Thứ Năm, 29 tháng 11, 2018

Khai ngộ với thiên nhiên: Bashô và Octavio Paz

(Awakening to the nature)

Bây giờ, trong thời đại phê bình sinh thái (ecocritical age), đọc lại thơ Bashô, ta cảm thấy như đang thở hít trong một sinh quyển đầy mê diệu. Đó là thứ thơ ca đưa ta vào sâu thẳm thiên nhiên. Không chỉ là thiên nhiên. Đó còn là tâm linh sinh thái, nơi mọi thứ luôn luôn sáng tạo và chuyển hóa, nơi mọi sinh linh bước đi trong ánh sáng của bình đẳng và vô sai biệt, không có chủ nhân và sở hữu chủ, nơi mọi thứ phản chiếu nhau như những hạt châu.
Thi hào Bashô của Nhật Bản

Là nhà thơ, Bashô cảm thấy mình có quyền kêu gọi mọi người trở thành “người bạn của bốn mùa” và “quay về với tạo hóa” để gặp gỡ cái mê diệu và sáng tạo cái mê diệu. Hướng theo con đường thơ ca sâu thẳm của Bashô là tạo nên khả thể cho cuộc “tái mê diệu hiện thực của thế giới này” (a realistic reenchantment of the world)(1), nói theo Patrick H. Dust.

Lắng nghe Matsuo Bashô là lắng nghe những vần thơ của hơn ba thế kỷ trước. Đọc Bashô giữa thế kỷ hai mươi, Octavio Paz, nhà thơ lớn Mexico cho rằng kiệt tác Con đường sâu thẳm (Oku no hosomichi) là cuộc hành hương tâm linh (a spiritual pilgrimage) khi ông tham gia chuyển ngữ nó sang tiếng Tây Ban Nha(2). Bản thân Paz cũng từng sáng tác thơ theo thể renga và haiku (liên ca và haiku) trong phong cách hội tụ và hiện đại.

Cũng như Bashô, thơ Octavio Paz thể hiện hành trình tâm linh và cái đồng cảm vũ trụ rất gần tinh thần “thiên nhân tương cảm” của Đông phương mà ông rất quen thuộc. “Tương cảm và tương ứng chỉ là cách gọi cho nhịp điệu vũ trụ”, Paz đã nói như thế (3). Sự tương cảm đó có thể xem là mặc khải thơ ca (Poetic revelation) một thứ mặc khải không cần tới một quyền lực siêu hình nào, “đó là mặc khải về chính mình mà con người tạo ra cho mình” (4). Đó là mặc khải với thiên nhiên. Vì hiền minh thơ ca cũng là hiền minh thiên nhiên (natural wisdom).

Đó là khi thơ ca học cách sáng tạo và chuyển hóa của bốn mùa, của tứ đại (đất, nước, gió, lửa) trong tĩnh lặng cũng như trong khi đối diện với sự tàn phá thiên nhiên:

“Phản chiếu cái tương thân vũ trụ, thơ ca là biểu tượng của những gì xã hội con người cần hướng tới. Trong khi đối mặt với tàn phá thiên nhiên, thơ ca cống hiến bằng chứng sống động về cái tương thân của các vì sao và các phân tử, của hóa học và ý thức… mỗi bài thơ là một bài học thực tiễn trong hài hòa và tương hợp… Bài thơ hình thành qua cái tương thân của các yếu tố, hình thức và tạo vật của vũ trụ là biểu tượng cho sự tồn sinh trên đời…

Sinh ra từ tưởng tượng của con người, thơ ca có thể chết đi nếu tưởng tượng chết đi hay tàn bại. Nếu con người quên lãng thơ ca, họ lãng quên chính mình, niềm lãng quên con người. Và quay về với hỗn mang nguyên thủy”(5). Paz đã nói như thế.

Và như thế, Paz từ cái nhìn hiện đại, Paz đã vô hình trung kế tục và phóng mở tư tưởng Bashô. Chống lại sự lãng quên thơ ca và lãng quên thiên nhiên, thi hào Nhật Bản kêu gọi “làm bạn với bốn mùa” và “đón nhận thiên nhiên, quay về với tạo hóa”.

Khi lang thang từ Edo đến bờ biển Suma, Bashô tự thấy mình như là một hành giả lang thang theo gió, tựa hồ tấm lụa tả tơi phiêu lãng. Đó là ông tự xếp mình vào hàng ngũ những tâm hồn phong nhã (fuga: phong nhã, hồn thơ, bản thân nghệ thuật thơ ca) như Saigyô của thơ tanka, Sesshu của hội ca, Rikyu của trà đạo và Sôgi của thơ renga. Cảm nghiệm đó Bashô ghi lại trong tác phẩm Oi no kobun (Cập chi tiểu văn: Ghi chép nhỏ trong túi hành hương):

“Một linh hồn đã hoạt hóa tất cả tác phẩm của những người này. Đó là tâm hồn của fuga (phong nhã), kẻ nào ấp ủ nó đều đón nhận thiên nhiên và trở nên người bạn của bốn mùa. Nhìn thấy gì, người ấy đều nhớ đến hoa; nghĩ điều chi người ấy cũng liên tưởng tới trăng. Nếu nhìn vật mà không nhớ hoa là kẻ man rợ, nếu tư tưởng mà không quay về trăng thì có khác chi loài thú. Thế nên tôi kêu gọi: Hãy vượt qua man rợ mà đón nhận tạo hóa, quay về với tạo hóa.”

Đoạn văn lộng lẫy mà uyên áo này cho thấy cái nhìn hiền minh của Bashô về thiên nhiên. Thiên nhiên không đối lập với văn hóa. Chính vì có văn hóa, có nghệ thuật, có hồn thơ (phong nhã) thì con người mới là bạn tình của thiên nhiên. Hơn nữa, tư tưởng Bashô còn sâu hơn những gì mà trích dịch bất toàn trên cho thấy.

