như thế sự gác ngoài tai.

Thầy đặt tên con lợn rừng còn sống sót ấy, tên con Vá.

Đó là một con cái đã bước vào tháng tuổi thứ tư. Nếu không gặp tai họa vừa rồi thì nó vẫn còn quây quần bên mẹ cùng các anh chị nó, cho đến hết tuổi hai nam mới lìa đàn. Dù sao trong ba tháng theo mẹ lùng sục giữa rừng bụi hoang vu, nó đã có thể sống tự lập được rồi, đâu còn tính thuần khiết ấu nhi như những chú lợn rừng non mới đẻ bị bắt còn chưa kịp phủ lông tơ, chịu phục tùng bú bình sữa hay nút vú một con chó cái đẻ mất con.

Tính chất hoang rợ còn nguyên vẹn. Đó là trở ngại lớn trong cố gắng đem lại sự gắn bó với con người cô đơn này. Hơn nữa, nó đâu phải là một con chuột lang mua ở chợ về, một con chuột lang con lần đầu tiên mở mắt trong nhà người. Ngoài khoai sắn, khoai lang và các thứ rễ củ mềm, con Vá còn đánh hơi mùi thịt sống. Nó đã thè chiếc lưỡi nhám thử liếm từng nhát một, khúc thịt rắn thầy Bảy xin về ném chỗ góc sân. Và cũng bắt chước mẹ trong tư thế ngồi xổm trước thây con chuột nhum hay thây con rắn mái gầm: những cung cách quen thuộc đã thổi vào tâm hồn con vật dễ nổi xung này, tính e dè sợ hãi và thói ưa dọa nạt, vốn là bản tính của các loài thú rừng hoang dã.

Việc dạy tập cho con Vá quen người phải kiên trì từng bước. Tất cả bộ dạng nó đều toát ra một sự nghi ngờ. Thấy người lạ, nó lùi phắt lại. Hai chót tai nhọn hoắt của nó cụp xuống dựng lên một cách dữ tợn, những nếp cau ngược giữa vá trán rung rung và hai khóe mép bóng như nhọ mỡ chốc chốc lại nhếch một cái để lộ những chiếc rang hàm mới nhú trắng tinh. Chót đuôi cũn cỡn túm lông bé tẹo của nó quật mạnh vào hai bên mông liên tục, và nếu thấy người làm một cử chỉ đe dọa như dư dứ cánh tay chẳng hạn, là y như rằng nó lao tới một bước chẳng khác gì mẹ nó lúc giận dữ chìa hai chiếc nanh cong nhọn hoắt ra, lao thẳng vào bụng kẻ thù xốc ngược lên trước khi quật xuống đất. Tất nhiên là "thế võ cổ truyền" ấy nó mới chỉ đánh vào không khí, đầu hất qua hất lại một cách còn rất vụng về.

Và đã phải khá lâu, con Vá mới quen dần, chịu đứng yên để thầy gãi lưng, trong lúc đang nhai tóp tép những bắp ngô non. Thức an bằng động vật sống như ếch nhái, rắn con... mà đám học trò đập được dọc đường, mỗi ngày mang đến cho nó, khoảng cách ấy thưa dần theo lệnh thầy giáo. Khi nó chỉ được cho an chuối cây thái ủ chua và các thức an nấu chín sền sệt như cháo gạo lức... thì đối với nó từ chỗ lạ lẫm ngạc nhiên buổi đầu, qua vài hôm đã thành một sự thèm quen thích thú. Khi móng nó đã to như chiếc cốc, hai chiếc nanh nhọn bắt đầu nhô ra khỏi khóe mép và chỉ một cái hất mõm, nó đã đánh gẫy rắc chiếc cột chôn giữa sân thì những bữa an đúng giờ giấc cũng bắt đầu.

Còn những trò đùa nghịch thì nó mới chỉ học được quen quen thôi. Như ủi lan những khúc gỗ cắt ngắn chất trong sân chưa bổ thành củi, lắc mõm đánh rơi từng quả mướp xác - tròn như quả bóng te - nít - thầy Bảy lần lượt tung lên trước đầu nó, đuổi nhau với Bé Hai con chú Tư Đằng và con chó Mực nhỏ chạy vòng quanh sân... đôi khi thầy Bảy cũng tham gia. Sắc lông óng mượt hoe hoe toàn thân rực vàng trong nắng, đã xóa hết những vằn lông sọc dài thẫm màu, lùi xùi, thưa và cứng hai bên hông, còn cái vá trắng cũng to gần bằng bàn tay. Nó đã là một con lợn rừng choai có bước đi chững chạc, chân đứng khá cao.

Dù có cao to nặng cân hơn trước, nó vẫn thừa nhanh nhẹn lao theo đớp những con dơi muỗi bay là là trên sân, rồi đứng vẫy đuôi nhai rau ráu, và khước từ không nghĩ đến chuyện làm cho con chồn, con cù lần(2) đã được thuần hóa lẩn quẩn dưới sân nhà lo ngại.

Chỉ có một điều làm nó khủng khiếp: đó là những người nông dân lực lưỡng cởi trần vác đòn xóc, dắt những con trâu có cặp sừng cong nhọn hoắt đi qua bên ngoài rào.

Nhún nhường và tự hạ buổi sáng, nghịch ngợm hoặc lục lọi ủi chơi nhang nhít sau các bữa an, đó là đặc điểm của nó ban ngày. Tuy nhiên, nhiều lúc nó cũng suồng sã nhảy lên sàn, chực bên bàn thầy Bảy đang ngồi an cơm để vòi vĩnh xin một vài miếng xương đang gặm dở. Nhưng ban đêm, khi gió thổi qua rừng đưa đến nó mùi hương của những vành hoa mới nở, hơi thở của rừng rậm và mùi mồ hôi các loài thú hoang, con Vá cảm thấy bồn chồn, nó không ịt ịt nữa, mà đầu hết lắc bên trái lại lắc bên phải, ẹc ẹc giống như lúc nó theo mẹ lần các con đường mòn dẫn ra những rẫy ngô, ra các ven đầm nước. Nó loanh quanh đi trong sân, nhiều lúc chồm lên vách rào cố lách mõm ngó ra ngoài tò mò muốn được đến gần nhìn xem những gì mà các giác quan vừa tiếp xúc, khiến nó cố đoán ra.

