Thứ Tư, 9 tháng 1, 2019

Nguyễn Quang Thiều, kẻ khóc thương những ngôi làng

Cứ mỗi khi đất nước bước vào cuộc canh tân là lại xuất hiện những nhà thơ khóc thương những ngôi làng, đau đáu một nỗi niềm hoài cổ, nức nở kiếm tìm những bóng dáng xa xa. Nguyễn Quang Thiều đã kiểm kê di sản của đồng quê từ những tập thơ đầu, nhưng phải đến "Bài ca những con chim đêm" anh mới bắt đầu thực sự khóc thương và kêu cứu.
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều

Chưa bao giờ hình ảnh tổ tiên, cánh đồng, ngọn gió, dòng sông, ngôi nhà lại day dứt cắt xé lòng ta đến thế, dù nó đã bị cả hai lần tan nát- một lần do trận bão canh tân cào xé, một lần do chính những tưởng tượng liên tưởng mới mẻ, bất ngờ phong phú và táo bạo của thi nhân.

Nguyễn Quang Thiều lắng nghe những đổ vỡ sâu sắc trong đời sống tâm linh văn hóa trước mỗi bước đi của kỷ nguyên đô thị hoá, công nghiệp hoá.

Ðến nỗi, có cảm giác như thi sĩ cảm nhận được những cái chết đang thấm vào trong từng tế bào đời sống, những bữa cơm gia đình cũng trở nên nặng nề khủng khiếp với những đổ vỡ, bóng tối, ám ảnh, sợ hãi, đợi chờ...

Trong "Bài ca về buổi tối" cuộc sống thiên nhiên trở thành thế giới của người chết, nơi vòm lá cây, vầng trăng sáng và làn gió trong rèm đều trở thành tín hiệu của người chết, âm vọng những tín hiệu của cõi âm.

Ðời sống trở nên rùng rợn, tối tăm và bất trắc, giả hình. Người sống trở thành con rối của người chết. Tìm kiếm địa ngục trong cõi sống, nhà thơ như một Ðantơ đang lội ngược dòng để chứng kiến một thế gian đầy dung tục, tội lỗi và sám hối, trong đó con người bị vò xé về mặc cảm đạo đức, trở thành những kẻ mộng du.

Cái dung tục của thế giới trong Người đàn bà gánh nước sông" là cái dung tục của những người bị "bệnh điên ánh sáng", còn cái dung tục trong thế giới của "Bài ca những con chim đêm" là sự mê muội, vô học, a dua đến kệch cỡm của buổi giao thời công nghiệp hoá, đô thị hoá.

Con người hôm nay trong thơ Nguyễn Quang Thiều không chỉ đánh mất những trong trắng trinh nguyên, ban sơ, đánh mất những bóng cây cho kẻ lạ, đánh mất thiên nhiên trong đồ vật, đánh mất ký ức làng quê trong màu vôi trắng đồng loạt mà còn đánh mất chính mình.

Trong "Những người lang thang" ta thấy rõ cánh đồng, bầu trời, chim chóc, cỏ cây không còn là nơi cư ngụ của hồn quê như trong các bài thơ trước của Thiều mà đã bị tả tơi, nhàu nát, biến dạng, trên đó những ma quỷ bắt đầu cư trú và nhảy múa.

Những ngôi nhà chạy trốn, những ngôi nhà bị quét vôi trắng, dòng nước hiền lành bỗng trở nên một quái vật hung tợn, cây xanh bị cắt xẻ...,nước sông thì câm lặng, chết chóc, hoang vắng và quạnh quẽ, đầy những bất trắc cuồng nộ.

Những hàng cây thì đau ốm, lụi tàn, bị cắt xẻ, bị giật đổ sau bão, rũ rượi trong đêm vẫn cố ôm ghì những ký ức tuổi thơ và đau đớn vì không nhận ra con người hôm nay nữa.

Những bông hoa thì luôn phải gắn với nghi lễ, tham dự vào nghi lễ, cả khi mệt mỏi lụi tàn và cô quạnh và du đãng vẫn cố ánh lên những chất thơ xa, những giấc mơ xa...

Mỗi vật mỗi người đều có số phận riêng, nỗi đau riêng và sứ mệnh thơ ca riêng, nhưng đều kết nối lại làm nên "Một sự sống lặng câm dưới những đám mây mang theo cái chết, bên cạnh một cái chết thét gào đòi được phục sinh".

Tha hoá, nọc độc, cái ác và sự vô cảm đang xâm chiếm con người, chính nhà thơ cũng cảm nhận được từng khoảnh khắc mắt mình hoá sỏi đá, lưỡi mình thành nọc rắn.

Những động từ mạnh mẽ, dữ dội biểu lộ một trạng thái chia cắt, xung đột, dung tục và tan rã của đời sống: Cắt, xé, gào, chửi, tranh giành, khóc rống, tố cáo, kết tội... những động từ hình sự, phi thơ nhưng lạc trong thế giới thơ Thiều nó bỗng mang chất thơ Rock day dứt và quằn quại.

Kỷ nguyên mới đô thị hoá đã xáo trộn sâu sắc về văn hoá. Mọi đồ đạc trong căn nhà của thi nhân đều như bị trải qua một cơn động đất, lung lay, thao thức và tản mát đầy những lo âu như sắp sửa bị đứt khỏi sợi dây nối với cội nguồn văn hoá tâm linh cũ.

Tất cả đều như nhuốm màu chết chóc, như bị ma ám, bị sơn phết bởi một màu trắng tang tóc của sản phẩm đồng loạt thời kỳ công nghiệp hoá. Nhà thơ luôn ám ảnh bởi sự bỏ đi của chiếc bóng - chiếc bóng đó chính là những ký ức văn hoá, những hồn vía ông cha.

Mỗi khi nói đến cái cũ - mái nhà cũ, quần áo cũ, con đường cũ, hàng cây cũ, bát đĩa cũ... nhà thơ lại như thăng hoa trong lễ cầu hồn, những đồ vật cũ xa được chiếu bởi một thứ ánh sáng xa xăm, đầu sắc thái huyền thoại, trở nên thoi thóp và run rẩy trong tiếng khẩn cầu gan ruột.

Tràn ngập trong tập thơ là một nỗi sợ hãi bất lực trước sự lãng quên, tàn phai đơn điệu của đời sống đương đại, một khát vọng về nguồn tìm lại quê hương xa, linh hồn xa vẫn khắc khoải thẳm sâu trong tâm khảm nhà thơ.

Cuộc sống đô thị hoá thách đố những ký ức, đe doạ trí nhớ của thi nhân. Trong thơ Nguyễn Quang Thiều có một sự nổi dậy của các biểu tượng văn hoá truyền thống chống lại sự xói mòn, huỷ hoại và hư vô hoá ấy.

Trí nhớ văn hoá vẫn tiềm ẩn trong những hàng cây, những ngôi nhà, những cánh đồng, những đoá hoa như ở các tập thơ trước, nhưng giờ đây những biểu tượng đó không còn câm lặng dày vò nữa mà đã thét lên những giai điệu giải phóng.

Mùa hoa loa kèn thoạt tiên gợi những ký ức tóc tang bi thảm với hình ảnh những nhạc công già, những điệu kèn mới của bình minh và sự sống trên tay nhà thơ, người nhạc công sót lại cuối cùng.

Thiên chức của nhà thơ là tham dự vào nghi lễ của đất trời, nhưng anh ta phải đem đến những tiếng kèn mới, những giai điệu đầy sức sống. Ðó là tuyên ngôn văn học của nhà thơ trong tập thơ này.

Giữa những âm thanh chết chóc, đổ nát và hỗn loạn, nhà thơ lắng nghe tiếng con chim đêm, tiếng ca trong giấc mơ mong manh của bầy trẻ. Thế giới như bừng tỉnh trong tiếng chim khai sáng, những giá trị trinh nguyên buổi ban sơ như được phục sinh thoát khỏi những tha hoá, ảo tưởng và ngộ nhận.

Ðến nỗi cái thế giới nhốn nháo kia trở nên một cái nền thanh bình câm lặng để vút lên tiếng chim "rền rĩ" " xối vào không gian", "rống lên làm hoảng sợ những vòm cây". Tiếng chim đêm bỗng trở nên dữ dội, bi hùng tạo ấn tượng về sự quật khởi hùng vĩ của sự sống của cái đẹp, của chất thơ, của lương tâm và sự thanh bình trong sạch, gây nên một cú sốc thẩm mỹ làm ta gai người.

Cái gắng gỏi nỗ lực giải phóng của lương tri, của thiên nhiên và cái Ðẹp mới cảm động làm sao, nó thức tỉnh ta, thanh lọc ta, làm ta trong giây lát trở nên giác ngộ, mạnh mẽ và thánh thịên.

Tiếng chim làm phục hồi trí nhớ, phục sinh lịch sử, tẩy rửa thế gian, lột phăng những lớp vỏ dung tục, tội lỗi, xấu xa, mê sảng và chết chóc vẫn phủ choàng lên nó. Dường như ta giác ngộ ra "bản lai diện mục" của đời sống, vượt khỏi những mê lầm. Tiếng chim đêm- cái Ðẹp đã khai ngộ Phật tính trong ta.

Tiếng kèn mới ấy, tiếng chim đêm huyền thoại đầy sức mạnh khai sáng ấy chính là những âm thanh mang sức mạnh cứu thế của cái Ðẹp vang lên trong từng câu từng đoạn của tập thơ.

"Bài ca những con chim đêm" là bài ca về sức sống mãnh liệt và quằn quại của cái đẹp, của thơ trước một thế gian tội lỗi và dung tục. Người đàn bà, con trẻ, ngôi nhà, nước sông, chim, hoa và cá là những hình tượng ám ảnh trong thơ Thiều.

Chúng kết hợp với nhau thành một chuỗi hình tượng liên hoàn độc đáo, tạo nên một thế giới riêng vừa yếu ớt vừa mạnh mẽ, vừa đau đớn vừa hạnh phúc, vừa ma quỷ vừa thánh thiện, vừa từng trải vừa dại dột, vừa là nạn nhân vừa là người khai sáng, một thế gian thu nhỏ với đầy đủ cả đất trời, cỏ cây, thần thánh, gia đình. Ðó là chuỗi hình tượng làm nên mã số đặc biệt của "Bài ca những con chim đêm".

Cái ác mượn lốt nước, lốt mây, lốt hoa và cả lốt người nhng nó không bao giờ mượn được lốt cây. Cái cây trong thơ Thiều là một ám ảnh vĩnh viễn là thánh địa của tình thương, cái Thiện và cái Ðẹp, trí tuệ và sáng tạo.

Cây soi sáng, cây dẫn lối, cây làm chứng, cây chở che, cây mang những giấc mơ, cây cho thi nhân và con trẻ mượn hình hài, cây phục sinh mãnh liệt trước tiếng chim đêm bi tráng.

Cây trong thơ Thiều như kho báu cất giữ những ký ức, những thói quen, những tầng văn hoá cổ xa để cưu mang, bảo tồn nhân tính và cái đẹp. Không phải ngẫu nhiên nhà thơ tự coi mình là cái cây "Tôi đứng như một thân cây tối sẫm". "Thân cây tôi sẫm" chính là cái thân cây mang ánh sáng của thi ca.

Với "Bài ca những con chim đêm", Nguyễn Quang Thiều đã kết nối và hoà giải được thiên chức của nhà thơ luôn là kẻ canh giữ những ngôi đền, những báu vật quê hương với trí tưởng tượng lang thang phóng đãng của kẻ quên nhà, trẻ dại, kẻ du ca.

Chính điều đó đã làm nên một trong những đỉnh cao của thơ Việt nam đương đại, khiến thơ Thiều trở nên một bảo tàng lộng lẫy chứa đựng một hồn vía xa cũ của ông cha trong một ngôn ngữ thơ cách tân mới mẻ.

Nó giống như nhạc Rock bảo tồn hồn vía của người Phi, kịch B.Brecht bảo tồn hồn vía kịch phương Ðông và những vũ điệu của E.Sola bảo tồn hình ảnh những con người nhà quê khổ đau, lam lũ và cao cả.