Cái tưởng tượng thơ ca của Paz có khác gì với tâm hồn phong nhã của Bashô. Tưởng tượng ấy chết đi thì cũng là phong nhã chết đi.

Kẻ man rợ của Bashô thì khác gì niềm quên lãng con người của Paz.
Cái tương thân vũ trụ của Paz cũng rất gần với bạn bốn mùa của Bashô.

Khỏi phải nói, cả hai nhà thơ lớn đều ca ngợi cái thiên nhân tương cảm, cái sáng tạo và chuyển hóa thể hiện trong con người và thiên nhiên.

Cả hai đều hướng tới sự tồn sinh của con người trong nhịp điệu thiên nhiên, cái không khác với nhịp điệu thơ ca.

Để nói về tính sáng tạo của thiên nhiên, Bashô thường dùng từ zôka (tạo hóa). Cho nên ông nói “quay về với tạo hóa”, tức là quay về với cái huyền diệu của vũ trụ.

Trong kiệt tác Con đường sâu thẳm (Oku no hosomichi), đến thăm Matsushima (Tùng Đảo) tuyệt đẹp, Bashô đã viết: “Tạo hóa thiên công, có bút mực nào, lời thơ nào vẽ nổi và tả xiết đây?”(6).

“Tạo hóa thiên công” (zôka no tenkô) chính là tính sáng tạo huyền diệu mà Bashô muốn bắt chước trong thơ, muốn quay về với cái đó, chơi với nó (zôka zuijun: tạo hóa tùy thuận).

Cũng như thế, Octavio Paz cho rằng thiên nhiên là ngôn ngữ, là thơ ca. Mở ra ngôn ngữ chính là trở về với thiên nhiên (es volver a la naturaleza). Nhưng thiên nhiên ở đây không phải là vật chất hay tâm linh mà là năng lượng, là từ trường, rất gần ý nghĩa sinh thái. “Chúng ta ra khỏi thiên nhiên và trở về với nó” là điều ông nhận thấy khi đọc Lévi-Strauss.

Paz cho rằng vũ trụ có từ tính, là từ trường hóa. Vũ trụ là “một loại nhịp điệu đan dệt thời gian và không gian”.

Đứng trước thiên nhiên và vũ trụ mê diệu như thế, hơn ai hết các nhà thơ muốn cuộc tồn sinh của con người yêu thương nó, kết một khối tình với nó. Như Hồ Xuân Hương cho thấy trong bài thơ tuyệt diệu Đá Ông Chồng Bà Chồng:

Khéo khéo bày trò tạo hóa công
Ông Chồng đã vậy lại Bà Chng
Gan nghĩa giãi ra cùng nhật nguyệt
Khối tình cọ mãi với non sông.

Trò chơi của Tạo hóa thiên công, trò chơi của từ trường mà các nhà thơ nói ở đây là cái kỳ diệu, huyền bí, tinh tế, thiện xảo, công phu, tài hoa, ẩn tú trong sáng tạo và chuyển hóa của tự nhiên.

Trở về ở đây là về với cái linh thiêng của sáng tạo chứ không phải về với đồng quê hay chốn lâm tuyền để hái cúc, trồng lan ở ẩn mà nêu cao tư cách “quân tử”.

Bashô và các nhà thơ chỉ muốn học cái cách mà thiên nhiên hay sinh thái đã sáng tạo. Như Goethe ở Đức đã nói: “Tác phẩm vĩ đại của Nghệ thuật là tác phẩm vĩ đại của Thiên nhiên”.

Thơ ca và nghệ thuật không phản ánh thiên nhiên mà là vận động trong tinh thần sáng tạo của thiên nhiên. Họa sĩ kỳ tài Paul Klee trong thế kỷ hai mươi trong tinh thần đó mà nói với một người bạn đang dạy nghệ thuật:

“Hãy dẫn sinh viên đến Thiên nhiên, vào trong Thiên nhiên! Để họ học cảm nghiệm một nụ hoa hiện thành thế nào, một cái cây mọc thế nào, một con bướm mở cánh thế nào, làm sao cho các bạn ấy sẽ trở nên phong phú, biến đổi, hào hứng như bản thân Thiên nhiên. Đón nhận đường lối sáng tạo tự nhiên mà biến tạo hình thức. Đó là trường học tuyệt nhất.”

Đối với Bashô, Paz cũng như họa sĩ Klee, phải là văn hóa, phải là thơ ca nghệ thuật mới có thể là thiên nhiên, rất khác với quan niệm nhị đối thường có giữa thiên nhiên và văn hóa, cũng như thiên nhiên và con người.

Phê bình sinh thái đương nhiên đồng tình với những nghệ sĩ thượng thặng ấy và dị ứng với loại tư tưởng “làm chủ và sở hữu thiên nhiên” kiểu Descartes.

Con người dường như không muốn hiểu rằng Thiên nhiên làm ra con người chứ làm gì có con người làm ra Thiên nhiên. Và chỉ có thể con người cần Thiên nhiên chứ Thiên nhiên cần chi con người.

Trong thiên nhiên, vai trò của con người không phải là chủ nhân. Đó phải là người bạn như Bashô đòi hỏi, “bạn của bốn mùa”. Đó phải là người tình, như Paz gợi ý.

Tương quan với thiên nhiên như thế có thể là một tương quan mật thiết, sắc dục hay từ tính (a magnetic relationship) nghĩa là thu hút nhau, mơn trớn nhau và có thể xuyên thấm nhau.

Như bài haiku của Bashô về đầm Kisagata:

                Đầm Kisagata
                Nàng Tây Thi nằm ngủ
                Hoa buồn ngủ trong mưa.

                                (Kisagata ya
                                ame ni Seishi ga
                                nebu no hana).

Dưới mưa, đầm Kisagata, nàng Tây Thi và hoa buồn ngủ (hoa hợp hoan) như cùng nhau thiếp ngủ. Cảnh ấy “ngập đầy đôi mắt” nhà thơ, mơn trớn nhà thơ.