Giam nhốt nó vào cũi vào chuồng, chuyện ấy dễ quá, ai chẳng biết nhưng thật là lố bịch. Bởi điều đó, trước hết là trái với quy luật của ngàn xanh. Cũi chuồng vốn là sáng kiến của những kẻ tàn nhẫn. Thầy Bảy vẫn nghĩ thế. Hơn nữa, con Vá đâu phải là con lợn thịt.

Chủ nó đã tập cho nó quen đeo vòng cổ. Đầu tiên thầy chỉ buộc quanh cổ nó một vòng dây da có khóa sắt nhỏ, xem như một món trang sức. Và đính thêm chiếc lục lạc, nhất cử nhất động của con Vá đều rung leng keng. ít lâu sau lại buộc vào vòng cổ một đoạn thừng thả lỏng. Tất cả những việc đó đều xem như trò chơi. Dù con Vá nhiều lúc có nổi xung, nhảy dựng ngược, quay đầu đánh tung sợi thừng vướng víu, sự bực mình ấy vẫn cứ là trò chơi kia mà.

Chiếc vòng de đeo ở cổ con Vá cứ nửa tháng lại được nới rộng thêm một nấc, nhưng không bao giờ rời cổ nó nữa. Thường ban ngày nó vẫn ngủ từ sáng đến ba bốn giờ chiều. Giờ đó, tập tính giống loài mới đánh thức nó dậy đi an. Bây giờ cái an không phải lo. Nó tha hồ rong chơi, lê la đi khắp sân. Ban đêm, đầu thừng thả lỏng mới được buộc vào bên chân bậc thang lên xuống nhà. Nó chỉ cần ngoái cổ cắn một nhát đủ đứt phang. Tuy nhiên, con Vá vẫn phục tùng nằm đấy, như một cần vụ trung thành suốt đêm thức canh cho chủ ngủ, an tâm về sự hiện diện của chủ mình trên ngôi nhà với ý thức kiêu hãnh được bảo vệ tuyệt đối, không hề lo sợ một cuộc tấn công bất thình lình của con hổ - con báo nào có thể xảy ra đối với nó.

Ngờ đâu chính đoạn thừng thả lỏng ấy đã gây nên một tai biến.

Hôm nọ thầy Bảy có việc bận đi vào xóm. Bọn học trò lau nhau về hết rồi, chỉ còn mỗi Bé Hai ở lại thổi nồi cơm giúp thầy - thỉnh thoảng ban đêm nó còn ôm mền đi ngủ với thầy cho vui - con Mực theo lệ thường chạy đến đón cậu chủ nhỏ. Bé Hai nghe tiếng sủa, mở cổng cho con Mực vào. Vá và Mực cùng mừng rỡ nhảy cỡn lên, hệt đôi bạn nhỏ lâu ngày gặp nhau. Thế là trò chơi đuổi bắt quanh sân như trước kia lại diễn ra. Bé Hai bận quay vào trông nồi cơm, quên khuấy cánh cổng mở. Đùa nghịch một lúc, Mực bị đuổi gấp, nột quá quay cắn vào chót mõm Vá một cái rồi chạy vọt ra cổng. Vá lập tức phóng theo. Mực về đến gần nhà, cậy nhà bèn quay lại khòm xuống vẫy đuôi nhảy qua nhảy lại, tỏ ý bỡn cợt thách thức. Khi Vá lao tới, Mực nhanh nhẹn chui qua chiếc thuyền úp, kê trên bốn thanh đà gác chéo của ông trưởng ấp kéo lên bờ sông chờ sửa chữa. Ai chẳng biết ngón võ lợi hại của lợn rừng khi đánh nhau với hổ, là dụ hổ đến gần một thân cây đổ ngang mặt đất. Hổ quen thói nhảy lên cao chụp xuống bám lưng để cắn cổ đối thủ, sẽ bị lợn rừng luồn vụt qua dưới thân cây. Hổ bất ngờ bị thân cây đánh vào mặt như búa giáng, tất ngã lan ra, chưa kịp choàng dậy thì đã bị lợn rừng quay phắt lại, vung hai chiếc nanh cong nhọn hoắt xóc vào hạ bộ hất tung lên. May mắn mà sống sót, nếu con nào không mất giống thì cũng cạch đến già... Mực vừa chui sang bên kia, thì Vá tức khắc vận dụng miếng võ cổ truyền nhoài mình xuống luồn theo như một làn chớp. Sợi thừng thả lỏng bỗng mắc vào gốc đà bắt chéo, giật gãy thanh đà và chiếc thuyền úp đổ sập xuống, một bên be đè đúng giữa lưng con Vá. Nó hộc lên dữ dội, hai chân trước cào đất bắn tứ tung cố nhoài ra, càng nhoài thì sợi thừng càng căng thẳng, siết vào cổ họng. Bốn chiếc móng guốc nhọn đen nhánh như sừng của nó cày sâu vào đất cố rướn tới, các bắp thịt nổi vồng lên giữa lớp da ướt mồ hôi, nó vùng vẫy dốc hết lực nhoai ra mà vẫn không thoát ra khỏi khối nặng đè giữa lưng như một quả núi. Tiếng hộc dữ dội của nó ban đầu làm lũ gà vịt trên sân hoảng hốt chạy tán loạn - chốc sau chỉ còn là những tiếng khàn khàn rồi hổn hển từng cơn. Đôi lúc nó nín im, dường như muốn tìm lại sức dẻo dai. Nhưng lực khỏe dẻo dai của giống nòi, thực ra đã rời bỏ nó rồi. Những bắp thịt nuộc lưng thẳng căng như sắp đứt vẫn còn giữ được các đốt xương sống dính nhau đấy, nhưng mà chóng chầy cũng có thể sẽ bục ra thôi.