ĐỖ MINH TUẤN
Nguồn: NVTPHCM

TIN LIÊN QUAN:



Thứ Ba, 8 tháng 1, 2019

Thiên nhiên - Nguồn cảm hứng bất tận của văn chương phương Đông

Từ xa xưa, người phương Đông đã biết dựa vào tự nhiên để sống.Hầu hết các nền văn minh Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ, Trung Hoa đều dựa vào bồi đắp phù sa của các con sông. Nguồn gốc văn hóa nông nghiệp khiến con người học cách sống hài hòa với thiên nhiên, thấymình là một phần không thể thiếu của tự nhiên thanh sạch, thuần khiết. Điều này ánh xạ vào tôn giáo, triết học rồi đi vào văn chương. Đứng trong nguồn mạch chung, thiên nhiên là một mạch ngầm xuyên suốt của văn học phương Đông từ xưa đến nay.
TS. Trần Thị Ánh Nguyệt

1. Từ cội nguồn tư tưởng phương Đông

Văn minh phương Tây không phát xuất từ những vùng đất bồi đắp phù sa màu mỡ, họ sớm phải vươn ra biển, chiến đấu với đại dương bao la nên cách ứng xử với thiên nhiên trong tư duy của họ là chinh phục để phục vụ cho con người. Vậy nên, cảm hứng chủ đạo của văn học phương Tây là ca ngợi con người - con người là thước đo của vạn vật. Ngược lại, từ xa xưa, người phương Đông đã học được cách sống hài hòa với tự nhiên. Thiên nhiên đóng vai trò rất lớn trong đời sống của cư dân nông nghiệp - đó vừa là môi trường vừa là nguồn lợi nhưng cũng vừa là nỗi âu lo. Điều này xuất phát từ cách cảm nhận về tự nhiên từ cổ xưa của người phương Đông về vạn vật hữu linh. Người nguyên thủy dựa vào tự nhiên để sinh sống.Trước sức mạnh của tự nhiên, thái độ của con người là khiếp nhược nên con người tôn sùng tự nhiên, ngưỡng vọng tự nhiên. Theo Trần Lê Bảo, tư tưởng đăng cao xuất phát từ việc những cư dân phương Đông đầu tiên xem vạn vật đều có linh hồn, sinh ra nghi thức tế lễ thần sông núi. Đăng cao ban đầu thể hiện sự khiếp sợ trước tự nhiên, sau này trở thành sự ngưỡng mộ tha thiết với núi sông, trở thành sự gắn bó với tự nhiên[1]. Đó là lí do vì sao ta thấy người phương Đông nào cũng có xu hướng đăng cao: không chỉ người Trung Quốc bước lên đài cao mà các anh hùng Ấn Độ cũng thường hành hương lên núi, người Nhật Bản ngưỡng vọng Phú Sĩ, các nhà sư đều chọn thâm sơn cùng cốc... Khi chọn nơi núi cao, hòa làm một với thiên nhiên khiến cho trong cảm quan phương Đông, sự gắn bó với tự nhiên trở thành máu thịt. Tư tưởng sùng thượng thiên nhiên thấm đẫm từ triết học Lão Trang cho tới triết lí “bất tổn sinh” của người Ấn hay tấm lòng ưu nhã với thiên nhiên của người Nhật Bản.

“Thiên nhân hợp nhất” - tư tưởng Chu Dịch đã trở thành tiền đề cơ bản trong cách ứng xử, nguồn cảm hứng vô tận của văn chương phương Đông. Điều đó khẳng định sự thống nhất giữa con người và tự nhiên, con người là một phần của tự nhiên, giữa con người và tự nhiên có mối liên quan, dung hòa nhau. Lão Tử cho rằng con người gắn với tự nhiên, là một bộ phận không tách rời tự nhiên: “Đạo sinh ra một, một sinh ra hai, hai sinh ra ba, ba sinh ra vạn vật”, cho nên mọi vật đều sinh ra từ Đạo, là biểu hiện của Đạo, do vậy trời đất với ta cùng sinh ra, vạn vật với ta là một. Tự nhiên có trước con người, tồn tại và vận động theo quy luật khách quan, con người theo quy luật của tự nhiên để hành động cho hợp lẽ “Thiên nhiên và hoạt động tự nhiên, sự âm thầm diễn ra của các biến cố đời đời kiếp kiếp, sự tuần hoàn của bốn mùa, sự vận chuyển uy nghi của tinh tú, đó là cái đạo mà ta thấy trong mỗi dòng suối, mỗi phiến đá, mỗi ngôi sao, đó là cái luật của vũ trụ, vô tư, vô ngã, mà lại hợp lí, và loài người phải hành động theo luật ấy nếu muốn sống khôn ngoan và yên ổn” [4, tr.53]. Bởi vậy, người phương Đông thường lựa chọn cách sống hài hòa với tự nhiên để được thanh thản, đủ đầy. Những hình ảnh “áo mỏng”, “dậu thưa” là những phương cách hòa hợp với vạn vật.

Trong các trang sử thi hùng tráng về người anh hùng phương Đông, chiến công trên chiến trận chỉ là một phần của công trạng, mà chủ yếu là cần phải học bài học về sự hòa hợp tự nhiên. Các anh hùng của người Ấn trong hai thiên sử thi vĩ đại Ramayana, Mahabharata trước khi lên ngai vàng trị vì đất nước đều vào sâu trong núi, hành hương về với tự nhiên, học bài học triết lí về nhân sinh bằng cách tĩnh tâm, hòa mình sống với thiên nhiên. Trước khi trở thành đấng Giác Ngộ, Đức Phật đã trải qua kiếp sống không chỉ là con người, thần linh mà còn là chim chóc, muông thú để có thể hiểu về cuộc đời của muôn loài bình thường, với đủ mọi quan hệ thế tục. Đấng minh quân Trần Nhân Tông sau khi thực hiện xong việc thế sự, xuất gia vào núi sâu để được trong sạch, giác ngộ tràn đầy. Thiên nhiên, do đó là người thầy minh triết vĩnh cửu trong tâm thức của người phương Đông.

2.  Tình yêu với sinh mệnh tự nhiên

Trong tâm thế của người phương Đông, người ta thấy một tâm hồn đối với thiên nhiên rất sâu nặng. Trong khắp các trang viết, không chỉ thấy vẻ đẹp của cảnh vật mà còn thấy một tấm lòng tha thiết với cảnh vật.Đó là tình yêu vĩnh cửu với thiên nhiên vô tận, với vẻ đẹp tráng mĩ, hùng vĩ của núi cao vực sâu, cũng có thể là vẻ giản dị, gần gũi của nhành hoa, ngọn cỏ, con cò, con ếch, con dế...Mỗi tâm hồn Đông phương đều đồng cảm trước tấm lòng nghe thấy tiếng gió mưa ngoài cửa mà xót xa cho thân phận mỏng manh của cánh hoa rơi rụng (Dạ lai phong vũ thanh/ Hoa lạc tri đa thiểu– Nửa đêm nghe tiếng mưa/ Hoa rụng nhiều hay ít – Mạnh Hạo Nhiên); mỗi tâm hồn Đông phương đều xem thiên nhiên như là người tri kỉ (Cửbôi yêu minh nguyệt/ Đối ảnh thành tam nhân– Nâng chén mời trăng sáng/ Mình với bóng là ba – Lý Bạch), như là gia đình thương mến (Cò nằm hạc lẩn nên bầu bạn/ Ấp ủ cùng ta làm cái con– Nguyễn Trãi); mỗi tâm hồn Đông phương đều nâng niu vẻ đẹp giao hòa giản dị của thiên nhiên bình dị (Một cành bìm bìm hoa tía/ Quấn quanh cây cầu/ Ta sang hàng xóm xin nước thôi- Chiyo), đều xúc động trước những sự việc rất tầm thường của vạn vật (Lá chuối xanh trôi/ Một con ếch nhỏ/Run run đang ngồi -Kikaku)

Chỗ “vô ngôn” của thơ Thiền thường là sự im lặng vĩnh cửu của tự nhiên. Chính cái không lời vĩnh viễn ấy mới thấu biết được mọi lẽ trong cõi hiện sinh đầy mệt nhọc này. Bởi vậy, tràn lấp trong các trang thơ Thiền là vẻ đẹp của hoa cỏ núi sông, là nhành mai cao khiết (Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận/ Đình tiền tạc dạ nhất chi mai – Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết/ Đêm qua sân trước một nhành mai), là đôi bướm vui tươi trong một buổi sáng mùa xuân (Nhất song bạch hồ điệp/ Phách phách sấn hoa phi - Song song đôi bướm trắng/ Phấp phới cánh hoa bay - Trần Nhân Tông), hay là cảnh chiều muộn của ngôi chùa xưa (Cổ tự thê lương thu ái ngoại/ Ngư thuyền tiêu sắt mộ chung sơ – Chùa xưa lạnh lẽo khói thu mờ/ Chiều quạnh thuyền câu, chuông vẳng đưa – Trần Nhân Tông) hoặc cảm giác an nhiên viên mãn đủ đầy giữa tự nhiên khoáng đạt (Ngư ông thụy trước vô nhân hoán/ Quá ngọ tỉnh lai tuyết mãn thuyền – Ông chài ngủ tít ai lay/ Quá trưa tỉnh dậy, tuyết bay đầy thuyền – Không Lộ thiền sư)...

Bước sang thế kỉ XX, người đọc vẫn nhận ra cốt cách gần gũi thiên nhiên của tâm hồn Đông phương trong các tác phẩm dù cho trong dòng chảy hợp lưu Đông – Tây, người phương Đông phần nào đã bỏ rơi thiên nhiên. Nhưng niềm ưu ái với thiên nhiên có lẽ chưa bao giờ ngừng trong văn chương phương Đông từ cổ xưa đến hiện tại, nó vẫn âm ỉ chảy trong một dòng mạch thông suốt. Bằng chứng là qua các tác giả đạt giải Nobel như Kawabata hay Mạc Ngôn, ta thấy một tâm thế phương Đông rất nặng “thiên nhiên cũng có sinh mệnh riêng của nó” [11, tr.5], người đọc vẫn thấy những cánh đồng trù mật, những rặng núi mù xa, những vườn anh đào, những dòng sông thao thiết chảy qua những trang văn.

Để thấy được vị trí của thiên nhiên quan trọng như thế nào trong văn học phương Đông, chúng ta thử so sánh với văn học phương Tây. Ngay khi cùng viết về tự nhiên, nhưng điểm khác biệt cơ bản của phương Đông và phương Tây là người phương Đông xem thiên nhiên như là một sinh mệnh độc lập “cỏ cây quanh mình và cả bò dê nữa đều có thể trò chuyện với con người, chúng chẳng những có sinh mệnh, mà còn có cả tình cảm nữa” [11, tr.5], trong khi đó dù ca ngợi tự nhiên, cảm hứng chủ đạo của người phương Tây vẫn là xem thiên nhiên là nền cảnh để làm nổi bật con người. Bởi thế, khi A. Daudet  mô tả bầu trời sao tuyệt đẹp là ông muốn làm nổi bật hình ảnh con người: tất cả những vì sao lung linh trên trời kia là nền cảnh cho vẻ đẹp của con người trên đồng cỏ và trong tâm hồn cậu bé chăn cừu, không có vì sao nào đẹp bằng vì sao kiều diễm, sáng trong đang thiếp ngủ trên vai của cậu “tôi tưởng đâu một trong những ngôi sao kia, ngôi sao thanh tú nhất, ngời sáng nhất lạc mất đường đi đã đậu xuống vai tôi mà thiêm thiếp giấc nồng” [3, tr.254].

Để chứng minh rõ hơn cho luận điểm này, chúng ta thử so sánh cách cảm nhận về một hình tượng tự nhiên: hình tượng sói. Ở các tác phẩm của J. Lodon (Tình yêu cuộc sống, Tiếng gọi nơi hoang dã), cảm hứng chủ đạo là chinh phục tự nhiên, trong khi ở Tôtem sóicủa Khương Nhung là cảm hứng mãnh liệt về triết lí tôn trọng tự nhiên.