Và khổ thơ về quẻ Hằng của Paz:

                Như rừng nằm trong giường lá
                Em nằm ngủ trong giường mưa
                Em hát ca trong giường gió
                Em hôn trong giường những tia lửa ngời.

                                (Como el bosque en su lecho de hojas
                                tú duermes en tu lecho de lluvia
                                tú cantas en tu lecho de viento
                                tú besas en tu lecho de chispas)

Nhà thơ Paz muốn “sờ nắn bằng tư tưởng và suy tư bằng thân xác” và vần thơ trên cho thấy điều đó. Nằm ngủ, hát ca và hôn trong mưa, trong gió, trong lửa. Tư tưởng thật sự biết sờ nắn và thân xác thật sự biết suy tư.

Với Bashô, tiếp xúc và hiểu biết thiên nhiên là nguồn cảm hứng vô tận: “Muốn biết cây tùng, hãy đi tới cây tùng”. Đi tới là tiếp xúc, là mơn trớn, là thâm nhập vào sự vật, vào thiên nhiên. Và cảm nghiệm Nước, Đất, Gió, Lửa bên ngoài ta cũng như bên trong ta.

Nước, cổ mẫu đầu tiên, trải nghiệm đầu đời của ta. Lòng mẹ, máu, sữa, mưa, sông, biển, nước mắt,…

Haiku mùa thu của Bashô:

                Chén trăng đầy
                sóng thơm mùi rượu
                biển xanh say.

                                (Sokai no
                                nami sake kusashi
                                kyo no tsuki)

Trăng có thể được dùng làm chén mà múc rượu từ biển mùa thu ngát hương: rượu tình.

Với Paz, thơ ca là nước, nước chảy tràn.

                Cuối cùng hãy là một Lời…
                một giọt nước trên khao khát môi.
                …
                nước, nước cuối cùng trôi,
                lời của người dành cho người.

                                (Ser al fin una Palabra…
                                un poco de agua en unos labios ávidos.
                                …
                                Agua, agua al fin
                                palabra del hombre para el hombre).

Nước kết nối con người với cội nguồn, con người với con người. Nước là thơ ca, là tình yêu cuộc sống.

Đất thì phong nhiêu, là mẹ đất. Theo Paz, mẹ đất luôn luôn trinh nguyên. Nhưng sinh sản vô tận hoa trái trần gian.

Một bài haiku của Bashô trình bày một cuộc chơi: hoa rụng về cội.

                Xuống đất ư
                cánh hoa về cội rễ
                dường như giã từ.

                                (chi ni taore
                                ne ni yori hana no
                                wakare kana)

Bài thơ thuộc mùa xuân cho dù nói về giã từ và cái chết. Vì hoa lại tan mình vào đất, một lúc nào đó lại tái sinh thành hoa mới trên cây. Cây đã nhập hoa trở lại vào thân mình. Vòng luân hồi của sinh thái là thế.

Đất thì lặng lẽ và cây cũng thế. Paz nói lên cái vô ngôn đó trong một bài haiku của mình:

                Cây tần bì
                đêm qua dường sắp nói
                nhưng rồi không nói ra.

                                (Anoche un fresno
                                a punto de decirme
                                algo -callóse)

Có nhiều cách nói. Và không nói cũng là một cách nói. Do đó ta có thể nghe đất và nghe cây. Không thể nghe bài ca im lặng của đất và cây có thể là một cách mất gốc, không còn là hoa của đất.

Đất có thể kết hợp với trời trong mưa và lúc ấy mọi sinh linh trông khác đi, như một bài haiku của Bashô cho thấy:

                Mưa mùa hạ trôi
                kìa chân chim hạc
                ngắn lên lần hồi.

                                (Samidare ni
                                tsuru no ashi
                                mijikaku nareri).

Chân chim hạc ngắn đi khi nước dâng nhưng nói thế mà không phải. Chim hạc biết rõ chân mình, biết bầu trời và nước, biết mùa hạ và mưa theo cách của nó, theo bản năng sinh thái. Chim hạc đứng một mình nhưng đâu phải một mình. Hiện thời, đất, nước và bầu trời làm ra nó.

Thiên nhiên là một thế giới tương tùy và tùy duyên mà sinh khởi, trong đó bất kỳ một sinh thể nào cũng có mặt trong cái khác trong nguyên lý tương tức (interbeing) không có chi ngoại lệ.

Tư tưởng Phật giáo cũng như hiền minh sinh thái nhìn thấy không có gì là biệt lập, một mình.

Một mình không phải là một mình hiện hữu mà là “một mình với”. Con hạc không bất động. Đứng yên là một cách khác, bay với mưa mùa hạ. Cái đứng yên đó là kết tụ ngàn lần đã bay và ngàn lần sẽ bay.

Trước Bashô, Nguyễn Trãi cũng đã có cái nhìn hiền minh này:

                Lẻ có chim bay cùng cá nhảy
                Mới hay kìa nước nọ hư không.

Nhiều thế kỷ trước, thiền sư Nhật Bản Dôgen cũng đã nói trong Chánh Pháp Nhãn Tạng(Shobogenzo):

“Từ nước, cá làm nên đời sống của mình, và từ trời, chim cũng thế. Đời sống ấy chim cá làm ra. Đồng thời đời sống làm ra chim cá. Bởi thế, cá, nước và đời sống, cả ba sáng tạo lẫn nhau”.

Và hình ảnh cánh hạc biển của Nguyễn Du:

                Hải hạc diệc hội vũ
                Bất dữ thế nhân tri.

                                (Biển xanh cánh hạc múa chơi
                                Cần chi hạc múa cho người đời hay.)

Cái quan trọng là mọi hiện tượng đời sống sáng tạo lẫn nhau, chứ không có ưu quyền đặc lợi cho riêng cái nào. Đất và nước, đất và trời tương phản mà tương hợp.

Như lời trong sách Thái Căn Đàm: “Nếu chân tính của ta có sức mạnh sáng tạo của bản thân Thiên nhiên tạo hóa thì dù cho đi đâu, ta đều thấy cá nhảy và nhạn bay”.