Thầy Bảy trên đường về, nghe tiếng hộc bất thường của con Vá, vừa kịp lao đến bắt gặp tình huống nguy kịch ấy, và con Vá cũng nhìn thấy thầy. Nó cố chồm về phía chủ nhưng sợi thừng mắc trong lòng thuyền úp lại kéo ngược đầu nó lại. Hai chân trước co dưới cổ như con lợn co trên bàn tế, nó ngước mắt lên nhìn chủ đang không bỏ lỡ một giây phút, è ạch cố nhắc be thuyền lên. Chiếc thuyền nặng quá không sao nhấc nổi. Thầy quay lưng chạy vào nhà chú Tư Đằng, để mặc con Vá nằm nguyên đó, trong thế chết hiểm nghèo. Như một quả bóng xì hơi, từ trong cuống họng của con lợn rừng lâm nạn thoát ra một tiếng rên nhỏ kéo dài đầy oán trách: ông chủ bỏ đi rồi.

Khi thầy Bảy hối hả trở lại tay cầm con dao yếm, tay xách chiếc đòn tra thì con Vá đã bất động, nhìn thẳng vào thầy bằng cặp mắt chờ đợi mênh mông, đầy nhẫn nhục, như sắp bật ra khỏi tròng bởi quá sức chịu đựng, mép sùi đầy bọt trắng. Xoẹt một cái, sợi thừng đứt phang, và chiếc đòn tre đã bẩy được chiếc thuyền lên. Con Vá lập tức trườn ra và không phải đợi chờ lâu, chỉ mươi bước chụm chân nó đã phóng bay về nhà, chạy vòng quanh sân.

Thầy Bảy về đến nhà vừa mệt vừa khát. Thầy bước lại lu nước mưa chỗ đầu hồi, cầm chiếc gáo dừa khom xuống, chưa kịp múc lên uống, bỗng cảm thấy hai vai bị một sức nặng của đôi chân to tướng bất thình lình chụp bổ tới. Thầy ngã sấp xuống, vừa lan mình chưa kịp trở dậy thì trước mặt thầy, lù lù bộ mặt của con vật rừng đã lớn khò khè thở thẳng vào mặt thầy một mùi hang hang.

Thầy muốn tự vệ, tay đẩy mõm nó ra, tay giữ chân nó lại. Nhưng con Vá đã đè lên người thầy, chà qua sát lại với sức nặng gần hai trăm cân của những bắp thịt rắn chắc như thép. Sự lo sợ làm thầy tuần tự mất hết cảm giác, đờ người rồi nhẹ bỗng đi và nặng trịch nhấc tay chân lên hết nổi. Nhưng trạng thái đó diễn ra không lâu. Từ trong cổ họng con Vá không phát ra tiếng gầm rít của những con lợn rừng độc khi nổi xung, đe dọa mà là một giọng gầm gừ trầm đục, sâu thẳm kéo dài. Mép nó không nhe lên, chìa cặp nanh ra mà từ trong mõm nhọn thè ra cái lưỡi nhám liếm hai bàn tay thầy đang đưa lên chống đỡ, liếm lên trán, lên mặt và khắp cả ngực cả vai thầy. Bốn chiếc móng guốc nhọn của nó choãi ra để tránh giẫm lên mình thầy, con Vá cứ đứng vẫy đuôi đưa mõm cọ cọ vào người chủ tốt bụng của nó với tấm lòng kính trọng, thương yêu và chan chứa sự biết ơn.

Bé Hai nghe thấy tiếng thầy ngã, chạy ra chứng kiến hết. Thoạt đầu, tưởng con Vá nổi cơn điên hành hung, thấy tính mạng thầy nguy cấp đến nơi, nó với chiếc đòn xóc chạy tới toan đâm con Vá. Nhưng rồi hai cánh tay bé nhỏ của Bé Hai đang lam lam giơ lên lấy đà đâm bỗng sựng lại rồi từ từ hạ xuống. Nó ngạc nhiên, sửng sốt đứng nhìn con vật thường được đem ra ví với người kém thông minh biểu hiện tình cảm mến chủ đến mức gần như người!

Từ hôm đó, con Vá ngày càng thêm quyến chủ. Nó chẳng muốn đùa nghịch lúc không có thầy, nghe thầy gọi dù đang chơi, đang an nó cũng bỏ, chạy đến ngay. Đêm thầy lội đi soi ếch nó cũng lội theo. Buổi trưa thầy nằm đưa võng trước hàng hiên, nó trèo lên sàn nằm dưới chân thầy và đôi lúc thầy ngủ quên nó còn len lén ngước mõm lên liếm nhẹ vào chân chủ. Con Vá đã trở thành bạn chí thiết của thầy giáo Bảy.

Nhiều người khen con vật khôn. Cũng nhiều người bĩu môi vì ghen tị với thầy: "Có khôn gì cũng là heo rừng. Trước sau gì, động đực nó cũng bỏ về rừng cho mà coi!".

Điều họ nghi ngờ đó đã đến!

Sáu tháng mùa mưa, gió ẩm ướt thổi thốc liên miên trong những cánh rừng tràm U Minh Thượng qua rồi, kề đến những ngày nắng nóng cháy da kéo dài của sáu tháng mùa khô cũng trôi qua. Con Vá đã tròn hai mươi bốn tháng tuổi. Đối với một con lợn rừng cái, đó là tuổi dậy thì của một thiếu nữ mười tám.