Tình yêu cuộc sống là bài ca về ý chí, nghị lực của con người. Câu chuyện kể về cuộc chiến đấu của một người đào vàng bị thương, bị bỏ đói nhiều ngày trong giá lạnh của vùng Bắc cực với một con sói già nua ốm yếu: “hai sinh linh kéo lê thân xác hấp hối qua cảnh hoang sơ và bên nọ rình cướp sự sống của bên kia” [6, tr.26], đi đến giới hạn sức chịu đựng của thể chất mà vẫn chiến đấu ngoan cường. Và dù cả hai vét đến hơi thở cuối cùng để dành sự sống thì chiến thắng vẫn thuộc về con người “Hai bàn tay không đủ sức để bóp nghẹt con sói nhưng mặt người áp sát vào họng con sói và mồm con người đầy những lông. Hết nửa giờ, con người nhận thấy một dòng âm ấm chảy vào họng mình” [6, tr 28]. Trong Tiếng gọi nơi hoang dã, con người bắt sói phải phục tùng hoặc bằng “luật dùi cui và răng nanh” hoặc bằng tình yêu thương. Dù cho đó là hai cách trái ngược nhau thì vẫn là khát vọng chinh phục tự nhiên. Trong khi đó hình tượng sói trong Tôtem sói (Khương Nhung) hoàn toàn khác biệt. Sói sống hoang dã, tự nhiên như bản tính của nó, con người không bao giờ có thể chinh phục được. Nếu như Bấc yêu quý Giôn Thóctơn với một tình cảm quyến luyến, quỵ lụy, yêu thương xen lẫn phục tùng “Bấc thấy không có gì sung sướng bằng được cái ôm ghì mạnh mẽ ấy và những tiếng rủa rủ rỉ bên tai ấy, và mỗi cái lắc qua đảo lại, nó tưởng chừng như quả tim mình muốn nhảy tung khỏi lồng ngực vì quá ngây ngất, rạo rực” [6, tr.307], thì dù Trần Trận nuôi sói con từ nhỏ, yêu thương chăm sóc bằng cả tấm lòng, đem hết tâm huyết, sức lực, tình cảm, thậm chí cả tính mạng nhưng con sói vẫn sống với bản tính hoang dã của nó, không bao giờ chịu thuần phục. Bởi thế, tộc du mục sống trên lưng ngựa lại thờ phụng sói (chứ không phải là ngựa) vì “logic trái khoáy này lại bao hàm sâu sắc logic của thảo nguyên (...) con sói thảo nguyên thì chưa bao giờ bị thuần dưỡng” [7, tr.537]. Người thảo nguyên thờ phụng sói cũng còn vì một lí lẽ lớn hơn nhiều nữa – sói là nhân tố điều hòa môi trường sinh thái. Sói thống soái tự nhiên, đứng trên tầm cao mà điều phối các mối quan hệ chồng chéo của tự nhiên, sói cân bằng sinh thái trên thảo nguyên: diệt chuột, rái cá, dê vàng, ngựa, cừu, thậm chí cả con người – những kẻ phá hoại không thương tiếc thảo nguyên. Theo họ “cỏ và thảo nguyên là sinh mạng lớn, tất cả những thứ khác là sinh mạng nhỏ: sinh mạng nhỏ sống nhờ sinh mạng lớn” [7, tr.482]. Như vậy, sói là chủ thể của tự nhiên, giữ gìn và cân bằng môi trường tự nhiên, bảo vệ vẻ đẹp thuần khiết của thảo nguyên trước những can thiệp thô bạo.

3.  Thiên nhiên – biểu tượng cơ bản của thơ ca phương Đông

Phương Đông huyền bí có thể coi là vương quốc của thơ ca, nhân loại vẫn mãi ngưỡng vọng Đường thi, Haiku như là những di sản tinh thần vĩ đại. Cảm xúc trong thơ trữ tình hư huyền, khó nắm bắt, thi nhân thường mã hóa cái thế giới huyền hồ sương khói ấy bằng những hình ảnh tự nhiên: nỗi nhớ nhà bảng lảng khói sóng hoàng hôn (Hoàng hạc lâu– Thôi Hiệu), thiếu phụ nhớ chồng trách con chim oanh (Xuân oán– Kim Xương Tự), nhìn nhành liễu biếc tiếc tuổi xuân qua (Khuê oán– Vương Xương Linh )… 

Thơ Haiku của Nhật Bản mặc dù số chữ rất ít ỏi, vỏn vẹn chỉ có 17 âm tiết nhưng vẫn dành cho tự nhiên một chỗ đứng trang trọng. Một bài thơ Haiku phải thể hiện được cảm thức về thời gian qua quý ngữ (kigo). Quý ngữ có thể là từ miêu tả các mùa xuân, hạ, thu, đông hoặc là các hình ảnh, hoạt động mang đặc trưng của mùa, biểu hiện những bước đi của thời gian bằng những hình ảnh của cảnh sắc cây cỏ, ví như mùa thu – con quạ(Trên cành khô/ cánh quạ đậu/ chiều thu- Basho), mùa đông – mưa gió (Mưa đông giăng đầy trời/Chú khỉ con đơn độc/ Cũng mong chiếc áo tơi - Basho), mùa xuân – anh đào nở rộ (Từ phương trời xa/ cánh hoa đào lả tả/ gợn sóng hồ Bi-wa- Basho), mùa hạ - ánh trăng (Con mực trong bẫy/nằm mộng phút giây/mùa hạ trăng đầy – Basho). Việc dùng quý ngữ chỉ mùa thể hiện tâm hồn nhạy cảm với sự thay đối của thiên nhiên, có cảm quan tinh tế về thời tiết, sự gắn bó sâu sắc của người Phù Tang với tự nhiên.

Các thi sĩ Thiền gia cũng quay trở về thiên nhiên, biểu hiện cái “tâm không” bằng tâm hồn rỗng rang hòa điệu cùng vũ trụ, cảm nhận vẻ đẹp của tự nhiên. Tư Không Đồ, người mở đầu cho thi học Thiền gia đã viết trong bài Nhàn dạ: Thử sinh nhàn đắc dịch vi gia/ Nghiệp thị ngâm thi dĩ khán hoa (Cuộc đời nhàn nhã lấy xê dịch làm nhà/ Nghề nghiệp là ngâm thơ và xem hoa). Trần Nhân Tông trả lời môn đệ câu hỏi “Thế nào là gia phong hòa thượng?” bằng câu thơ: Áo rách ôm mây, ban mai húp cháo/ Bình xưa dốc nguyệt, trời khuya nấu trà. Đối với thi nhân Thiền gia, sự hòa hợp trong tâm hồn được biểu hiện trong sự hòa điệu với tự nhiên. Và đôi khi, sự tương thông của lòng người với nhau không phải qua lời nói bề ngoài ồn ào mà sự tương giao ấy biểu hiện qua cái tĩnh lặng say mê với cảnh vật:

Dương liễu hoa thâm điểu ngữ trì
Họa đường thiềm ảnh mộ vân phi
Khách lai bất vấn nhân gian sự
Cộng ỷ lan can khán thúy vi
(Xuân cảnh- Trần Nhân Tông)
Chim nhẩn nha kêu, liễu trổ dày,
Thềm hoa chiều rợp bóng mây bay.
Khách vào chẳng hỏi chuyện nhân thế,
Cùng tựa lan can nhìn núi mây

(Huệ Chi dịch)

Hai tâm hồn nhập vào nhau không cần bằng lời nói hoa mĩ, ồn ào mà chỉ bằng một cử chỉ thật giản dị là lặng ngắm khung cảnh về chiều rộn rã tiếng chim và rợp bóng mây.

Mặc dù thơ điền viên với thơ sơn thủy cùng chung đối tượng thẩm mĩ là cảnh sắc thiên nhiên, nhưng điểm khác biệt lại ở chỗ thơ điền viên gần gũi với cuộc sống của con người hơn. Sơn thủy hướng đến núi cao vực sâu ngàn dặm, điền viên gần gũi với “ao rau muống”, “lảnh mùng tơi” (Nguyễn Bỉnh Khiêm); cảnh sắc giản dị, gần gũi của cây hòe, cây chuối, cây lựu, hoa sen, hoa xoan... (Quốc âm thi tập - Nguyễn Trãi). Nguyễn Khuyến được coi là “nhà thơ của làng cảnh Việt Nam” có lẽ bởi thơ ông thể hiện cảnh sắc và sinh hoạt nông thôn gần gũi và thân thiết. Có thể nói, ông đã mở ra cho thơ ca Việt Nam trường phái thơ điền viên mà sau này thơ Mới sẽ tiếp tục với những tác giả xuất sắc như Bàng Bá Lân, Đoàn Văn Cừ, Anh Thơ, Nguyễn Bính…

4. Thiên nhiên – Nơi cứu rỗi tâm hồn Đông phương

Con người từ trời đất sinh ra. Sự sinh tồn của con người không thể tách khỏi trời đất nên hành vi con người cũng tương thông, nhất trí với sự vận hành của trời đất: “Con người là sản vật của tự nhiên, cũng là một phần của tự nhiên, mà sự sinh tồn và phát triển của con người là lấy các điều kiện vật chất do tự nhiên cung cấp làm tiền đề” [5, tr.215].Bởi vậy, học cách sống hài hòa, phù hợp với quy luật phát triển sẽ khiến cho con người cảm thấy hạnh phúc. Đạo gia coi trọng sự thuần phác, tự nhiên. Triết lí “vô vi” của Lão Tử nghĩa là “không làm gì” trái với tự nhiên (Đạo). Lão – Trang chủ trương xa rời những hệ lụy của cõi đời, sự phiền nhiễu của ý chí, dục vọng để được tự do, tự tại trong bản chất tự nhiên thuần phác. Kêu gọi về với thiên nhiên là một phương cách để nuôi dưỡng cái bản tính tự nhiên thuần phác đó (Đạo pháp tự nhiên). Do vậy ứng xử của các nhà Nho truyền thống là “dụng chi tắc hành, xả chi tắc hàng” (Dùng thì ta hành đạo, không dùng thì ta quy ẩn). Quy ẩn bằng cách trở về với thiên nhiên để tìm lại sự bình an, tĩnh tại, tự do. Thiên nhiên trở thành điểm tựa tinh thần trong cơn bĩ cực, thiên nhiên nuôi dưỡng cái phần thiên tính chất phác của con người khỏi những phồn tạp, tị hiềm, ganh ghét, trói buộc chốn quan trường.Hầu hết cách ứng xử của thi nhân thời trung đại Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam… là sống gần gũi tự nhiên. Khi con người xã hội bất như ý họ thường đi ở ẩn, một hình thức xa lánh xã hội nhiêu khê, trở về với thiên nhiên để quên nỗi buồn thế sự. Nhà nho nhàn dật có khuynh hướng vui với cây cỏ, chối từ con người lí trí, rũ bỏ áo khoác xã hội để hòa mình vào thiên nhiên xa lánh cảnh trầm luân, nhiễu nhương của thế sự. Bởi vậy, từ Khuất Nguyên, Đào Tiềm cho đến Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Khuyến… do mệt mỏi với quan trường ganh ghét, lòng người hiểm độc đã “quy khứ lai” - trở về với mây trắng núi ngàn để xoa dịu, thanh thản. Những vần thơ ca ngợi hoa cúc của Đào Tiềm, những vần thơ “tìm nơi vắng vẻ” của Nguyễn Bỉnh Khiêm hay tư tưởng sùng thượng tự nhiên của Nguyễn Trãi đều thể hiện một tư tưởng sống khiêm nhường, ẩn dật và hòa hợp vào “dòng sống thâm áo của thiên nhiên”. Đối với kẻ sĩ phương Đông, có lẽ tiền tài, danh vọng, chức tước không phải là mục đích của sự sống mà việc con người trở về với cõi thiên nhiên, với bản thể của vũ trụ mới là mục đích chân chính nhất. Phò vua giúp đời chỉ là nghĩa vụ trong chốc lát còn tâm thế họ vẫn hướng về tự nhiên sâu thẳm trời xanh mây trắng vĩnh cửu muôn đời. Phải vậy chăng mà Lí Bạch tâm sự:

Đãi ngô tận tiết báo minh chủ
Nhiên hậu tương huề ngọa bạch vân
(Chờ ta tận tiết báo đền ơn minh chủ
Sau đó sẽ cùng nhau về nằm nơi mây trắng)

(Tặng Trương Tương Cảo- Lí Bạch)

Sự hóa thân vào tự nhiên để được gột rửa là motif quen thuộc trong văn chương phương Đông. Chỉ khi hòa nhập vào tự nhiên con người mới thấy thanh thản, bình yên, tĩnh lặng; được cứu rỗi khỏi những muộn phiền, hệ lụy của đời sống phồn tạp. Người Ấn Độ từ cổ xưa đến nay đều thực hành nghi lễ tắm nước sông Hằng vì quan niệm nước sông có thể thanh tẩy; họ cũng cho rằng thần lửa Anhi thiêu cháy tất cả để trở nên trong sạch. Vậy là, trong tâm thức Ấn, thiên nhiên có thể gột rửa được tội lỗi, khiến con người có thể trở nên thanh khiết. Trước thái độ hờn ghen của Rama, Sita đã hai lần chứng minh tấm lòng nàng, lần thứ nhất là với thần lửa Anhi, lần thứ hai xin được trở về đất mẹ, hóa thân vào luống cày, nơi mà cô đã sinh ra. Môtip hóa thân vào tự nhiên được thể hiện trong văn học phương Đông qua rất nhiều dạng thức khác nhau: có thể là sự rẽ nước xuống biển của An Dương Vương, là hành động bay về trời hóa vào vĩnh cửu của Thánh Gióng, có thể là sự hóa thân trở lại thành cây Giáng Châu của Lâm Đại Ngọc dứt khỏi mối sầu muộn ở dương thế... Trong văn học hiện đại, sự hóa thân vào tự nhiên ấy được biểu hiện qua motif hòa nhập vào tự nhiên, buông thả mình theo tự nhiên tách mình ra khỏi cái ồn ào đô thị để sống thanh thản. Đó là một trong những chủ đề cơ bản của văn học lãng mạn, là khuynh hướng “ngược về ngoại ô” để thả mình vào hương đồng cỏ nội của văn học đương đại - thái độ lánh mình vào tự nhiên của con người thời hiện đại bị bao bọc bởi văn minh kĩ trị.