Đất, trời, nước, chim, cá… và ta thở cùng hơi thở, tương tùy, tương duyên, tương hợp, tương tức,…

Đất tự nó là một sinh thể. Con người không chỉ sống trên đất mà còn là đất. Thế nên Paz viết:

                Chỉ có đất
                mà tôi biết và biết tôi.

                                (Única tierra
                                que conozco y me conoce).

Với Octavio Paz, gió được xem là “hơi thở sáng tạo của đời sống. Gió có thể ném ta ra khỏi chính mình hay ném ta vào chính mình”.

Lang thang trong gió thu gió đông, Bashô cảm thấy:

                Xơ xác dãi dầu
                gió xuyên thân xác
                vào tận hồn sâu.

                                (Nozarashi o
                                kokoro ni kaze no
                                shimu mi kana).

Cùng diễn tả hơi thở dữ dội của gió, đến giữa thế kỷ hai mươi, nữ sĩ Setsuko viết:

                Đất trời
                rung chuyển cùng hơi thở
                bày trận tuyết rơi.

                                (ame-tsuchi no
                                iki aite hagheshi
                                yuki furasu).

Gió vừa sáng tạo vừa tàn phá, vừa là sắc vừa là không, vừa đến vừa đi đồng chơi, vừa chơi vừa chết đồng thời.

Gió thổi mây bay. Nhưng chính là gió bay. Yếu tính của gió là bay và bay và nó có thể giải thoát từ đã đến thơ ca ra khỏi trọng lực, như những vần thơ của Paz cho thấy:

                Thế giới cũ của đá
                cất mình lên và bay

                                (El viejo mundo de las piedras
                                se levanta y vuela).
                …
                Ngày mở bàn tay
                bay ra ba áng mây
                và những vần thơ này.

                                (El día abre la mano
                                tres nubes
                                y estas pocas palabras).

Mây bay gió thổi. Nhưng ngày thật sự mở ra với lửa. Với Paz, thơ ca là “ngôn ngữ của lửa” (lenguaje de incendios) và lửa cũng là tâm linh, như có thể thấy qua vần thơ sau đây của ông:

                linh hồn không sống trong hình thể nào,
                nhưng làm cho mọi hình sắc cháy
                với một ngọn lửa bất diệt huyền linh.

                                 (espíritu que no vive en ninguna forma,
                                mas hace arder todas las formas
                                con un secreto fuego indestructible).

Lời thơ của Bashô trong một đêm mùa xuân ẩn giấu một ánh lửa vô hình của nến, của hương và của u huyền:

                Một đêm mùa xuân
                trong góc Phật đường
                bóng ai quỳ mông lung.

                                (Haru no yo ya
                                komoribito yukashi
                                dô no sumi).

Một hình ảnh lửa có thể nhìn thấy trong nước qua bài haiku khác của Bashô:

                Dòng Mogami ấy
                dìm mặt trời đang cháy
                vào trong biển xanh.

                                (Atsuki hi o
                                umi ni iretari
                                Mogamigawa).

Lửa mặt trời vẫn cháy trong dòng sông ấy, trong biển cả ấy và vẫn cháy trong thơ ca, trong đá, trong cỏ, trong gió, trong đất và trong con người.

Thơ ca đã kết buộc thế giới bên ngoài và thế giới bên trong của con người, ôm ấp đất, nước, gió, lửa bằng tình yêu nồng nàn.

Mỗi ngày của chúng ta được kết dệt bằng vũ điệu của các nguyên tố ấy như lời thơ của Paz:

                Những nguyên tố quấn quít nhau
                đan dệt y trang của một ngày chưa biết.

                                (Los elementos enlazados tejen
                                la vestidura de un día desconocido).

Cái ngày chưa biết đó, cái ẩn giấu đó chính là cái mê diệu mà thiên nhiên mặc khải cho thơ ca, sự mặc khải mà Bashô và Paz lắng nghe không ngừng. Lắng nghe hình sắc và lắng nghe cả hư không. Thơ Bashô:

                Từ cành cao
                hư không rơi xuống
                trong vỏ ve sầu (7).

                                (Kozue yori
                                adani ochi keri
                                semi no kara).

NHẬT CHIÊU
Nguồn: NVTPHCM

Chú thích:

(1) Patrick H. Dust, Editor: Ortega y Gasset and the Question of Modernity, The Prisma Institute, Minneapolis, 1989, p.51
(2) Octavio Paz: Covergences, Trans. Helen Lane. HBJ, New York, 1987, p.248
(3) Octavio Paz: Children of the Mire, Trans. Rachel Phillips, Harvard University Press, Cambridge, 1974, p.63.
(4) Octavio Paz: The Bow and the Lyre, Trans. Ruth Simns, McGraw-Hill, New York, 1975, p.121
(5) Octavio Paz: The other voice, Trans. Helen Lane, HBJ, New York, 1992, p.159,160.
(6) Matsuo Bashô: Oku no hosomichi/ The Narrow Road to Oku, Song ngữ Nhật Anh, Trans. Donald Keene, Kodansha, Tokyo, 1996, p.78,79.
(7) Những trích dịch không đánh số trong bài viết chúng tôi thực hiện khi dựa vào các tài liệu sau đây:
- Jason Wilson: Octavio Paz, A study of his poetics, Cambridge University Press, London, 1979
- The Poems of Octavio Paz, Sách song ngữ Tây Ban Nha – Anh, Trans. E. Weinberger, New Directions, 1998
- Octavio Paz, Selected Poem, Sách song ngữ Tây Ban Nha – Anh, Trans. Tomlinson, Penguin Books, 1979
- Bashô The Complete Haiku, Sách song ngữ Nhật – Anh, Trans. Jane Reichhold.


TIN LIÊN QUAN:



Thứ Tư, 28 tháng 11, 2018

Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp: Muối của rừng

     Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp

Sau Tết Nguyên đán một tháng là thời gian thích nhất ở rừng. Cây cối đều nhú lộc non. Rừng xanh ngắt và ẩm ướt. Thiên nhiên vừa trang trọng, vừa tình cảm. Điều ấy một phần là do mưa xuân.