Chẳng có gì thay đổi ngoài sự choán chỗ nằm của nó ngoài hành lang mỗi tháng một rộng thêm. Ngoài rừng có vài loại cây đã thay dần lá mới, và điều đó không diễn ra một lúc như cây trổ lộc mùa xuân. Một thứ ban khoan đang xâm chiếm cả tâm hồn con Vá. Đêm nó không còn có những giấc ngủ yên tĩnh như trước nữa. Nó thường đứng chồm chân, ngước lên giật giật kéo sợi thừng buộc cổ và đánh hơi bốn phía có các luồng gió thổi về. Những luồng gió từ mọi hướng đưa đến nó tiếng thì thầm của ngàn xanh và mùi rú rậm.

Người không chú tâm có thể cho là đôi tai nhọn, cứng đờ của con vật rừng không chịu nổi tiếng lũ chó xóm dai dẳng khiêu khích; còn như chú Tư Đằng thì có thể chú tin là nó bị ma trêu quỷ ám cũng nên. Nhưng điều làm con Vá ban khoan, bồn chồn chính là những tiếng xôn xao mà tai người không thể nghe được, nó gần như tiếng búp lá cựa mình, như tiếng lách nhẹ của một chồi non nhú lên khỏi mặt đất mềm. Đêm này sang đêm khác, khi vầng trang thượng huyền cứ lên cao dần thì những tiếng xôn xao mơ hồ đó nghe càng rõ hơn. Chắc chắn là gió có trở mạnh hơn và lay động cây rừng nhiều hơn.

Điều ấy chẳng ảnh hưởng gì đến giấc ngủ của thầy giáo Bảy và các cuộc nhậu, các đám đờn ca đêm của những chàng thanh niên trong xóm. Tối nọ, những tiếng xôn xao ấy rõ lên đến mức lọt tai ông già Nam, một lão lâm kỳ cựu:

- Bà con liệu dỡ khoai, hái bắp đi sớm. Không khéo heo rừng về phá hết rẫy đa!

Các bợm rượu trong xóm nghe vậy liền kháo nhau: "Vậy thì ta đào hầm, gài bẫy bắt... kiếm mồi nhậu đi, các cha!"

Ban ngày con Vá vẫn an, tợp nước cám trong máng, vẫn ngủ ngáy rõ to và đùa nghịch như thói quen thường lệ, chẳng có gì thay đổi. Nhiều người đến chơi, tấm tắc khen con lợn rừng lớn nhanh, đẹp mã, khuyên thầy Bảy nên coi chừng kẻo nó bứt dây, phá rào đi mất thì uổng lắm. Họ nói vui vậy thôi, chứ họ biết tỏng tòng tong con Vá đã trở thành "tù binh nô lệ" của thầy rồi.

Tuy nhiên, một hôm Bé Hai đến sớm thấy con Vá nằm dang xa chỗ sợi thừng buộc cổ. Sợi thừng đã bị rang nó cắn một nhát đứt gọn như dao cạo. Thầy Bảy nghe kêu, chạy xuống lấy sợi thừng bện bằng da trâu mới, chắc hơn, buộc vào vòng cổ nó và làu bàu nhặt đoạn thừng đứt quật nó cho mấy cái. Ồn một chốc rồi đâu đó lại vào khuôn phép. Thầy nghĩ nó muốn thử bộ rang chứ không hề ngờ là con Vá, từ trong tiềm thức, đã có hành động như mấy cậu học trò tinh quái của mình khi muốn đánh cắp của thầy một hòn tẩy, một đoạn bút chì cứ mỗi ngày rời xa bàn một chút cho đến khi thầy không trông thấy. Chuyện đó đã xếp lại và con Vá không còn cắn dây nữa.

Lại một tuần trang mới. Đêm sáng hơn, trông rõ cả tàu lá ráng ngời ngời lung linh tận ven tràm bên kia sông. Các loại vật nhỏ thường kiếm an đêm dọc chân rừng, không con nào dám mò vào đấy nữa. Tiếng xôn xao đã xua chúng dạt cả vào gần xóm.

Những tuần trang sau đó, khi con Vá cao thêm vài phân, nặng thêm vài cân, thì tiếng xôn xao mơ hồ ấy càng rõ dần, càng nhiều hơn, thường xuyên hơn từ khi con Vá toát ra những bí ẩn của một thứ mùi đặc biệt, thứ mùi bí ẩn gọi kêu đã giục những con bướm đực - từ nhiều dặm xa - bay đến tìm gặp con bướm cái đang bị nhốt trong lồng, thứ mùi khiến cho phấn hoa đực tìm gặp lại một cách diệu kỳ những nhụy hoa cái đang ra sức điểm tô cho một mùa tưng bừng hoa nở.

Đêm ấy, gió thổi qua rào, ve vuốt sống lưng con Vá. Gió đưa đến nó mùi hương của các bụi lùm và những ngọn cây rừng cao, mùi nhựa chảy từ những cây vỏ nứt, mùi quả chín tươm mật, mùi phấn hoa vàng lay động bởi cánh dơi quạ và các loài chim đêm, li li bay vơ vẩn và ngọn gió trữ tình đón lấy mang đi gieo rắc khắp nơi.

Thầy giáo Bảy đã ngủ rồi, biết đâu được nỗi bồn chồn của con Vá.

Theo luồng gió, tiếng xôn xao đang chuẩn bị, đã được báo trước, im bặt một lúc, bắt đầu nổi cơn lên, vượt ra khỏi ven rừng tràm và dãy ruộng sáng ngời ánh trang. Bắt đầu từ một cổ họng, rồi nhiều cổ họng khác tiếp theo. Tiếng hộc...hộc... gào lên vang rền.

Nghe tiếng kêu đầu tiên, con Vá đã đứng phắt dậy, ngước đầu lên, đuôi quật vào mông, giẫm chân trên hành lang và chồm ra lan can. Nó bắt đầu lôi thừng buộc cổ họng ra. Ngoài kia, những con lợn rừng đực của đàn tộc đang không ngớt gọi kêu những tiếng mà từ thế kỷ này sang thế kỷ khác, các con đực vẫn gọi các con cái trong mùa hôn phối.