Tự muôn đời, thiên nhiên luôn là nguồn an ủi. Mỗi khi thấy lòng đau, lại tìm về tự nhiên như một bến bờ tĩnh lặng để nguôi quên. Thiên nhiên là người bạn lớn vĩnh hằng của con người mà ở đó, những muộn phiền, day dứt, đau đớn vơi đi. Thấu được nỗi chán chường cuộc sống ồn ào quanh mình, chỉ có tự nhiên vĩnh cửu không lời là vĩnh viễn.

5.  Nỗi trăn trở sinh thái thời hiện đại

Thorber, một nhà nghiên cứu phê bình sinh thái của Đại học Havard đã khẳng định mặc dù khuôn mẫu của Đông Á là tình yêu thiên nhiênnhưng hiện tại,“Đông Á đã là nơi  của một số các vấn đề và các cuộc khủng hoảng môi trường khó khăn nhất trên thế giới” [10].Trong xã hội hiện đại, do ỷ lại vào khoa học kĩ thuật nên người phương Đông đang ngày càng quay lưng với tự nhiên, khai thác tự nhiên quá mức khiến cho tự nhiên ngày càng vắng bóng trong đời sống. Mặt khác, trong một thời gian dài, văn học phương Đông mải chạy theo những vấn đề thời thượng của cõi người như tính dục, thân thể, đạo đức, phê phán xã hội… nên dường như người phương Đông đang bỏ rơi mất truyền thống hòa hợp tự nhiên.

Trước tình trạng khủng hoảng của môi trường sinh thái, các thảm họa, thiên tai và đáng sợ hơn cả là sự biến mất của chính thiên nhiên, người phương Tây – kẻ luôn giương cao lá cờ chinh phục thiên nhiên – nhìn nhận lại thái độ ngạo mạn của mình. Văn học sinh thái xuất hiện và đặt ra vấn đề tranh luận: có phải con người sinh ra để thống trị thiên nhiên – làm chủ và sở hữu thiên nhiên? Hay là những phát minh khoa học, sự ngạo mạn của con người đã đẩy thiên nhiên ra xa khỏi con người và con người đang gánh chịu những hậu quả do chính mình gây ra vì đã coi thường tự nhiên? Thiếu vắng thiên nhiên, tâm hồn con người trở nên xơ cứng, lạnh lùng, vậy nên cần phải trở về với tự nhiên, bảo vệ vạn vật trong tự nhiên và duy trì sự cân bằng của hệ sinh thái. Như vậy, văn học sinh thái phương Tây đã tìm lại giúp người phương Đông tâm hồn hòa nhập tự nhiên, tình yêu đối với thiên nhiên mà những hệ lụy của đời sống đô thị đã khiến họ có lúc xao nhãng.

Người phương Đông sau khi “trải qua một cảm giác lịch sử: cảm giác thiếu thiên nhiên” [8, tr.399], đã trở lại với các đề tài tự nhiên, nhưng không phải chỉ để thể hiện tình yêu đối với thiên nhiên mà còn thể hiện một niềm khắc khoải với những nguy cơ sinh thái, bày tỏ nỗi đau đớn vì những vẻ đẹp tự nhiên ngày một biến mất… Thức tỉnh tinh thần sinh thái, từ các tác phẩm của văn học Trung Quốc: Hoài niệm sói của Giả Bình Ao, Tôtem sóicủa Khương Nhung, tản văn Tôi yêu động vật nhỏcủa Băng Tâm…, cho đến Bộ sưu tập những bài thơvề bomnguyên tửtập hợp 181tác giả của văn học Nhật Bản, cho đến những ý tưởng sinh thái của các tác giả Việt Nam (Sống mãi với cây xanh– Nguyễn Minh Châu; Muối của rừng, Con thú lớn nhất, Sói trả thù– Nguyễn Huy Thiệp; Khói trời lộng lẫy, Nước như nước mắt– Nguyễn Ngọc Tư; Thập giá giữa rừng sâu– Nguyễn Khắc Phê; Chuyến đi săn cuối cùng– Sương Nguyệt Minh…) cũng đã rung lên những hồi chuông về sự khủng hoảng môi trường, những nỗi đau, niềm tuyệt vọng trước cái mong manh của sự cân bằng tạo hóa và cắt nghĩa căn nguyên của những thảm họa sinh thái.

Cảnh tỉnh con người về mối quan hệ của con người với tự nhiên, đặt con người trước những thảm họa khi đánh mất tự nhiên, như một lẽ tất yếu, phương Tây dường như đi tìm lại tâm thức tự nhiên mà từ lâu họ đã đánh mất, tìm về phương Đông để nối lại các mạch sống tự nhiên của họ.

Như vậy, từ xưa đến nay, thiên nhiên đối với người phương Đông không phải là một chuỗi dài chinh phục mà là sự gắn bó, hài hòa. Mỗi tâm hồn phương Đông đều có một tình yêu vĩnh cửu với cỏ cây. Phương Đông đang tìm cách quay trở về với những giá trị vĩnh hằng của thiên nhiên, tìm lại chính quá khứ ngàn đời của mình – tâm thức hòa hợp với tự nhiên. Bằng cách đó, phương Đông đã giữ gìn cho nhân loại khỏi trượt xa cách cư xử lí trí, ngỗ ngược đối với tự nhiên.

TRẦN THỊ ÁNH NGUYỆT

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1.        Trần Lê Bảo (2011), “Đăng cao – Một truyền thống văn hóa phương Đông”, Giải mã văn học từ mã văn hóa, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
2.        Lê Nguyên Cẩn (2000), “Cách nhìn nhận thế giới tự nhiên của Lão Tử và J. J. Rousseu”, Đạo gia và văn hóa, Nxb Văn hóa Thông tin.
3.        A. Daudet (2011), Những vì sao – Chuyện chàng chăn cừu xứ Prôvăngxơ, Nxb Hội Nhà văn.
4.        Will Durant, Lịch sử văn minh Trung Hoa, Nguyễn Hiến Lê dịch, Nxb Văn hóa Thông tin.
5.        Phạm Minh Hoa, Lưu Cương Kỉ (2002), Chu Dịch và mĩ học, Nxb Văn hóa - Thông tin
6.        Jack London (2011), “Tiếng gọi nơi hoang dã”, Jack London - Truyện ngắn đặc sắc, Nxb Hội Nhà văn.
7.        Khương Nhung, “Tôtem sói”, http://vnthuquan.net
8.        Lê Ngọc Trà (2007), Văn chương, thẩm mĩ và văn hóa,Nxb Giáo dục, Hà Nội.
9.        Lão Tử (1991), Đạo đức kinh, Thu Giang Nguyễn Duy Cần dịch và bình chú, Nxb Văn học.
10.     Karen Thronber,Ecocriticism and Japanese Literature of the Avant-Garde, http://interlitq.org/issue8/karen_thornber/job.php
11.     “Văn học phải làm cho con người tin nhau hơn”(Đối thoại đầu năm giữa Oe Kenzaboko với Mạc Ngôn), Báo Văn nghệ,(12), ngày 23-03-2002.

Nguồn: VHNA

TIN LIÊN QUAN:






Hoa trái quanh tôi - ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường

Có lẽ thiên nhiên đã giữ một vai trò nào đó, thực quan trọng, trong sự tổng hợp nên cái mà người ta có thể gọi là “bản sắc Huế”. Bởi vì thiên nhiên bao giờ cũng biểu hiện một cách nhất quán giữa cái hằng cửu và cái biến dịch, giữa cái biến động và cái tĩnh tại.
Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường

Hình như khi xây dựng nên đô thị của mình, người Huế không bộc lộ cái ham muốn chế ngự thiên nhiên theo cách người Hy Lạp và người La Mã, mà chỉ tìm cách tổ chức thiên nhiên trở thành một kẻ có văn hóa để có thể tham dự một cách hài hòa vào cuộc sống của con người, cả bên ngoài và bên trong. Lớn lên ở Huế, không lúc nào tôi không cảm thấy thành phố nầy như một khu vườn thân mật của mình ở đó, tôi có thể tư duy cùng với hoa sen, khát vọng với hoa phượng, mơ mộng với mùi hương sâu thẳm của hoa ngọc lan ban đêm, và khi thành phố lộng lẫy trong sắc mai vàng mùa Xuân, không hiểu sao lại thấy lòng thức dậy một niềm ngưỡng mộ bao la đối với cuộc sống.

Cũng ít có một thành phố nào như nơi đây, giữa tạo vật và con người luôn luôn gắn bó một tình bạn thân thiết và tươi xanh đến như vậy. Cho đến nay, người Huế vẫn còn duy trì một phong tục cổ xưa về tình bạn cao quý đó: khi người chủ vườn qua đời thì những người già đem buộc băng tang vào những cây quý trong vườn để cây khỏi tàn lụi theo, vì người ta tin rằng cây cũng vui buồn cùng với con người. Không nên nhầm lẫn mối thân tình nầy với điều vẫn gọi là “tình bạn” mà nhiều người phương Tây, như người Anh chẳng hạn, thường cảm thấy đối với loài vật. Ở đây, quan hệ con người - cây cỏ xuất phát từ một truyền thống triết lý sâu xa của phương Đông rất được nhấn mạnh trong tâm thức người Huế, rằng con người vốn là kẻ cư ngụ trong căn nhà lớn của vũ trụ; từ đó, trong cố gắng vươn tới niềm hạnh phúc về tinh thần, con người luôn luôn biểu hiện nỗi khát khao tìm về nơi ăn chốn ở nguyên khởi của nó, nơi thực sự nó đã sinh ra. Dân gian kể rằng trong nỗi bất hạnh của đời người, cô Tấm đã hai lần sống ngụ trong cây thị và cây sầu đông. Tôi thường đọc thấy cái ý tưởng ấy bàng bạc khắp nơi trong cảm hứng của các nghệ sĩ Huế: những nghệ nhân trang trí thích dùng môtíp con chim phượng (chim phượng luôn luôn tượng trưng cho sự thăng hoa của tâm linh) hóa thân từ lá cây; trong một tác phẩm lụa của họa sĩ Tôn Thất Đào, núi Ngự Bình được nhìn thấy như là một cô gái nằm mơ màng giữa những cánh thư màu xanh vốn là những ruộng lúa; hoặc nơi này nơi kia trong những bài hát quen thuộc của Trịnh Công Sơn: “nhiều khi tưởng tôi là lá cỏ - ngồi hát ca rất tự do”.

Lật lại cuốn sổ ghi chép về Huế, tôi chợt thích thú một cách bất ngờ khi đọc lại một câu của Mác, không nhớ tôi đã ghi lại từ lúc nào. Mác viết rằng: “Chúng ta không thể đối xử với thiên nhiên, thống trị thiên nhiên như kẻ xâm lược thống trị dân tộc khác, như một kẻ đứng ngoài thiên nhiên. Trái lại, chúng ta thuộc về nó, cả xương, thịt, máu và trí tuệ, và chúng ta ở bên trong nó”. Giữa những điều tôi đang suy nghĩ, như trong một văn cảnh chung, lời của Mác vang lên trong từng ý nghĩa của mỗi từ; và tôi tưởng chừng như trong khi đưa mắt nhìn khắp thế giới bằng cái nhìn xoáy tận bản thể của ông, Mác đã nhìn thấy thành phố xanh biếc của đất nước tôi.

Cùng với mọi nhu cầu của con người hiện đại, có lẽ người Huế vẫn giữ riêng trong tâm hồn mình bản chất của một nhà thơ đồng nội.