Khoảng thời gian này mà đi trong rừng, chân dẫm lên lớp lá ải mục, hít thở không khí trong lọc, thỉnh thoảng lại được thót mình bởi một giọt nước trên cây rỏ xuống vai trần thì thật tuyệt thú. Tất cả những trò nhố nhăng đê tiện vấp phải hàng ngày hoàn toàn có thể rũ sạch bởi một cú nhảy của con sóc nhỏ trên cành dâu da.

Chính dịp đó ông Diểu đi săn.

Ý nghĩ đi săn nảy sinh khi thằng con học ở nước ngoài gửi về biếu ông khẩu súng hai nòng. Khẩu súng tuyệt vời, nhẹ bỗng, hệt như một thứ đồ chơi, thật nằm mơ cũng không thấy được. Ở tuổi sáu mươi, với khẩu súng mới, đi săn trong rừng vào một ngày xuân kể cũng đáng sống.

Ông Diểu nai nịt, mặc quần áo ấm, đội mũ lông và dận đôi giày cao cổ. Để cho cẩn thận, ông còn mang theo cả nắm xôi nếp. Ông đi men theo suối cạn, cứ thế ngược lên mó nước đầu nguồn. Cách mó nước một dặm là vương quốc của hang động đá vôi.

Ông Diểu rẽ sang lối mòn ngoằn ngoèo đi miết. Chim xanh đầy trên rặng gắm hai bên lối mòn nhưng ông không bắn. Với khẩu súng này mà bắn chim xanh thì thật phí đạn. Chim xanh ông chén chán rồi. Ngon thì ngon nhưng có vị tanh. Nhà ông thiếu gì chim. Chim bồ câu nhà ông có đầy. Đến chỗ ngoặt, ông Diểu giật mình bởi một tiếng soạt trong lùm dẻ gai.

Một chùm dây màu sặc sỡ tung trước mắt ông. Ông nín thở: một đôi gà rừng ton tón lao về phía trước, đầu chúi xuống, kêu quang quác. Ông Diểu rê nòng súng theo. "Bắn sẽ trượt thôi!". Ông nghĩ bụng và ngồi bất động ở trong tư thế như vậy rất lâu. Ông muốn chờ rừng yên tĩnh lại. Đôi gà rừng sẽ nghĩ là chưa gặp người. Như thế tốt cho chúng nó. Cũng tốt cho ông.

Dãy núi đá cao ngất hùng vĩ. Ông Diểu ngắm nhìn để lượng sức mình. Nã được một chú khỉ hoặc chú sơn dương thì thật đã đời. Sơn dương thì khó, ông Diểu biết thế. Giống này bắn được chỉ nhờ ở ngẫu nhiên thôi. Ông Diểu không tin vận may sẽ đến.

Cân nhắc kỹ, ông tính đi men chân núi đá vôi sang rừng dâu da săn khỉ. Chắc ăn hơn mà đỡ tốn sức. Đây là Hoa Quả Sơn, Thủy Liêm Động của thung lũng này.

Ở rừng dâu da, khỉ có hàng bầy. Việc bắn được một chú khỉ với ông không khó. Ông Diểu dừng lại mô đất có cây dây leo. Không biết thứ cây này là thứ cây gì, lá bạc phếch giống như lá nhót, những bông hoa vàng như hoa tai rủ xuống tận đất.

Ông ngồi đấy lặng lẽ quan sát. Cần xem bọn khỉ có ở đây không? Loài thú này khôn tựa người, khi kiếm ăn bao giờ cũng có canh gác. Con gác rất thính. Không thấy nó, đừng có hòng cuộc săn thắng lợi, đừng có hòng bắn được con át chủ bài. Con át chủ bài cũng là khỉ thôi. Nhưng đây là con khỉ của ông, là con ấy chứ không con khác. Vì vậy ông phải chờ, phải có cách thì mới bắn được.

Ông Diểu ngồi im dễ đến nửa giờ. Mưa xuân mỏng và mịn. Thời tiết ấm. Dễ đến rất lâu ông Diểu mới lại có dịp ngồi yên thế này, không nghĩ gì không buồn không vui, không lo lắng, cũng không tính toán. Sự tĩnh lặng bình thản của rừng xuyên suốt qua ông. Ào một cái, từ trong rừng dâu da bỗng như có tiếng quẫy động của một con vật khổng lồ. Ông Diểu biết là con đầu đàn đã đến. Con khỉ này cũng gớm lắm đây. Nó xuất hiện với một nghi lễ vương chủ. Tự tin đến thô bạo. Ông Diểu mỉm cười và chăm chú nhìn.

Sau tiếng động vài phút thì con đầu đàn đến thật. Nó văng mình rất nhanh đến nỗi gần như không có phút nghỉ ở mỗi chặng dừng. Ông Diểu thán phục vì sự nhanh nhẹn dẻo dai của nó. Thoắt một cái, nó biến mất. Một nỗi xót xa khiến ông nhói lòng: số phận của bậc đế vương không trùng với số phận ông. Niềm vui nhen lên từ khi ở nhà ra đi trong ông vơi đi một nửa. Khi con khỉ đầu đàn biến mất thì ào ra một đàn khỉ đến hai chục con từ rất nhiều hướng.

Con vắt vẻo trên cao, con đánh đu ngang cành. Có con lại nhảy xuống đất. Ông Diểu thấy ba con khỉ cứ quấn lấy nhau: con khỉ đực, con khỉ cái và đứa con nó. Ý nghĩ con khỉ đực sẽ là con mồi bám lấy ông Diểu tức thì. Cái thằng bố ô trọc ấy! Đồ phong tình phóng đãng! Vị gia trưởng cộc cằn! Nhà lập pháp bẩn thỉu! Tên bạo chúa khốn nạn! Ông Diểu thấy nóng bừng người. Ông bỏ mũ và áo bông ra đặt dưới lùm cây. Ông để cả nắm cơm xuống đất. Ông từ từ dịch chuyển sang chỗ đất trũng thấp hơn.