Con Vá quên rằng chủ đang ngủ, theo sức mạnh của "Tiếng Gọi", chồm tới, kêu nho nhỏ rồi gầm lên từng cơn kéo dài. Thầy Bảy tốc màn chạy ra.

Trước mặt thầy là một con Vá chưa từng thấy. Nó như vụt lớn trong phút chốc, nhảy dựng dựng, mọp xuống rồi lại chồm lên cao hơn. Chân sau choãi xuống lấy điểm tựa như sẵn sàng phóng lên. Nó không chú ý gì đến chủ nữa, không thèm đếm xỉa đến sợi thừng thổ tả cắn cái đứt phang. Mắt nó chằm chằm nhìn sang phía bên kia bờ rạch.

Điều mà các con đực đứng ngồi không yên, gào lên, sẵn sàng đánh nhau vì "nàng" đã thấy trong tầm mắt, ấy là "Tiếng Gọi" giục con Vá "bắc cầu giải yếm", phải tuân theo bổn phận muôn đời của các con cái, chớ bội ước lâu hơn nữa trước định luật của tạo hóa, định luật mà Vá vi phạm để làm vui lòng con người. Và chúng giục gọi đến khản giọng, tiếng gầm gào rung chuyển cả rừng.

- Này, Vá, quỷ bắt mày à? Thầy Bảy quát lên. Như vừa thoát ra khỏi cơn mơ, nó vụt quay đầu lại. Đôi mắt đỏ rực chiếu lấp lánh trong bóng tối hành lang. Trông thấy chủ, dáng nghiêng đồ sộ của nó rời khỏi ánh trang, từ từ hạ xuống. Nó nằm xuống, đuôi duỗi ra, hai chân trước co lại.

Những "anh chàng hiệp sĩ cô độc" kia, mải ngao du chốn đại ngàn, theo bản nang, từ biệt mấy rừng xa đã vượt sông hồ về đây tìm "nàng", đâu biết rằng Vá đã nhiễm mùi con người, đã quen an muối và thức an nấu chín, đã được con người kỳ cọ tắm rửa, gãi lưng. Chúng đến với "nàng" từng bước một, từ từ như khi phải lần dò tránh bẫy.

- Bé Hai!

- Con đây. Cậu học trò nhỏ thức trước, đứng rình phía đầu hồi bước ra.

- Cái gì vậy? Ai đột nhập vô nhà à?

- Có ai đâu, thưa thầy. Mấy con heo rừng đực kêu con Vá đó mà! Bé Hai vùng vằng đáp vậy. Nó thấy ghét con Vá quá. Thật chẳng khác gì gái nhà lành muốn lộn nài tháo ống đi theo mấy thằng du đãng.

Thầy Bảy với chiếc thùng thiếc khua ầm lên, rồi đốt một nắm cây chai dùng nhóm bếp ném vù sang bên kia bờ rạch.

Những tiếng gầm gào bên kia im bặt. Chỉ chốc sau, con Vá lôi sợi thừng đến bên chủ. Thầy Bảy cúi xuống, gãi gãi trên mi mắt, gãi gãi dưới cằm rồi vuốt sống lưng nó:

- Thôi nằm xuống, ngủ đi con!

Con Vá liếm liếm bắp chân thầy rồi ngoan ngoãn ịch sang bên, chờ chủ gãi bụng, gãi lưng.

Giữa lúc ấy, bên kia dãy rừng xanh biếc ánh trang, bóng những con lợn rừng đực lắc lư xa dần. Những vệt thẫm di động, óng ánh sắc lông như tơ tằm sống khạc ra những lời nguyền rủa dần dật từng cơn, quyện thành những chuỗi tiếng rền đường bệ hướng về những ngôi nhà đầu xóm ấp Kèo Nèo.

***

Ba nam sau, con Vá nằm giữa Sở thú Sài Gòn. Một gian chuồng hẹp, trần thấp, ba phía tường đá xám và nhưng song sắt thừa sức giam nốt những con sư tử đưa về từ châu Phi.

Thầy trò con Vá kẻ mỗi một đường theo số phận.

Tan lìa ấy xảy ra từ hai nam trước.... Một hôm thầy Bảy đi "an ong" chèo xuồng về chưa đến nhà thì thấy ông ấp trưởng hớt hải chặn giữa đường:

- Thầy giáo trốn đi! Trên quận đưa lính xuống xét nhà, bắt thầy!

- Chuyện gì vậy, chú Tư?

- Hai người hôm nọ trời mưa, ghé nhà thầy xin tá túc, rồi ở chơi mấy bữa... Họ là tù chính trị vượt ngục Côn Đảo về, thầy không biết sao?

- Ai nói vậy?

- Thằng Lin chủ ghe trà vải(3) lên báo quận mà, Chính ông chánh hương quản vừa nói với tôi....

- Cám ơn chú. Tôi phải đi... cũng đành. Nhờ chú về tháo dây thả giùm con Vá ra rừng giúp tôi!

Nhưng con Vá đã bị hương quản bắt đi trước khi chú Tư Đằng quay lại. Hương quản đưa lên biếu chủ quận tâng công. Chủ quận rừng heo hút nuôi được ít lâu, muốn kiếm chút ân huệ hầu sau có dịp xin đổi về Châu Thành, bèn trở lên biếu chủ tỉnh. Chủ tỉnh Lơcông người Pháp, nhờ lập công trạng tình báo trong trận đánh Đức thu hồi vùng Andát Loren, được phái sang thuộc địa giữ chức quan cai trị đầu tỉnh Rạch Giá. Lơcông thích thú con lợn rừng hiếm thấy này lắm, bèn nuôi thả trong sân làm cảnh.