***
Có một khái niệm kinh tế rất được chú ý đối với Huế, gọi là “kinh tế vườn”. Tất nhiên là vậy, vì vườn Huế được tạo dựng nên đâu phải nhằm đáp ứng nhu cầu riêng của các vị Thám Hoa (1), chỉ nhìn ngắm mà không cần ăn quả. Nhưng dù vẫn là nơi nổi tiếng về cây trái đôn hậu, sẽ là vô ích nếu người ta định tìm kiếm ở Huế những khu vườn cao sản kiểu vựa trái của miền Đông Nam bộ, và nếu người ta quên không nhìn đến diện mạo văn hoá của cái thế giới thực vật nho nhỏ kia.

Thuở xưa thành phố chưa trồng phượng, cây hòe nở hoa vàng trước cửa sổ luôn luôn đánh thức nỗi xôn xao của đèn sách; người học trò xưa vẫn nhớ câu “hòe hoa hoàng, cử tử mang” (2). Vườn Huế, dù giàu hay nghèo, thường vẫn có cổng gạch, mái khá rộng, phía ngoài trồng vài cây có quả: ấy là chỗ dừng chân qua cơn mưa, là bóng mát dành cho người đi đường, là chút lộc hoa trái dành cho trẻ con trong xóm; cổng nhà nhìn ra nên luôn luôn ngụ tấm lòng người nhu mì thơm thảo. Người Huế lập vườn, trước hết như là nơi cư ngụ của tâm hồn mình giữa thế gian, ước mong sẽ là chút di sản tinh thần để đời cho con cháu.

Vườn An Hiên là một kiểu vườn Huế như vậy.


Cổng nhà vườn An Hiên - Ảnh: otofun.net


Những năm gần đây, bà Lan Hữu phải tiếp khách hơi nhiều trong ngôi nhà cổ kính của bà, ở khá xa thành phố. Khách ngoài bắc trong nam, quen hay lạ, đến Huế đều muốn tìm thăm khu vườn của bà. Điều này hình như không hợp với thói quen của bà, bởi vì dù ham hoạt động xã hội, bà vẫn thích dành riêng cho mình cuộc sống tĩnh mịch của người làm vườn. Chồng mất từ hồi bà còn trẻ, bà về sống một mình với khu vườn này đã hơn bốn chục năm qua, trồng cây như ở đời, thẩm nhập vào trong hoa trái tất cả niềm cảm hứng tự do của một nghệ nhân tự thể hiện “cái tôi thứ hai” của mình.

Dù trong những ngày thanh thản nhất, tôi vẫn cứ thấy như là yên lòng trở lại mỗi lần bước qua cái vòm cổng kia, thấy nhô lên ở cuối sân chiếc mái ngói cổ với những nét uốn cong giống như nụ cười nhếch mép của thời gian phảng phất giữa ngàn lá xanh biếc. Một lối đi khá dài, hai bên trồng mai trắng, lá đan vòm che trên đầu người như nối dài thêm cái vòm cổng vào đến sân. Tôi vẫn dành một niềm ngưỡng mộ riêng về chất trí tuệ của truyền thống dân tộc ở Huế qua cái “ngỏ hạnh” này: ở đây, qua vài chục bước đi thong thả dưới lá xanh, nó thường mang lại cho tôi một món quà tâm hồn nửa thực nửa ảo thực khó tả - một chút hương đăng đắng của rừng mùa thu, một mảnh nhỏ xa xôi của biển. Trong phút chốc, nó đánh thức con người mơ mộng trong tôi để rủ nhau vào cuộc đối thoại với cây cỏ.

Vườn có một cây ngọc lan già năm chục tuổi, đứng sát cổng, cây cao bóng cả, đồ sộ như một áng thơ dân gian. Thu tàn đông lạnh, nó chỉ rụng lác đác ít lá vàng, vẫn giữ một mầu lục tươi nguyên khối không hề biết đến năm tháng; cây già mà hoa trẻ, những cánh mầu ngà thon thon dáng ngón tay thiếu nữ, cầm hoa như giữ trong tay một kỷ niệm xao xuyến. Hồi tôi đến đây, cây ngọc lan vẫn còn, hoa nở không có mùa, cứ mỗi cơn mưa cơn nắng chợt đến lại bừng lên dễ đến hàng vạn đóa trên cây, hương bay xa mấy dặm, giống như người danh sĩ dân giã trong vùng chưa gặp đã biết. Tiếc quá, pháo Mỹ hồi tết Mậu Thân đã găm vào thân cây một mảnh đạn không gắp ra được; nó vẫn xanh tươi nhưng rỗng ruột dần; nấn ná bao lâu rồi bà Lan Hữu đành phải cho đốn đi, sợ có lúc nó đổ xuống làm sập cổng. Tôi đi xa về, không còn cây ngọc lan, lòng cứ bâng khuâng như thể mùa thu đã mất đi, dù rằng đối với mùa thu thực sự thì chưa bao giờ tôi cảm thấy mất mát như vậy cả. Hôm nọ đi quanh vườn, tôi lại chợt nghe mùi hương ngọc lan thơm nồng, cứ tưởng là ảo giác về nó. Tìm mãi, thấy ở góc vườn một cây hoa lạ, cũng là ngọc lan nhưng hoa vàng mầu đu đủ chín hườm, tôi mới biết lần đầu. Hỏi bà Lan Hữu, mới hay đó là hoa hoàng lan, thường gọi là bông sứ vàng, giống còn lại ở Huế rất hiếm. Tôi thường đi dạo trong vườn, đưa mắt nhìn cây cối trong vẻ đẹp của nó, thế mà thỉnh thoảng cứ thấy bị bất ngờ về những bí mật ấp ủ trong hoa trái; khu vườn đối với tôi vẫn mãi giữ sức hấp dẫn của một cuốn sách hay chưa đọc hết.

Tôi đã được nghe nhiều nhận xét thực tế, và vẫn chưa được giải thích, về tính tổng hợp đặc biệt của môi trường sinh thái riêng của vùng Huế. Không hiểu vì sao đất Huế lại là nơi quần tụ của các loại cây trái đặc sản của hai miền nam-bắc. Cây măng cụt chẳng hạn, từ miền đông Nam bộ nó nhẩy băng qua suốt một dải miền trung rồi xuất hiện trở lại ở những khu vườn Huế từ Đông Hà trở ra lại không còn thấy bóng dáng; tương tự như vậy nhưng theo chiều ngược lại, cây vải Hưng Yên hoặc nhiều thứ hoa quả khác của phong thổ miền sông Hồng. Vườn An Hiên thật là Huế, trong cái nét tổng hợp những đa dạng đó của đất nước. Nó cũng thật là Huế, khi trong phòng tiếp khách của bà Lan Hữu vào cuối mùa đông, người ta có thể nhìn thấy trên một đĩa cắm hoa, những bông mai trắng điểm tuyết bên cạnh mấy nụ đào hồng mới chớm. Đó là bóng dáng của mùa đông đang ra đi, trong âm vang xa xôi của mùa xuân sẽ về. Và đó cũng chính là cái nhìn hướng vọng của tâm hồn mà bà nuôi dưỡng lặng lẽ, giữa tháng năm, đất nước, đời người…

***

Lối vào nhà vườn An Hiên - Ảnh: khamphahue.com.vn


Mùa xuân lên vườn An Hiên, đầu óc tôi không còn muốn bận bịu gì, để buông mình giữa cuộc sống sôi động của cây cối. Sau Tết trở đi, mọi cây lớn trong thành phố nối tiếp nhau rụng lá, thì chính trong khu vườn này, tôi mới cảm nhận hết cái sức sống kỳ diệu của “Người Mẹ Tạo Vật”. Từ mặt đất ướt lạnh và quạnh hiu kia, mùa xuân chợt đánh thức dậy cả một thế giới lộng lẫy, rạo rực, như một khúc múa loại xiêm áo thường.

Vườn An Hiên trồng nhiều hoa, mỗi thứ một ít nhưng đủ loại, dân giã có các loại nhài, lý, thạch lựu, tường vi và các giống hồng bản địa, quý phải như các loại thổ lan và phong lan; và bên cạnh những khóm hồng hiện đại nhập giống từ các hãng vườn Gaujard và Meilland ở châu Âu, người ta còn có thể nhìn thấy một bụi hoa sim dại.

Từ cổng vào, lần nào tôi cũng dừng lại ngắm những cây hải đường trong mùa hoa của nó; hai cây đứng đối nhau trước tấm bình phong cổ, rộ lên hàng trăm đóa ở đầu cành phơi phới như một lời chào hạnh phúc. Nhìn gần, hải đường có một mầu đỏ thắm rất quý, hân hoan, say đắm. Tôi vốn không thích cái lối văn hoa của các nhà Nho cứ muốn tôn xưng hoa hải đường bằng hình ảnh của những người đẹp vương giả. Sự thực thì ở ta, hải đường đâu phải chỉ mọc nơi sân nhà quyền quý; nó sống khắp các vườn dân, các sân đình, chùa, nhà thờ họ. Dáng cây cũng vậy, lá to thân khỏe, sống lâu nên cội cành thường sần lên những lớp rêu da rắn mầu gỉ đồng, trông dân giã như cây chè đất đỏ. Hoa hải đường rạng rỡ nồng nàn, nhưng không có vẻ gì là yểu điệu thục nữ, cánh hoa khum khum như muốn phong lại cái nụ cười má lúm đồng tiền. Bỗng nhớ năm xưa từ chiến trường ra, lần đầu lên thăm đền Hùng, tôi đã ngẩn ngơ đứng ngắm hoa hải đường nở đỏ núi Nghĩa Lĩnh.

Hoa đẹp mãn khai vào dịp Tết ở đây, không thể không nhắc tới hoa trà mi, trồng trong những chậu sành lớn. Trà mi đỏ tươi, màu đỏ rất sâu, cứ hút lấy cái nhìn của người xem. Hoa đỏ đã đẹp, hoa trắng càng đẹp lạ; có cái gì thật trong và tinh khôi trong mầu trắng hoa trà, toàn đóa hoa như một phiến ngọc bạch. Chậu trà trắng này bà Lan Hữu mang từ Hà Nội về, là kỷ niệm riêng của bà trong những năm đi kháng chiến xa nhà; bà rất yêu quý, thường đưa vào nhà đặt ngay chỗ ngồi uống trà. Có lần thấy tôi nhìn hoa với con mắt chăm chú, bà hỏi tôi:

- Anh có thích hoa trà không?

- Dạ. Nhưng có lẽ thích đấy rồi quên nó đấy!

- Cô ít nghe người khác nói như vậy, thường ai cũng khen hoa trà…

- Hoa thì im lặng, hương chính là tiếng nói riêng của hoa. Mà hoa trà thì tuyệt đối không có mùi hương.

- Chắc gì như vậy. Biết đâu hoa trà vẫn thơm, mình không nghe nhưng con ong thì bắt được. Chẳng thế mà cụ Nguyễn Du lại nói rằng con ong nó tỏ đường đi lối về, anh không để ý à?

Tôi vẫn giữ cái thành kiến của mình về hoa trà:

- Cháu cho rằng chỗ này cụ Nguyễn Du nói hớ.

Bà Lan Hữu cười to:

- Bậy nào! Cô chơi hoa trà mới biết. Con ong bầu nó mê hoa này lắm, đuổi mấy cũng như không, phải lấy que hất nó ra. Này, thơ Kiều bóng bẩy vậy chớ có cơ sở cả đó, đọc phải cẩn thận nghe.

Đúng là cụ Nguyễn Du thật đáng sợ về cái vốn sống thâm hậu của nhà thơ. Nghe bà Lan Hữu nói, tôi mới nhận ra cái lầm nguy hiểm của mình; trong bao năm đi dạy học, giảng Kiều, đến chỗ này tôi vẫn cho rằng cụ Nguyễn đã viết sai thực tế. Lại nhớ đến câu “Hải đường lả ngọn đông lân”, nhiều người vẫn chê rằng từ “lả ngọn” dùng không đúng so với cái dáng cứng cỏi của cành và lá hải đường. Tình cờ đọc tài liệu cổ ở nhà bà Lan Hữu, tôi mới biết rằng cụ Nguyễn Du vẫn đúng; hải đường Trung quốc (quê hương Kiều) thì cây thấp, cành mềm, lá nhỏ; xem hình vẽ thấy hoa chỉ có một lớp cánh mỏng xếp quanh nhị, không tạo thành hình khối gợi cảm như hải đường ở ta.