Ông nhìn kỹ và thấy con khỉ canh gác là con khỉ cái. Thế là thuận lợi rồi. Bởi giống cái bao giờ cũng dễ phân tâm. Đấy, thấy chưa? Đang canh gác mà đi bắt rận ở người thì còn gì nữa? Với giống cái thì thân thể mình là quan trọng nhất. Điều ấy thật giản dị và đẹp. Nhưng điều ấy lại đầy xót xa...

Ông Diểu tính toán rồi luồn theo hướng ngược gió với con khỉ cái canh gác. Phải tiếp cận đàn khỉ đến hai chục mét thì mới bắn được. Ông bò nhanh và rất khéo léo. Xác định được con mồi rồi là ông chắc chắn thành công. Thiên nhiên đã dành cho ông chứ không ai khác chính con khỉ ấy. Thậm chí ông biết dù ông có đi mạnh chân một chút, gây nên một sự bất cẩn nhố nhăng nào đó cũng chẳng hề gì. Điều ấy tưởng như phi lý mà thật bình thường.

Tuy nghĩ vậy nhưng mà ông Diểu vẫn cứ tiếp cận đàn khỉ một cách thận trọng. Ông biết thiên nhiên đầy rẫy bất ngờ. Thận trọng chẳng bao giờ thừa. Ông Diểu tỳ súng vào một chạc cây. Cái bộ ba trong gia đình khỉ không hề biết rằng tai họa đến gần. Con khỉ bố vắt vẻo trên cây bứt quả ném xuống dưới đất cho hai mẹ con. Trước khi ném, bao giờ nó cũng chọn quả ngon chén trước. Hành động ấy thật là đê tiện. Ông Diểu bóp cò. Tiếng súng dữ dội đến nỗi đàn khỉ lặng đi dễ đến một phút. Con khỉ đực buông tay ngã nhào xuống đất nặng nề. Sự hỗn loạn của cả đàn khỉ khiến cho ông Diểu sợ hãi run lên. Ông vừa làm điều ác. Chân tay ông rủn ra, giống cảm giác như người vừa mới làm xong việc nặng. Đàn khỉ thoắt biến vào rừng. Con khỉ mẹ và con khỉ con cũng chạy theo đàn. Được một đoạn, con khỉ mẹ bỗng quay trở lại. Con khỉ đực bị đạn vào vai, nó gượng dậy, nhưng lại vật xuống.

Con khỉ cái tiến đến gần con khỉ đực một cách thận trọng, nó nhìn ngó xung quanh. Sự im lặng này thật đáng ngờ. Nhưng rồi con khỉ đực cất tiếng gọi nó, tiếng gọi buồn thảm đau đớn. Nó dừng lại lắng nghe với vẻ khiếp sợ hoảng loạn.

- Chạy đi!

Ông Diểu rên lên khe khẽ. Nhưng con khỉ cái tuồng như muốn liều thí mạng, nó đến gần nâng con khỉ đực nhỏm lên.

Ông Diểu tức giận giương súng. Hành động hy sinh thân mình của con khỉ cái làm ông căm ghét.

Đồ gian dối, mày chứng minh tấm lòng cao thượng hệt như một bà trưởng giả! Sự tan rã đạo đức bắt đầu từ những tấn kịch thế này, lừa ông sao được? Khi ông Diểu chuẩn bị bóp cò thì con khỉ cái quay lại nhìn ông. Đôi mắt nó sợ hãi kinh hoàng. Nó vứt phịch con khỉ đực xuống đất rồi chạy biến đi. Ông Diểu thở phào rồi khẽ bật cười. Ông nhô hẳn người ra khỏi chỗ nấp.

- Sai lầm rồi!

Ông Diểu rủa thầm vì ông vừa bước ra thì con khỉ cái quay lại tức thì. "Nó biết mình là người thì thôi hỏng việc!" Y như rằng, con khỉ cái vừa lén nhìn ông vừa lao đến chỗ con khỉ đực. Nó ghì lấy con khỉ đực vào lòng rất nhanh và khéo. Cả hai lăn tròn trên đất. Bây giờ thì con khỉ cái chắc chắn sẽ điên cuồng như một mụ ngốc. Nó sẽ cuồng nhiệt hy sinh bởi lòng cao thượng của nó sẽ được thiên nhiên tính điểm. Ông đã lộ mặt là tên ám sát! Dù chết nó vẫn nhe răng để cười. Bất luận thế nào ông cũng sẽ đau đớn, sẽ thao thức, thậm chí ông sẽ chết sớm hai năm nếu ông bắn nó lúc này. Tất cả chỉ vì ra khỏi chỗ nấp sớm mất hai phút.

- Thôi Diểu ơi... - ông buồn bã nghĩ, - với đôi chân thấp khớp thế này thì làm sao mày chạy nhanh bằng lòng tận tụy, thủy chung của khỉ? Như trêu ngươi, hai con khỉ vừa chạy vừa dìu lấy nhau, con khỉ cái thỉnh thoảng lại huơ huơ đôi chân vòng kiềng trông vừa tức cười lại vừa đểu cáng. Ông Diểu bực mình lấy đà ném mạnh khẩu súng văng về phía trước. Ông mong muốn con vật hoảng sợ buông mồi.

Từ mô đá, bỗng nhiên con khỉ con xuất hiện. Nó túm lấy dây súng của ông kéo lê trên đất. Ba con khỉ vừa bò vừa chạy cuống cuồng. Ông Diểu ngớ ra một lát rồi phá lên cười: tình thế của ông thật là lố bịch!