Buổi chiều, có quan ba Sácniê tới chơi tê-nít, ngồi giải khát dưới bóng cây. Con Vá thấy vui, sán đến gần bàn.

- Vas t'en! Vas t'en (4) Sácniê quát lên.

Con Vá ngỡ gọi Vá ơi! Vá ơi! Mừng cuống, xô đến chồm lên người ông ta. Ông ta sợ bẩn quần, nghiêng né làm đổ lan bàn rượu. Sácniê giận quá, rút súng lục ra toan bắn một phát vào giữa trán con vật ngang bướng! Nhưng Lơcông cười ranh mãnh, chặn tay ông võ biền lại:

- Nó là con thú rừng, như thổ dân xứ này cần khai phá lâu nam mới hiểu được tiếng nói; lòng độ lượng bao dung và nền van minh của đại Pháp mẫu quốc. Giết nó vô ích! Để tớ cho nó lên Sở thú Sài Gòn. Có khi nó còn được đưa về Pari trước chúng ta không chừng!

Nhờ cái Vá trắng mà lần thứ hai con lợn rừng này thoát chết. Tàu Lục tỉnh tu tu chở khách Hậu Giang, kéo ghe chà về thủ phủ thuộc địa Nam Kỳ có chở theo chiếc cũi nhốt con Vá. Dọc hành trình qua nhiều địa phương, nó nghe tiếng hò chèo ghe, tiếng ca vọng cổ của khách thương hồ buồn rã rượi như tiếng thở dài của người dân mất nước - nó chẳng hiểu gì - nhưng cảm thấy bồn chồn xao xuyến, bởi những âm điệu đó chẳng khác mấy giọng hát hò của những người dân ấp Kèo Nèo kia.

Bây giờ thì nó đang ở cạnh chuồng một con hổ, tặng phẩm của Hoàng đế An Nam và một con báo gấm được bắt từ một vùng rừng núi xứ Cao Miên. Chúng không phải cùng loài giống, con Vá không hiểu được chúng. Nhưng nó biết rằng xa xa bên kia - gần chuồng voi sau sở Ba Son - có những con lợn rừng, nó đã nghe tiếng và đánh hơi thấy mà chẳng bao giờ gặp được.

Dọc theo chuồng có hành lang xây theo kiểu khám đường Mỹ quốc, trên vài thân cột giả, có treo biển yết:

"Cấm kích thích các thú vật"

Và trước chuồng nó, có biển đề:

Heo Rừng

"Sus Crofa"

Tặng phẩm của ngài Lơcông

Đám khách thị thành nhàn du, ngày ngày diễu qua các cửa chuồng, những con gấu rẻ tiền chồm chồm chắp tay há mõm chờ bánh mì, chuối, lạc rang mà trẻ con có quyền vứt cho chúng, và trò đó làm các ông phán già che ô cầm can đứng xem thích thú, cũng như các cô khâu đầm, các chị vú em, các bà mẹ và em bé đều lấy làm hoan hỉ.

Trên thân cột giả nối liền chuồng nó và chuồng con hổ, có treo biển chữ in tráng men bằng tiếng Pháp đưa từ Pa-ri sang:

"En raison des áccidents survénus aux animaux

II est Formellement Interdit

sous peine de poursuites judisiaires

De jeter quoi que ce soit aux carnassiers.(5)

Nó bị liệt vào hàng thú dữ an thịt sống chang? Hay đó là một sự giam nhốt nhầm lẫn? Hay bởi cặp nanh cong để tự vệ của nó khiến người ta nghĩ nó có thể an thịt mình? Và chọc phá kích thích giận dữ, biết đâu nó sẽ phá chuồng ra nhai xương họ cũng nên? Dù thế nào mặc lòng, đám khách thượng lưu cũng cảm thấy rất an tâm khi nhìn vào cặp nanh cong nhọn hoắt của con lợn rừng đồ sộ bên trong hàng song sắt, như nhìn bức ảnh một tên bạo loạn bị bắt trương lên trang nhất của tờ Lục tỉnh Tân van và họ rất mực tri ân nhà cầm quyền đã hết lòng bảo vệ tính mạng tài sản họ.

Khi mới bị đưa lên nhốt ở đây, nó ngỡ đây chỉ là một trạm chuyển tiếp, để rồi người ta lại đưa nó về với chủ nó. Nó lại được đeo vòng da vào cổ, có chiếc lục lạc rung leng keng đến là vui tai. Đôi lúc nó cũng ịt..ịt... đòi những người đứng bên ngoài đùa nghịch với nó như trước kia người ta đã dạy tập nó không xa cánh rừng quê hương của nó là bao. Đám khách kiêu sa ngạo mạn càng chỉ trỏ chế giễu, cho là nó cũng xin xỏ đòi an như những con gấu chó, gấu lợn. Thái độ khiêu khích điên khùng trước con vật bị cầm tù. Họ không biết rằng chính họ cũng đang bị giam nhốt trong một nhà tù mênh mông đó sao?

Tháng ngày ồn ã trôi qua, cho dù cách biệt ở một nơi có suối nước, có hồ ao, bên một dòng sông nhiễm đặc mùi bùn, những tiếng còi ô tô, tiếng chuông xe điện, tiếng nhà máy, mùi xang dầu và loa quảng cáo vẫn tràn vào khu vực đầy cây xanh và cổ thụ yên tĩnh, bên rìa thành phố này.

Hai mùa mưa đổ trắng xuống các rặng còng và những cây phượng vĩ gần hồ nuôi cá đã hai lần rắc xuống thảm cỏ xanh những thảm hoa đỏ rực...