Tháng ba… khi các màu sắc trong khu vườn đã quá độ mãn khai của chúng vào tiết xuân, lùi lại dần trong cảm giác quen mắt, thì bắt đầu tháng ba, hoa lê nở. Năm ấy tôi về muộn, sau một chuyến đi dài. Mùa hè năm trước, tôi tham dự một cuộc đi thực tế qua các đơn vị tiên tiến của quân khu 3, về thăm một xã nổi tiếng làm vụ đông giỏi ở Hải Hưng, rồi cùng một vài người bạn về nằm tại một vùng lấn biển ở cửa sông Đáy. Mùa thu tôi vào Nam, ngược sông Vàm Cỏ đông lên mấy xã biên giới Tây Ninh đã phục hồi cuộc sống sau cuộc chiến tranh xâm lược của bọn Pôn Pốt; băng qua rừng Dương Minh Châu nhìn lại những vết tích thánh địa của cuộc kháng chiến trước khi chúng vĩnh viễn lặn mất dưới đáy hồ thủy lợi Dầu Tiếng. Tôi quay về trèo núi Bà Đen trong ngày hội truyền thống của cán bộ rừng cũ, lại xuôi Long An thăm một làng người Huế chuyên nghề nấu dầu tràm giữa Đồng Tháp Mười; vừa kịp cuối năm, về chơi Tết và uống rượu mừng khánh thành khu công nghiệp liên hợp của nông trường An Hạ. Một năm tôi đi dài, như dự vào một cuộc chạy việt dã băng qua bấy nhiêu vẻ đẹp của cuộc sống; cuộc sống tháo vát với những thành tựu làm say mê lòng tôi ở khắp mọi nơi, dù thầm lặng như không cần ai biết đến, ở tận nơi đầu núi cuối sông. Những sự kiện thật xô bồ trong hai cuốn sổ dầy đã ghi đến hết trang cuối, nhưng chữ nghĩa thì cứ bò qua dưới mắt tôi như một bầy kiến, không hồi hộp không vang động, tôi ngồi vào bàn từng chốc lại đứng dậy. Hình như Gô-ganh từng nói rằng sau khi đã quan sát đầy đủ, ông ta chỉ có thể bắt đầu vẽ khi đã ngoảnh mặt về phía khác, để khỏi bị cái bên ngoài lấn át.

Tôi về Huế, lên An Hiên. Bà Lan Hữu đang ở sau vườn. Bà mặc bộ bà ba lụa trắng, mải ngắm cây thanh trà vừa ra trái mùa đầu, trái non kết từng chùm tròn, sai như chẽ cau. Tôi về bất ngờ, bà rất vui, nói ngay:

- Mấy năm nay, lúc nghe anh ở Hà Nội, lúc ở thành phố Hồ Chí Minh, có người nói không chừng anh đã sang Campuchia. Nghe anh về, mấy hôm nay cô cứ trông…

- Dạ, mới năm hôm nay. Phải làm tất cả mọi việc để ổn định chỗ ở, cứ như vừa nhập hộ khẩu ở thành phố này, cô ạ.

- Người ta nói anh định rời Huế hẳn, nhưng cô không tin. Anh về lại là cô mừng. Vô nhà uống nước rồi đi xem hoa lê. Lê năm nay sao muộn mãi hôm qua mới nở. Cô cứ nghĩ trong bụng, không chừng nó chờ anh lên.


Hai con bé của tôi đang ríu rít quanh bụi bông cẩn, không màng gì đến mọi thứ hoa trái nào khác. Đúng là bông cẩn có một tuổi thơ riêng không hoa nào thay thế được. Hai cô bé, cùng với các bạn của chúng, mỗi lần lên An Hiên vẫn dành lấy một thế giới riêng dưới bụi hoa này: bày đồ hàng, làm món ăn, làm lồng đèn, và với những cuốn nhụy lấm tấm vàng, chúng còn làm những đôi trằm đeo tai xinh đẹp. Mấy năm đi xa, chúng nó cũng thấy nhớ, thỉnh thoảng hai chị em lại kéo nhau chạy trên vỉa hè, nói vu vơ: “mau về nhà mình ở dưới bụi hoa”.

Uống trà xong, tôi đi dạo quanh vườn. Vườn bà Lan Hữu bao giờ cũng sạch, không hề có một mảnh giấy vương vải, chỉ cỏ lơ thơ và lá khô. Đã quá giữa xuân: cam, bưởi, thanh trà đã già mùa hoa, tỏa lan khắp vườn một mùi hương rộng rãi, sung thiệm, sâu vào tận phổi và hình như còn bay xa qua những khu vườn khác. Lâu nay vì xem chúng là cây ăn quả, tôi vẫn nghe hương thơm của chúng như là một cái gì ngẫu nhiên. Bây giờ tôi mới lưu ý tới điều này, rằng cái họ cam, chanh, bưởi này, trước khi cho quả, chúng đã mang đến cho con người một mùa hoa thực sự của riêng chúng, với đầy đủ tư cách là hoa, cũng giống như hoa hồng vậy.

Tôi đi vòng lại góc sân, nơi đó có cây lê đang nở hoa. Trên những cành thẳng có những chấm mắt nhỏ gồ ghề, dáng đối trúc, mấy chùm hoa trắng điểm lên ít lá non, xanh mơn mởn, bóng loáng. Cành to khỏe, hoa chỉ điểm năm ba chùm, nhưng người ta không cảm thấy là ít, hình như hoa lê sợ sự thừa thãi. Dưới trời quang đãng của tiết xuân muộn, trong nắng trong gió, những chùm hoa rung động nhẹ trước mắt tôi giống như bướm trắng, nhưng là những cánh bướm bay đến từ một phương trời nào khác. Bà Lan Hữu đang đứng bên thềm loay hoay buộc mấy cành hoa tường vi lên giàn. Bà ngẩng lên, nói với tôi:

- Hoa lê nở dưới trăng càng bộc lộ hết cái thần của nó. Người xưa khen hoa này là biết tự cam ở nơi tịch mịch..

Tôi ngồi bệt xuống thềm, duỗi chân, nhìn lan man ra vườn. Vườn măng cụt đang nẩy lộc chi chít, trên ngọn mỗi chùm lá đều chĩa ra một cặp lá non thật nhọn hình cánh chim, tưởng chừng có ngàn vạn con chim anh vũ đang dấu mình dưới lá, đôi cánh biếc của chúng xòe ra ở đầu cành. Cảnh tượng trước mắt làm tôi xúc động: nơi trang thơ của Nguyễn Du đã đọc, tôi nhớ lại một ngày thanh minh trời đẹp như thế này cành hoa trắng kia đã làm chứng cho một tình yêu sáng lạn, cũng là làm chứng cho dự phóng nhân đạo của tâm hồn nhà thơ trước cuộc đời. Tôi hài lòng đã trở về. Như vậy thôi, tôi hiểu, ở thành phố này, sự yên tĩnh cũng giống như Lòng Mẹ, không có gì đồng nghĩa với sự yên nghỉ.

***
Với bà Lan Hữu, vườn An Hiên không chỉ là nơi ở, mà còn là một cuốn tự truyện viết bằng nét, chữ của cây cỏ. Tôi cảm thấy như đọc thêm được nhiều điều ở đấy, khi biết thêm ít nhiều chi tiết về đời riêng của người chủ của nó. Trước kia, tôi chỉ biết bà Lan Hữu như một trí thức tên tuổi có thái độ độc lập trong các vấn đề chính trị, được nhiều người kính trọng về nhân cách. Nhưng tôi chưa có dịp gần bà hơn, vì bà thuộc lớp trước, lại sống nơi xa khuất, và hình như luôn luôn tự mình giữ một khoảng cách với cái xã hội danh lợi đương thời đang tìm cách lôi cuốn những người như bà. Tôi vẫn giữ một hình ảnh đẹp về bà trong những năm tranh đấu, khi bà len lỏi qua đám đông để mang đến cho sinh viên những quà tặng ủng hộ và ký tên vào sổ vàng của phong trào. Sau đó, các chương trình phát thanh của sinh viên thường loan đi một hình ảnh có tính chất cổ vũ về Người Chị của thế hệ trước: cô gái áo trắng cài khăn nguyệt bạch, đã cầm đầu cuộc bãi khóa chống thực dân Pháp của nữ sinh Đồng Khánh năm 1927.

Có một sự kiện khác có liên quan đến bà như một biến cố được mọi người theo dõi trong những năm thành phố tương đối yên tĩnh; lúc này bà đang dạy học ở ngôi trường cũ. Năm ấy, bọn tay sai Ngô Đình Diệm tổ chức cuộc biểu tình chống Cộng đầu tiên ở Huế, bắt những nữ sinh của bà vác gậy gộc đi diễu hành ngoài phố, bà từ chối và bỏ về vườn.

Một ngày hoàn toàn bất ngờ, tôi được gặp lại bà trong một buổi tiếp của thành ủy Huế, phòng khách là một hang đá Trường Sơn rền tiếng bom; lúc ấy tóc bà đã bạc nhiều. Từ đó cho đến ngày trở về vườn cũ, bà còn phải xa nhà lâu năm. Sức bền bỉ của tấm lòng đất nước nơi độ tuổi của bà mãi mãi làm cho tôi ngạc nhiên, như thế là trong tâm hồn bà, cuộc hành trình đã được chuẩn bị từ trước. Điều tôi nghĩ quả không lầm. Có một cuộc gặp gỡ ít khi bà nhắc đến đã vang dội sâu xa trong cuộc sống của bà mãi về sau. Ngày Huế vỡ mặt trận năm ấy, bà Lan Hữu được mời ra gặp một đồng chí lãnh đạo Mặt trận tại một làng phía bắc Huế; người ấy là đồng chí Nguyễn Chí Thanh. Đồng chí phân tích yêu cầu lớn của cuộc kháng chiến, đề nghị bà tham gia, đưa mẹ cùng đi. Bà phấn khởi tự nguyện, quay về thu xếp việc nhà. Nhưng chuyến đi đã không thực hiện được, vì bà cụ đã già yếu, bà không thể để mẹ lại một mình, và kháng chiến thì không chờ đợi. Bà tự nhủ lòng: “Không đi được thôi đành, thì hãy sống như người ở lại”. Bà đã sống như vậy, khiêm cung tự giữ mình trong ý thức của một người công dân lúc đất nước chưa giành được độc lập. Cây cỏ đã nói với bà điều gì không ai biết, nhưng không phải là chuyện quên đời. Bà chăm chút khu vườn với tất cả ý thức văn hoá, giống như nghề dạy học mà bà đã phải từ bỏ, và chắc hẳn đã nhận lại từ cây cối những lời ngụ ngôn thầm lặng. Đó là câu chuyện tâm sự của bà dành cho tôi, trong những ngày tôi sống cạnh bà ở rừng. Bà nói thêm: “Cô đã ngoài sáu mươi, biết không còn làm được gì, cũng chỉ mong đền chút nghĩa làm dân”.

Buổi chiều, bà thường ngồi im lặng nhìn ra sân, nơi cây bách vẫn còn giữ một vệt sáng trên ngọn, trong khi cây cối trong vườn đều đã lắng xuống dần trong bóng tối. Cây bách này cao nhất vùng; xa mấy làng bên kia sông nhìn sang, thấy cái chóp nhọn của nó vút lên khỏi ngàn lá giống như một mũi tên màu xanh, tôi vẫn nhận ra chỗ ở của bà. Bà nói:

- Nhìn cái ngọn nắng trên cây bách mình cứ nhớ những ngày ở trên rừng.

Đúng như vậy. Tôi nhớ lại hồi sống ở hang đá, khi bóng tối đã buông kín thung lũng, bà vẫn ngồi nhìn theo vệt nắng lên cao dần trên những ngọn cây ở đỉnh núi bên kia; nó cứ chói sáng như vậy, tưởng như không xuất phát từ đâu cả, lúc mà mặt trời đã vòng qua phía bên kia trái đất.