Nhặt đất đá ném theo lũ khỉ, ông Diểu vừa đuổi vừa la. Lũ khỉ hết sức kinh hoàng, hai con chạy về phía núi, còn con khỉ nhỏ chạy về phía vực. Mất súng thì hỏng. Ông Diểu nghĩ thế và đuổi theo con khỉ nhỏ. Khoảng cách rút ngắn đến mức nếu không vì mắc nền đá lởm chởm, ông lao nhoài ra là tóm ngay được khẩu súng.

Việc ông Diểu dồn con khỉ nhỏ đến bờ miệng vực đưa đến hậu quả khôn lường. Giữ chặt dây súng, nó lăn xuống miệng vực không chút chần chừ. Vì ít kinh nghiệm, nó không tìm ra giải pháp nào khác trong trường hợp ấy.

Ông Diểu tái mặt, mồ hôi toát ra như tắm. Ông đứng trên miệng vực nhìn xuống rùng mình. Từ dưới sâu hun hút vang lên tiếng rú thê thảm của con khỉ nhỏ. Trong ký ức của ông chưa hề có tiếng rú nào tương tự thế này. Ông Diểu lùi lại kinh hoàng. Từ dưới miệng vực, sương mù dâng lên cuồn cuộn, trông vừa kinh dị, vừa đầy tử khí. Sương mù len vào từng chân bụi cây và xóa rất nhanh cảnh vật. Ông Diểu chạy lùi trở lại. Phải lâu lắm, có lẽ từ thời thơ ấu, ông Diểu mới lại có lần chạy như ma đuổi thế này.

Đến chân núi đá, ông Diểu kiệt sức. Ông ngồi phệt xuống nhìn về phía vực. Bây giờ sương mù đã trùm kín nó. Ông sực nhớ ra đây là khu vực đáng sợ nhất trong thung lũng, khu vực mà cánh thợ săn đặt tên cho là Hõm Chết. Ở hõm sâu này, gần như đều đặn, năm nào cũng có người bị sương mù giăng bẫy làm cho toi mạng. Hay là ma? - ông Diểu nghĩ. - Cô hồn của những bà cô ông mãnh thường biến thành hình khỉ trắng?" Con khỉ này màu trắng. Nó đoạt súng của ông bất thường đến nỗi ông cũng ngờ vực là sao sự thực có thể giản đơn như vậy? - "Ta có mê không? - ông Diểu nhìn quanh. - Tất cả như trong mộng mị?" - ông đứng dậy nhìn lên vách núi bàng hoàng. Phía núi đá ngược chiều Hõm Chết, bầu trời quang đãng không hề vướng gợn sương mù, tất cả cảnh vật lộ rõ từng đường nét.

Có tiếng kêu thảng thốt. Ông Diểu trông lên thì bỗng thấy con khỉ đực bị thương nằm vắt ở trên mỏm đá. Không thấy con khỉ cái. Ông mừng quá tìm hướng leo lên. Núi đá dốc và trơn. Leo lên nguy hiểm và vất vả lắm. Ông Diểu lượng sức: "Nhưng dù thế nào thì ta cũng phải tóm được chú mày"! Ông Diểu bình tĩnh bám vào các khe đá nứt leo lên. Được khoảng chục mét, ông Diểu thấy nóng bừng người. Lựa chỗ đứng thuận tiện, ông cởi bỏ giày và quần áo ngoài để lên một chạc cây duối. Trên mình mỗi chiếc quần lót, ông thấy thoải mái. Ông leo thoăn thoắt và càng không ngờ sức mình có thể nhanh nhẹn dẻo dai đến thế.

Con khỉ đực bị thương nằm trên ngọn đá phẳng lì và khá chông chênh. Dưới phiến đá, một khe nứt rộng đến gang tay tách nó ra khỏi vách núi. Ông Diểu rùng mình, cảm tưởng như bất cứ lúc nào tảng đá cũng có thể lăn nhào khỏi vị trí ấy làm ông kinh hãi. Thiên nhiên oái oăm lại muốn thử thách thêm lòng dũng cảm của ông sao đó. Ông Diểu lấy hai cùi tay làm tựa để co người lên. Con khỉ tuyệt đẹp, lông mịn và vàng. Nó nằm sấp mình, hai tay cào trên phiến đá như muốn tìm cách nhích lên. Máu đỏ bết bên vai nó. Ông Diểu đặt tay lên mình con khỉ và thấy nó nóng hầm hập. "Dễ đến hơn yến...". Ông Diểu luồn tay xuống dưới ngực con khỉ nâng lên ước lượng.

Từ trong ngực nó phát ra tiếng "hừm" nho nhỏ nghe rất đáng sợ, tựa như thần Chết bực mình cáu kỉnh vì sự can thiệp của ông với nó. Ông Diểu rút phắt tay lại. Con khỉ run bắn, nó đưa đôi mắt đờ dại nhìn ông cầu khẩn. Ông Diểu bỗng thấy thương hại. Viên đạn phá vỡ bả vai của nó, làm trồi ra hẳn đoạn xương dài đến bốn phân. Mỗi khi đoạn xương va chạm, con khỉ quằn quại trông rất đau lòng.

- "Để thế không ổn! " - ông Diểu vơ lấy một nắm cỏ Lào vò nát ông cho vào miệng nhai kỹ. Ông đắp nắm lá vào miệng vết thương con khỉ. Nắm lá sẽ có tác dụng cầm máu cho nó. Con khỉ co rúm người lại và nghiêng đôi mắt ươn ướt nhìn ông. Ông Diểu tránh nhìn vào đôi mắt nó. Một lát, con khỉ rúc hẳn vào hai lòng tay ông Diểu. Miệng nó phát ra âm thanh lắp bắp nghe như tiếng của trẻ con. Ông biết nó đang van xin và tìm một sự giúp rập. Ông rất khó chịu. "Thà mày chống cự thì tốt cho tao" - ông Diểu nhìn vào cái đầu ngoan ngoãn của con khỉ nhỏ cau mày. - Mình đâm già rồi... Nó biết người già thì dễ mủi lòng. Bây giờ tao biết lấy gì băng bó cho mày hở khỉ?" Ông Diểu suy nghĩ. Ông đành cởi chiếc quần lót đang mặc. Ông dùng chiếc quần lót ấy để băng vết thương cho nó. Vết thương cầm máu, con khỉ không còn rên nữa.