Từ lâu, nó không chồm lên song sắt để vận động các cơ bắp, như con báo láng giềng ngày ngày không mệt mỏi nhào lộn phí sức vô ích mà không bao giờ thoát ra được. Nó cũng không nhảy bắt những con mồi tưởng tượng chẳng bao giờ đuổi gặp. Nó nhớ ngôi nhà sàn thấp, xinh xinh, tràn ngập ánh nắng, quanh vuông rừng xưa là một thế giới đầy rẫy những con rắn nước, rắn mai gầm con, bò chậm chạp trong các lùm rang, các bụi gai trùm lé... những tổ trứng chích, trứng le le thơm sực mùi cỏ khô lót trong lau sậy, và cứ nằm ngơ ngẩn nhớ mùi hang hang của lá cỏ cây rừng.

Ở đây, một cuộc sống đơn điệu, các bữa an nhàm chán lặp lại hàng ngày, tường đá xám lạnh lẽo và các chấn song đen sì. Nó không phạm trọng tội gì. Nhưng nó không chống chọi nổi cái lạnh. Cái lạnh đã luồn vào bên trong tim phổi nó. Ngày lại ngày nó càng kém sức dẻo dai, trở nên chậm chạp. Và khốn nạn hơn, thứ khí lạnh ẩm ướt xám xịt tràn ngập dãy chuồng đá, cuối cùng đã gậm nhấm các đầu khớp bộ phận cơ thể và đường xương sống của nó, đến nỗi nó không thể nhảy lên nằm trên các bậc gỗ.

Từ trong thẳm sâu tâm hồn nó, mong muốn được gặp lại chủ cứ dâng lên. Nó đợi chờ. Nhiều lúc nó cố tình xem trong những gương mặt kia có chủ nó không, có khi nó nằm lim dim lắng nghe trong các giọng nói tiếng cười, hy vọng ra giọng tiếng quen thuộc của con người ngày xưa. Giờ đây mòn mỏi hết trông chừng vào đám đông rồi, suốt ngày nó nằm còng queo, lơ mơ ngủ. Chỉ đến giờ đã định, dạ dày đòi hỏi cần phải an, nó mới thấy chút ít hào hứng hoạt động trở lại.

Chính lúc mà con Vá không hy vọng gặp lại chủ nữa, thầy Bảy đã tới. Nó đứng nhìn ông khách chờ mọi người đi hết mới lẳng lặng một mình bước đến bên chuồng nó. Mắt nó không còn nhận ra ở ông một chút gì. Thầy Bảy đã trút bộ quần áo bà ba đen, chiếc nón lá... để thay bằng bộ quần áo ka ki xanh bạc màu, lấm tấm vệt dầu.

- Vá ơi! Con gái khốn khổ của ba! Mày không còn nhận ra ba nữa sao?

Con Vá đang bước đi bỗng dừng phắt lại, nhảy sang một bên, mắt nhìn căng thẳng, làn da trán co lại và vẫy đuôi liên tục.

- Con đã lớn rồi mà ba vẫn cứ nghĩ con còn bé dại. Chính vì thương lo đó mà ba đã làm mày khổ cả một đời. Ờ, phải chi hồi đó...

Tưởng chừng như trên thế gian này không gì có thể tách rời nó khỏi con người đang tiếp tục nói với nó bằng giọng xúc động, những lời đầy tin cậy và thương quý ngày xưa. Trong khi thầy nói, hai bên hông con Vá hóp vào và từ trong cổ họng sù sì của nó thoát ra một tiếng dài, một tiếng thật dài khàn khàn xiết bao êm ái.

Nó lan ra, chờ chủ gãi lưng như lúc còn là con lợn rừng bé nhỏ và khi đánh hơi thấy bàn tay chủ thò vào song sắt, nó liền chồm dậy rướn cổ thè chiếc lưỡi nhám nóng hầm hập liếm mãi bàn tay đã từng vỗ về, san sóc nó ngày xưa. Thầy nhìn lên làn da trán nó cọ liên miên vào song sắt đã dồn lên thành một cục chai, còn túm lông đuôi thì xơ xác quá. Từ lúc nó bị hương quản bắt đi, không ai có thể đến gần để tắm rửa, chải lông cho nó, từ mình con Vá xông ra một mùi hôi nồng nặc làm cho bộ mã u sù của nó trông càng thê thảm. Từng chặp nó ngậm mút bàn tay thầy trong cái họng dài to tướng rồi lại nhả ra, và nhìn chủ bằng cái nhìn cật vấn đầy trách móc, ngốc nghếch y như thuở lên hai tuổi nó đã nhìn thấy vầng trang đêm đêm cứ tròn dần ra.

- Sắp tới giờ đóng cửa rồi! Người gác đêm nói sau lưng thầy Bảy. Khi thầy rút tay ra, quay mặt lại, ông ta hất bộ ria củ ấu, hỏi: "Chắc trước kia, anh có làm bồi cho quan chủ tỉnh Rạch Giá?"

- Dà! Mà chỉ ít lâu thôi... Thầy Bảy cười nhịn nhục, đáp ứng như một tất nhiên để giấu tông tích "tên bạo loạn đang bị nhà nước truy lùng". Còn vài hôm nữa thầy sẽ được các đồng chí đưa xuống tàu ra hải ngoại học tập lớp đào tạo cán bộ phong trào, chọn lựa từ các tầng lớp trẻ: thanh niên đi làm nghĩa vụ và thầy giáo yêu nước vừa được Đảng giác ngộ.

***

Con Vá nằm đó, trong gian chuồng ẩm thấp, lông hoe hoe một màu vàng xỉn. Thiên hạ gọi nó là dã thú. Nó đã mất tên, không còn là con lợn rừng của ai và cũng chẳng còn là con vật thuộc nhà cầm quyền.

Lá vàng rụng thay cho bụi lốc mùa hè rồi gió bấc thổi về đưa cái lạnh từ phương Bắc xuống, thâm nhập vào buồng phổi con Vá đã yếu ệu lắm rồi. Mùa này sang mùa khác, nó hoài công chờ đợi con người có tâm hồn trong sáng, độ lượng đã âu yếm gọi tên nó là con Vá tới tham nó một lần nữa, con người đã từng cham chút dưỡng nuôi, trông thấy nó lớn lên, từng cứu nó thoát chết, đã làm tiêu tan trong lòng nó sự hiểu lầm muôn thuở xa cách những con người với các loài vật sống trong hoang dã.