Vào hạ, sự chuyển dịch của trời đất như chùng lại trên cây cối; vẻ bay bướm xuân thì đã qua đi, thiên nhiên ổn định hẳn trong mầu lục trầm trầm của lá già. Vườn-lá không đẹp, dù vậy, nó chưa bao giờ làm cho tôi chán mắt; bởi nó toát ra khí mạnh của nhựa cây, và trong những ổ lá rậm rịt kia, các loại trái đang lớn lên dưới sức nóng hun đúc. Hạ chí trở đi, vườn An Hiên vào mùa quả, khởi đầu là mùa thơm: giống thơm Nguyệt Biều vỏ chín đỏ như lửa cắt ra từng lát tròn to vừa lòng cái dĩa bàn, vàng rệu mầu mật ong, tưởng chừng có cô gái nào đó ở trong cây đã làm sẵn hoàn chỉnh một chiếc bánh kem sinh nhật. Dâu chín vào tháng năm, tháng sáu. Cây dâu Truồi ở vườn bà Lan Hữu rất đẹp, tán lá khum khum úp sát mặt đất kín mít, bên trong rỗng, trái chín vàng hươm từng chuỗi dài đổ úp thành đống quanh gốc cây. Nhìn đống quả đầy ứ như là ai đã hái sẵn đổ ra kia, tôi chợt mỉm cười với một ý nghĩ lạ lùng: giả như đời chẳng còn nhiệm vụ gì, tôi sẽ trải một tấm chiếu nhỏ dưới vòm lá kín đáo kia, nằm đó đọc sách ăn dâu. Suốt mùa hè. Sau vườn, cạnh giếng nước, có một vạt đất trồng mức làm choái cho những loại cây leo: hồ tiêu, thanh long v.v… Cây thanh long đặc sản nổi tiếng vùng Nha Trang, có lẽ là giống cây hiền lành nhất trong vườn: thân nhánh dài ngoằng nằm ún đống trên chạc cây mức trông như một đống dây chão; trồng một lần rồi chẳng bao giờ cần ngó lại, nó sống như một vật bỏ quên sau vườn, đến mùa lại cho con người hoa trái. Cây xấu xí mà hoa đẹp thế, hoàn toàn giống hoa quỳnh, cũng nở và tàn trong một đêm nên nhiều khi muốn ngắm hoa, bà Lan Hữu đã phải thắp đèn ra vườn lúc nửa đêm. Trái Thanh Long màu cánh sen chín vào những ngày nóng nhất của mùa hè, ruột trong như bột lọc, làm mát và khỏe người; ấy là món quà hảo tâm của thiên nhiên dành cho người làm vườn. Cuối hạ, mỗi hoàng hôn, lũ dơi lại xuất hiện, đảo liệng khắp vườn rồi chui vào những vòm lá tối, nơi đó tỏa ra mùi vải chín. Hè năm ngoái, tôi về huyện Nam Thanh, Hải Hưng; miền quê cây trái hào hiệp, mời khách ăn vải thiều không tiếc của, cứ đổ luôn trên mặt bàn thành đống cao như khoai như ngô. Giống trái quý này xưa kia dùng để tiến nạp cho vua ăn, bây giờ chúng tôi được đãi theo lối xả láng, ăn đến no bụng. Giống vải thiều Hưng Yên đưa vào Huế vẫn giữ được phẩm chất của nó, quả lớn hạt nhỏ cùi trắng nõn trông như một miếng mỡ, thơm và ngọt lịm. Vườn An Hiên còn có mấy cây vải Phụng Tiên, giống vải Huế quả lớn hơn quả nhãn một chút, hạt bé bằng hạt tiêu, hương vị không kém vải thiều sứ Bắc. Giống vải trang này được xếp vào dòng quí tộc, xưa chỉ trồng nơi cung cấm; bà Lan Hữu xin lại từ vườn của một viên thái giám. Đối ứng với mấy cây vải thiều miền Bắc, góc vườn bên kia có hai cây sầu riêng Lái Thiêu; bà Lan Hữu mang về trồng đã hai mươi năm, cách đây vài năm mới cho mùa quả đầu, trái to múi thơm không khác trái vườn trong Nam.

Càng vào thu, khu vườn càng hiện ra trong vẻ đẹp của trái, càng gợi cho người đi dạo vườn cái cảm giác khinh khoái của một phòng trưng bày tranh tĩnh vật. Cam và thanh trà làm khu vườn nặng trĩu xuống khác với dạo đầu mùa hạ; và đến cuối tháng tám, những cây thị nhung chi chít những quả đỏ. Loại thị này, giống như quả táo tây, cũng là một loại cây trái lạ, do mấy ông cố đạo mang đến từ một xứ nhiệt đới xa xôi nào đó. Cuối vụ thu là mùa hái hồng. Mấy cây hồng này già tuổi nhất trong vườn, vốn là quà tặng của cụ Nghè Mai - chắt nội cụ Nguyễn Du - tặng cho chồng bà Lan Hữu ngày mới lập vườn. Hồng Tiên Điền là giống của quê hương Nghệ Tĩnh ngàn vạn trái không có một hạt, trái chín lụn, đài vẫn dính chặt vỏ, không bị tróc mất như các loại hồng thường. Sau mùa trái nó trút hết lá, cây cỗi cành trơ, nhìn cứ tưởng là nó đã chết khô. Qua tiết đông, thoắt cái nó nẩy lộ chi chít, mươi hôm sau lá đã phủ kín cây; lá hồng tròn dày, xanh bóng, nhạy cảm với từng tia nắng, sáng trưng lên trong niềm vui phục sinh của mùa xuân. Tháng hai hồng ra hoa, trong lòng mỗi đóa hoa xanh biếc đã kết một trái non. Từ đó đến lúc chín, trái non rụng dần, rụng như một hành động tự đào thải tàn nhẫn. Mỗi ngày bà Lan Hữu vẫn đi nhặt trái rụng, thản nhiên trong cái triết lý nhân hậu của bà:

- Nếu trái nào cũng đậu thì cây mẹ sẽ chết, vì làm sao nó nuôi nổi chừng ấy con. Nhờ trái rụng bớt như vậy mà cây hồng còn sống được. Cái cây hồng này, thật tội. Nó cho mình trái suốt bốn mươi năm, không mùa nào quên. Biết sống với nó, nó có thể nuôi mình bằng bát cơm trong sạch…

Bà nói tiếp:

- Người làm vườn xưa có tục tạ ơn cây. Cuối năm có cái lễ nhỏ, có hột nổ, pháo và ít giấy vàng bạc dán vào gốc cây. Không phải thờ cúng thần thánh, chỉ là mình đã nhận của nó nhiều thì trả lại cho nó chút ít. Bây giờ không ai làm như thế nhưng con người biết ơn cây là phải.

Giọng nói của bà chân thành, cảm động, như thể là bà đang nói về một vị tiền bối xa xôi; lòng biết ơn đối với cây trái ở nơi bà mang một nét nhân hậu thật là dân gian. Bất cứ tuổi ấu thơ nào ở Huế cũng để vọng lại trong đời người một chút gì của cái lẽ nhân hậu ấy. Tôi còn nhớ trong chuyện vè Mã phụng, cô bé Xuân Hương dắt cha ăn mày, nằm ngủ gốc đa nơi quán chợ, lớn lên lấy chồng đậu trạng; trước khi bước vào cõi đời sung sướng, cô đã đề thơ trả nghĩa cây đa: “Nhờ ơn bóng cả với cây cao - mười mấy năm trời nặng xiết bao…”

Hết mùa hồng, vườn cũng hết trái. Cây cỏ tiêu sơ dần trong thu tàn, với lụt lội và những cơn bão. Hàng mai trắng đã trút sạch lá, cành khô vẽ lên khung cảnh trầm mặc kỳ lạ của tranh lụa cổ. Chỉ giống cỏ: tường lan, tưởng đã chết tiệt mất trong nắng cháy mùa hè, sau vài cơn mưa lại rộ lên xanh um, hoa từng cụm hồng chen chúc ven lối đi, ríu rít, hớn hở, trẻ dại. Mùa đông về, dằng dặc trong tiếng động nghìn trùng của mưa trên lá. Tưởng không còn gì để trông ngóng ở khu vườn trước lúc sang xuân, thì đến tháng mười một, măng cụt chín, như một mùa quả vui đột xuất cuối năm. Đây là mùa thu hoạch chính của những khu vườn vùng Kim Long. Trái măng khi sắp chín, trên vỏ mầu lục hiện ra những vết lấm chấm đỏ, giống như vết son phê trên bài văn hay ngày xưa. Vì thế ở Huế, người ta gọi măng cụt là trái giáng châu, châu là son, ý khen quả măng như một bài thơ hay của mùa đông. Quả măng chín mầu tím sẫm, ở rốn quả nổi lên một hình hoa nhỏ, nhìn hoa có bao nhiêu cánh thì biết bên trong có bấy nhiêu múi. Hình như nó chẳng có tác dụng gì cả ngoài việc khiến người ta ưa nhìn đến nó, giống như hạt cúc giả trên áo phụ nữ; bà Lan Hữu tạm giải thích rằng đó là cái bản năng tự trang sức của thiên nhiên ở nơi cây măng cụt. Riêng tôi vẫn thấy một điều lạ chưa giải đáp được về cây măng ở Huế; thứ quả có vỏ dầy cộp kia, chỉ quen được hấp chín bằng nắng nóng phương Nam, sao chịu về đây để chín bằng mưa dầm gió bấc, sao chín được bằng sức đông lạnh của Huế? Dù sao, nhờ có mùa măng, vườn An Hiên vẫn giữ được phong độ qua buổi vạn vật tàn phai. Để đến một buổi sáng nào đó, hàng mai trước cổng bỗng nở trăm nghìn đóa hoa trắng trong sương mù, như cảnh tuyết, đẹp đến bồi hồi. Ấy là tiết đông chí, khí dương hòa trở lại. Từ trong đêm lạnh, khu vườn bước ra với một sắc đẹp tinh khôi, với mai vàng, hải đường, nguyệt quế, hoa trà mi ngậm sương và hoa đào cười gió đông. Mặt đất bừng tỉnh, chia sẻ cho con người niềm hy vọng không bao giờ cũ, không bao giờ nguôi, không bao giờ run sợ trước thời gian.

Một buổi chiều mùa hè, tôi theo bà Lan Hữu dạo thong thả qua khu vườn lãng đãng khói lam mờ. Khói đốt cỏ và lá khô. Vườn mùa hạ thường vẫn mơ màng trong sắc khói lam ấy, và cái mùi hăng hắc của cỏ cháy thật gợi nhớ làng mạc. Bà ngồi xuống phiến đá dưới cây bách, nói với tôi câu chuyện về vườn tược:

- Cây cối nhìn thì bình yên vậy chớ cuộc cạnh tranh sinh tồn giữa tạo vật luôn luôn căng thẳng. Trên không, chúng tranh nhau ánh sáng đã đành. Nhưng cuộc tranh sống dưới mặt đất cũng ác liệt lắm. Cô làm vườn mới biết điều ấy. Cuốc đất lên là thấy ngay, chỗ nào có phân thì rễ bàng tụ lại chi chít, dày đặc như ổ giun, trông thật ghê sợ. Dừa chuối tranh ăn dữ lắm. Thanh trà, vải là giống quý, nhưng rễ bàng rất ghê gớm, cây gì trồng xung quanh nó đều không sống nổi. Vườn cô trồng măng cụt là chủ yếu, vì cây măng mọc rễ đột, đâm sâu xuống đất, ít làm hại cây khác. Để giải quyết việc tranh ăn của cây, chỉ có cách bón thực nhiều phân. Phân chuồng chỉ trồng cây nhỏ, còn cây lớn biết bao nhiêu cho xiết. Toóc rạ là tốt, phải rải kín vườn, nhưng bây giờ rạ cũng đắt, người ta dùng để đun bếp.

Tôi ngắt lời bà:

- Huế thường năm nào cũng lụt. Liệu đất phù sa có đem lại một nguồn bồi dưỡng nào đáng kể cho cây cối không?

Bà lắc đầu:

- Đó là ở miền hạ ban. Làng vườn đây gần thượng lưu, lụt tới là chở theo đất sét, vì đất sét nặng nên lắng xuống trước. Lụt năm 77, vườn này bị đất sét phủ kín, có chỗ dày đến năm tấc, phải tốn bao nhiêu công đào bốc, đổ trả xuống sông.

Bà nói tiếp:

- Phân mới là một chuyện. Vườn còn có rất nhiều kẻ thù. Bọ xít, bọ rầy, đủ loại. Tệ nhất là tầm gởi. Vườn này bỏ đi vài năm là tàn lụi, vì gởi dữ lắm. Gởi từng chùm to, sanh bông, bông có nhựa, bay đến đâu là dính vào đó. Nó thích bám thanh trà, hồng, dâu, mít, cam, cả cây hoa mộc, gởi cũng không tha. Đó là loại kẻ thù nguy hiểm ở trên không của một khu vườn. Đất trung du có nhiều thứ cỏ, cỏ tranh, cỏ ống, cỏ cú. Trước cứ mỗi năm cô làm cỏ hai lần. Thế không lợi, vì cỏ lên dữ quá. Tốt nhất là cứ thấy cỏ đâu thì làm đấy, làm sớm lúc nó chưa sanh bông, lại đỡ tốn công về sau. Cỏ chiếm đất, nhưng cỏ cũng có ích. Cỏ cú, ngải cứu là thuốc, me đất, rau dền, rau sam là rau ăn hàng ngày. Người làm vườn giỏi phải biết phân biệt, không được cuốc ngang tất cả. Tưới cây là việc thứ ba. Vùng này giếng sâu lắm, phải gánh từng đôi dưới sông lên để tưới cây. Có làm vườn mới biết trông mưa. Như Huế vừa rồi sáu tháng không có hột mưa; một cơn mưa bây giờ khắp làng này là đánh giá hàng triệu bạc. Nhất nước nhì phân tam cần, tứ giống, câu đó đã có từ xưa. Mình đây bây giờ cái gì cũng thiếu. Con mắt thường nhìn hoa thì khen hoa đẹp, nhìn trái thì gọi là hoa lợi. Nhưng nhìn bằng con mắt kinh tế, thì để duy trì được khu vườn, không phải là chuyện đơn giản. Người Huế mình trồng vườn, ngoài hoa lợi vật chất, còn coi trọng nguồn hoa lợi tinh thần do cây cối đem lại.

Bà đứng lên, đi tản bộ vòng quanh cái hồ trồng hoa súng giữa sân. Những bông súng nhiều màu, vàng, trắng, hồng, lá từng phiến tròn trải sát mặt nước, phong cách của hoa súng cũng lạ: giống như lá, nó không rời khỏi mặt nước, nở ra khép lại vài lần là hết; người ta không nhìn thấy nó tàn và rã cánh dần như hoa sen, nó lún xuống, trốn vào trong nước và biến mất.

Bà Lan Hữu mỉm cười, nói tiếp:

- Người Huế xưa, tuổi năm mươi trở lên là muốn quay về nơi cây cối để tìm bạn; những người bạn nhân ái, không lôi thôi, không làm mệt mình bao giờ.

Bà Lan Hữu không phải là kẻ bi quan về con người, tôi không nhầm lẫn về tính cách của bà. Câu nói của bà, tôi hiểu, chỉ bộc lộ ở tâm hồn bà một tình bạn sâu xa, giống như tâm hồn của lão nông gắn bó với mảnh đất của mình. Hàng năm, mùa xuân bà trồng thêm cây mùa hạ làm cỏ đốt lá, mùa thu hái quả, mùa đông đọc sách hái măng, trong niềm vui thầm lặng chờ xuân đến. Giữa những ngày tháng, với bà, còn là nỗi trông mưa trông nắng, cuộc đương đầu với gió bão và các loài ký sinh, nỗi ân hận của người bảo vệ khi cây chết, niềm vui sinh nở của người mẹ trước chùm trái đầu mùa. Con người lịch sử và văn hoá tồn tại ở nơi bà hình như luôn luôn đòi chuyển hơi thở của mình qua các mạch gỗ của cây cối đến tận gốc rễ, để được cắm đời mình sâu bền trong Đất.

Cho đến nay, dải đất ven sông Hương từ cầu Bạch Hổ lên chùa Thiên Mụ vẫn ấp ủ trong những vườn tược của nó, dáng dấp văn hoá của một trung tâm đô thị Việt Nam cổ. Chính trên mảnh đất này, thành phố Huế đã ra đời từ năm đó - năm 1636 - và Kim Long trở thành thủ phủ nổi tiếng của Đàng Trong trong suốt năm mươi năm tiếp theo. Cuộc sống phồn vinh, văn vẻ của mảnh đất Thuận Hóa trong thời kỳ này đã được phản ánh một cách khá đầy đủ trong nhiều sách vở để làm, tưởng không không cần nhắc lại làm gì. Điều thú vị đối với tôi khi đọc lại, ấy là khi họ đến đây, nhiều người nước ngoài đều ngạc nhiên nhận xét rằng phụ nữ Kim Long ăn mặc rất đẹp; lý do là nghề dệt gấm thêu hoa đang thịnh hành khắp các phường thợ ven sông Hương. Có lẽ phụ nữ Huế giỏi thêu thùa, biết mặc đẹp, bắt đầu từ cái thời xa xôi ấy. Nên không lạ gì, một người khách du đã đi nhiều nơi trên thế giới hồi ấy là cố đạo A-lec-xăng đơ Rốt, khi viết về “Kehue” (Kẻ Huế) đã nhắc lại nhiều lần rằng đây là một “thành phố lớn” (cette grande ville).

Trước thời các chúa Nguyễn đến cắm đô ở đây, vùng trung du ven sông Hương này đã xuất hiện những thôn hoa xanh biếc rậm rạp, dân cư sống bằng nghề vườn đã lâu đời. Sau này, như đã nhấn mạnh trong các hồi ký về thành phố Kim Long thời ấy, thì các công thự cũng như nhà riêng, đều được xây cất giữa những khu vườn xanh tươi, đầy các thứ cây quý hoa lạ sưu tầm từ khắp xứ mang về. Đến lượt Phú Xuân, khi đã trở thành kinh đô của cả một đất nước sôi động những chiến công, dưới thời Nguyễn Huệ, Phú Xuân vẫn giữ riêng một phong thái yên tĩnh đầy chất thơ điền dã. Tôi rất cảm mến bà Lê Ngọc Hân, nàng công chúa đất Thăng Long vào đây làm hoàng hậu, để trở nên một nhà thơ Huế. Vâng, phải là Huế biết mấy mới nhìn thấy được điều này: “Sương mù sắc tím nồng đượm mà hương thơm nức phòng the” (3). Ôi, tình yêu của bà, cuộc đời của bà, bão táp mà thanh tĩnh biết bao nhiêu! Nhà thơ và người anh hùng đã xa khuất, không để lại mộ chí, riêng còn trong câu thơ một nét mặt thành phố trong sáng muôn đời.

Ngoại ô Huế trước nay vẫn là nơi của trí thức, nghệ sĩ. Đời này sang đời khác vừa trồng cây vừa đọc sách, làng vườn Huế hàm dưỡng một nếp sống văn hoá thâm hậu. Kim Long xưa là xứ Hà Khê nổi tiếng văn học; trải mấy trăm năm, mãi đến đời Thiệu Trị, trường học, trường thi quốc gia đều tập trung trên hai bờ sông Hương quãng này. Lê Quí Đôn đã làm thơ, viết sách ở đây, ngày nhàn vẫn “nhẹ áo, lỏng đai, tiêu dao ở khoảng Hà Khê Thiên Mụ”. Dân làng Xuân Hòa quí mến nhà bác học, thờ ông làm bản thố, hàng năm đọc văn tế vẫn nhắc tên “Lê Quí Công”, còn đắp ngôi mộ giả hương khói đến bây giờ. Thuở ấy, sinh viên Quốc Tử Giám và sĩ tử về kinh vẫn ăn ở lâu dài tại vùng này, trọ học trong nhà dân. Mùa thi dọc sông Hương nổi lên một dãy phố thuyền, và dọc đường san sát mọc lên những quán xá. Đây là một loại quán đặc biệt, ngày thường ít thấy. Chủ quán là những trí thức lỡ vận, phần nhiều là những thầy đồ Nghệ lều chỏng mỏi mệt không muốn trở về quê cũ, ở lại kinh bốc thuốc, dạy học, cưới vợ, làm vườn; trí tuệ uyên bác, tính khí cương trực, nhân kỳ thi thường mở quán để có cơ hội giao du với kẻ sĩ bốn phương. Loại chủ quán thứ hai là những cô gái có nhan sắc, có ăn học, ra ngồi quán để kén chồng giữa đám thiên hạ tài hoa. Chính là cái quán “ẩn tàng kinh luân” mà Lục Vân Tiên đã lạ lùng lúc ghé vào; ông chủ quán bừng bừng nhân nghĩa, và cả nàng Kiều Nguyệt Nga có “cha làm tri phủ ở miền Hà Khê” kia nữa, tất cả cái xã hội chính, tà chung quanh quãng đời thư sinh của Nguyễn Đình Chiểu đều đã có mặt ở Kim Long thời ấy. Cũng từng lui tới nơi những quán rượu phê phán thời đại kia, cái bóng dáng đơn độc phẫn nộ của Cao Bá Quát. Nhà thơ đã trải mười năm giao du để đi tìm một thanh gươm cổ (4) và cuối cùng, ký thác với sông Hương cái khát vọng lớn về một “lưỡi kiếm dựng trời xanh”(5). Bến đò Trường Thi ngày xưa nay là bãi khoai ngô hợp tác, khu quán chợ nơi Lục Vân Tiên và Cao Bá Quát từng ngồi, bây giờ tĩnh mịch một ngôi chùa cổ, còn nền Quốc Tử Giám và cả khu hoa viên của Lê Văn Duyệt đã lặn dưới cây trái trong vườn dân. Nhưng mà nếp nhà cũ vẫn còn; cái liêu ở chái trên có vách gỗ, chắn song nhìn ra vườn, nơi mỗi nhà là chốn đèn sách nối đời. An Hiên… Dưới những mái hiên yên tĩnh kia, đã nẩy mầm kết trái bao nhiêu điều không ai biết, trong lý tưởng nhân đạo của Nguyễn Du, trong cái chính khí nổi giận của Cao Bá Quát, trong mộng kinh bang của Nguyễn Công Trứ và Lòng Đạo của Nguyễn Đình Chiểu. Còn những nhân vật trường ốc cũ, qua cuộc đổi dời đã trở thành những người dân làng, biết trồng cây, biết đọc sách và biết sống giữ lề.

Suốt ba trăm năm mươi năm xây dựng, Huế đã dời chỗ theo một vệt dài chừng năm cây số dọc sông Hương, để lại đàng sau nó bản phác thảo đầu tiên của cái mô hình thành phố vườn bây giờ. Lịch sử đổi thay, con người đi qua, nhưng những thành phố còn lại. Để trả lời cho các thế hệ tương lai về những kinh nghiệm sống làm giàu có thêm nhân loại.

Một buổi trưa nắng gắt, bà Lan Hữu vừa đi đâu về, mặc áo lụa dài, chiếc quạt giấy xòe ra trong tay. Tôi gặp bà đứng trước cổng An Hiên, nhìn đăm đăm ra dòng sông. Sông Hương triều lên đang cồn những đợt sóng lớn xô nhau về phía núi; và ở quãng xa, nó trôi đi mịt mùng trong khói nắng. Tự nhiên bà Lan Hữu nói thầm nửa giọng, như chỉ để cho mình nghe:

- Thuở Huyền Trân công chúa qua đây, chắc sông cũng xanh như vậy…

Ít khi tôi nghe một câu nói lạ như thế ở bà. Chợt nhiên, nó động tới trong tôi một nỗi gì thẳm sâu, không nói được. Vâng, thuở ấy sông đã xanh như bây giờ, như đã xanh từ thuở Việt Thường. Tôi là người thư sinh đất Thăng Long theo đám cưới Huyền Trân qua đây giữa một ngày dòng sông bồi hồi son phấn kinh thành. Thuở ấy, dòng sông Châu Hóa còn hoang dại, chim nhạn đậu đầy bãi, hoa tầm xuân mọc chen với cỏ lau, chính là hoa tường vi thơm ngát những khu vườn bây giờ. Tôi qua đây, yêu mến dòng sông nên ở lại, dẫy cỏ, lật đá, trồng cây từ buổi ấy. Sáu, bảy trăm năm trôi qua, mỗi tấc đất khát bỏng này đã uống biết bao nhiêu mồ hôi và máu. Tôi nhìn ra ở nơi mỗi con người quanh tôi trĩu nặng một nỗi lòng thương cây nhớ cội, và nét điềm tĩnh của mảnh đất mà họ đã cày cuốc và gieo hạt.

Huế, tiết Mưa Ngâu 1983
HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG
 (3/10-83)
Nguồn: Sông Hương

___________

1. Thám Hoa: người đỗ thứ ba trong hàng tiến sĩ xưa. Lệ xưa, những người đỗ cao trong kỳ thi tiến sĩ thì được vua ban yến và được đi xem hoa ở Ngự Uyển.
2. Hoa hòe nở vàng, người đi thi lòng xôn xao.
3. Lê Ngọc Hân - Biểu mừng thọ vua Quang Trung 40 tuổi.
4. Thập tải luân giao cầu cổ kiếm (thơ Cao Bá Quát).
5. Trường Giang như kiếm lập thanh thiên.


TIN LIÊN QUAN:





Nhà văn Thùy Dương: Trăn trở với mỗi thân phận Người

Nếu không biết Thùy Dương sinh ra và lớn lên ở Hải Dương, sẽ đoán   chắc nàng là người Hà Nội gốc. Gọi là nàng v ì nàng không chỉ xinh đẹp, ...