"Cấm kích thích thú vật"! Con Vá đâu còn có thể bị kích thích nữa. Thứ bệnh khủng khiếp tàn phá buồng phổi con người rình mò dọc dãy chuồng ẩm ướt, kém vệ sinh đã thừa cơ nó suy nhược, tấn công nó đổ gục.

Ánh đèn gác vàng vọt chiếu qua hàng song sắt. Nó nằm đó, từ cổ họng thoát ra một tiếng rên dài ảm đạm, khàn khàn. Đâu phải nơi đây là chốn loài giống nó hẹn gặp tử thần. Một làn sóng gợn chạy dài trên sườn và hai bên hông nó. Và những tiếng rên rỉ nối liền theo. Kiệt sức bởi muộn phiền và số phận nặng trịch đè bẹp xuống, con Vá phát lên một tiếng gào tuyệt vọng về với núi rừng. Đầu phía kia, những con lợn rừng độc chiếc bị bẫy bắt đưa về từ rừng lá Ninh Thuận, từ rừng cao Tây Nguyên đã nghe thấy tiếng gọi của con Vá. Tất cả những điều mà viên thú y sĩ, ông phó giám đốc và người gác không thể hiểu được, đã làm lay động chúng sau những chấn song. Những chiếc nanh cong của chúng nhe ra vành mép nhếch ngược, lông gáy dựng đứng, cổ họng rung mãnh liệt. Và những tiếng gầm gào không ngớt hộc lên, vang dội cả một dọc dài bờ sông Thị Nghè chìm trắng trong sương đêm.

Lơ láo giữa hư ảo đang bắt đầu trĩu xuống, con Vá bắt gặp lại những tiếng nó từng nghe, trên hàng hiên ngôi nhà sàn, một đêm trang xao xuyến từ bên kia cánh rừng vọng sang. Nó cựa mình chồm dậy, gượng đứng lên, nhưng lại ngã vật xuống, đập vào nền đá. Bên trong đó đang triển khai cuộc giành giật giữa sự sống cố vận động các cơ bắp lấy lại sinh khí và cái chết lấn dần từng bộ phận, giữa tiếng gọi muốn dựng nó lên và tình cảm đã dí nó xuống trong tâm hồn méo mó đã biến nó thành một nô lệ của những con người.

Trong các chuồng lân cận, bóng đen lờ mờ của các loài dã thú khác cứ nặng nề lượn vòng xát lưng vào tường và các chấn song, đầu nghiêng nghiêng, cổ vươn dài tới trước, chậm chạp từng bước thận trọng như những lúc dõi theo mồi. Con thì mắt đỏ rực, con thì mắt xanh lè chói ngời đầy ánh lân quang.



Đêm tham thẳm, buốt lạnh, đen mù. Con Vá lại tiếp tục rền rĩ. Nó thở hổn hển, mũi lắc lư như một ống bễ lò rèn quá cũ mòn đã mất hết tác dụng. Nó thử động đậy. Nhưng cái lạnh cóng dưới bốn chân cứ từ từ dâng lên ngực về đến quả tim, trong bộ da lùng nhùng. Bốn chiếc móng guốc sắc nhọn của nó duỗi ra, không co lại được nữa và tai nó cụp xuống như lúc nó giận dữ. Nó ngóp ngóp nhại lại một cách vụng về động tác nhai rễ củ gau gáu của những con lợn rừng đang sống giữa ngàn xanh tự do.

Tiếng than vẫn kéo dài của con Vá, tất cả đám lợn rừng không ngủ bên kia đều cham chú lắng nghe. Nó hối tiếc lần cuối cùng rằng nó đã khinh khinh coi thường tình cảm của giống loài, và lòng nhớ ơn mà nó vẫn giữ theo tập tính giống nòi đã ràng buộc nó với con người mà không còn bao giờ gặp lại. Giọng khàn khàn run rẩy của nó thú nhận với tất cả các loài giống láng giềng rằng nó đã bội ước với định luật của ngàn xanh chỉ vì thích ở lại trong nhà người có tổ cỏ ấm, có ủ lá chuối khô và thức an nấu chín hơn là về với những con lợn rừng đực dữ tợn và khờ khạo.

Bỗng nó rùng mình một cái, cổ xuôi ra. Vạch cầu nối cuối cùng giữa đầu và tim đã gãy. Khắp vườn cây um tùm của Sở thú Sài Gòn nửa đêm bỗng rung lên, chấn động liên tục các tiếng gầm: lừ đừ hung dữ, phẫn nộ ai oán của tất cả các loài mãnh thú đồng cảm cùng cất lên những tiếng gào tự do, mênh mông vô bờ.

Sáng sớm hôm sau, người gác đi dọc các dãy chuồng trông thấy con Vá cứng đờ nằm lù lù một đống, mép xệ cong, he hé thông ra chiếc lưỡi trắng bợt, một nửa bị răng hàm cắn ngập.

______________________

(1) Tiền thân của Trư Bát Giới trong Tây du ký
(2) Con cu ly

(3) Thuyền bán tạp hóa lưu động
(4) Cút đi! Cút đi!

(5) "Cấm ngặt không được vứt bất cứ thứ gì cho thú dữ. Nó có thể xảy ra tai nạn cho súc vật. Nếu vi phạm sẽ bị truy tố trước tòa án"


TIN LIÊN QUAN:



Nhà văn Thùy Dương: Trăn trở với mỗi thân phận Người

Nếu không biết Thùy Dương sinh ra và lớn lên ở Hải Dương, sẽ đoán   chắc nàng là người Hà Nội gốc. Gọi là nàng v ì nàng không chỉ xinh đẹp, ...