Cứ thế trần truồng, ông Diểu vừa bế vừa đỡ con khỉ tìm đường tụt xuống chân núi. Thoắt nhiên, đất đá từ lưng chừng núi sụt xuống rào rào như có sức mạnh nào đấy xô đẩy.

Núi lở! Ông Diểu thót mình và bám thật chặt vào tảng đá kinh hãi. Đoạn đường mà ông leo lên lúc nãy loáng cái chỉ còn một vết chém thẳng phẳng lì. Ông Diểu không còn thấy cây duối để quần và giày đâu nữa. Đi xuống đường ấy bây giờ thật nguy hiểm. Đành phải vòng ra sau núi. Xa hơn nhưng lại an toàn.

Ông Diểu lần mò đến hơn hai tiếng đồng hồ mới xuống được đến chân núi. Thật chưa bao giờ ông lại vất vả và mệt đến thế. Người ông đầy vết xây xát. Con khỉ sống không ra sống, chết không ra chết. Kéo nó trên đất thì quá đau lòng, mà bế ẵm nó trên tay thì không đủ sức. Đến chỗ lùm cây leo nấp chờ ban sáng, ông Diểu dừng lại để tìm mũ áo và nắm xôi nếp. Ở đấy đùn lên một đống mối to gần bằng cây rạ. Đống mối nhớp nháp một thứ đất mới đỏ au, trên đấy đầy những cánh mối ướt rụi. Khốn nạn, dây vào tổ mối thì những đồ vật của ông thành cám! Thở dài thất vọng, ông Diểu quay lại bế con khỉ lên.

"Chẳng lẽ lại cứ nồng nỗng thế này về nhà thì thật khả ố - ông Diểu bực mình. - Mình sẽ thành một trò cười cho thiên hạ mất...". Ông cứ vừa đi vừa nghĩ và đâm loanh quanh một lúc mới nhận ra con đường. "Thì đã sao nào - ông bỗng bật cười. - Hỏi ai bắn được con khỉ thế này? Phải yến rưỡi thịt... Lông vàng như nhuộm... Bắn được con vật như thế này thì dẫu mảnh giáp không còn cũng đáng! Có tiếng động khẽ đằng sau. Ông Diểu giật mình quay lại và nhận ra con khỉ cái. Thấy ông, nó thoắt biến vào bụi rậm. Hóa ra con khỉ cái theo ông từ khi ông ở trên núi mà ông không biết.

Ông thấy là lạ. Đi được một quãng, ông Diểu quay lại thì vẫn thấy nó lẽo đẽo đằng sau. Thật khốn nạn quá! ông Diểu đặt con khỉ đực xuống đất rồi nhặt đất đá đuổi con khỉ cái. Nó kêu the thé rồi chạy biến đi. Chỉ được một lúc, ông Diểu ngó lại thì vẫn thấy nó lẵng nhẵng bám theo. Cái bộ ba ấy cứ thế lầm lũi xuyên rừng. Con khỉ cái cũng thật kiên trì. Ông Diêu bỗng thấy bị xúc phạm ghê gớm. Tựa như ông bị theo dõi, bị đòi ăn vạ.

Bây giờ, cả con khỉ đực cũng đã nhận ra tín hiệu vẫy gọi của đồng loại nó. Nó cứ giãy giụa, nó làm cho ông khổ vô cùng. Ông Diểu mệt lả, ông không còn sức giữ con khỉ nữa. Hai tay con khỉ cào trên ngực ông tóe máu. Cuối cùng, không thể chịu nổi, ông đành tức giận ném nó xuống đất. Con khỉ đực nằm dài trên vạt cỏ ướt. Ông Diểu buồn bã ngồi nhìn. Cách đó không xa, con khỉ cái cũng thập thò sau một gốc cây theo dõi.

Ông Diểu thấy buồn tê tái đến tận đáy lòng. Ông nhìn cả hai con khỉ và thấy cay cay sống mũi. Hóa ra ở đời, trách nhiệm đè lên lưng mỗi sinh vật quả thật nặng nề. "Thôi tao phóng sinh cho mày!" - Ông Diểu ngồi yên một lát rồi bỗng đứng dậy nhổ bãi nước bọt xuống dưới chân mình. Lưỡng lự giây phút rồi ông vội vã bỏ đi. Hình như chỉ chờ có thế, con khỉ cái vọt ngay ra khỏi chỗ nấp, chạy vội đến chỗ con khỉ đực nằm.

Ông Diểu rẽ sang một lối đi khác. Ông muốn tránh sẽ gặp người. Lối này đầy những bụi gai ngáng đường nhưng hoa tử huyền nhiều không kể xiết. Ông Diểu dừng lại sững sờ. Loài hoa tử huyền cứ ba chục năm mới nở một lần. Người nào gặp hoa tử huyền sẽ gặp may mắn. Hoa này màu trắng, vị mặn, bé bằng đầu tăm, người ta vẫn gọi hoa này là muối của rừng. Khi rừng kết muối, đấy là điềm báo đất nước thanh bình, mùa màng phong túc.

Ra khỏi thung lũng, ông Diểu đi xuống cánh đồng. Mưa xuân dịu dàng nhưng rất mau hạt. Ông cứ trần truồng như thế, cô đơn như thế mà đi. Chỉ một lát sau, bóng ông nhòa vào màn mưa.

Chỉ ít ngày nữa sang tiết Lập hạ. Trời sẽ ấm dần.

NGUYỄN HUY THIỆP
Nguồn: Giaoduc.net.vn
          


Thứ Hai, 26 tháng 11, 2018

Biểu tượng Gió trong Bước gió truyền kỳ của Phan Hoàng

Dựa trên nền tảng quan niệm của văn hóa nhân loại về gió, với chủ đích mượn gió để gửi gắm thông điệp nghệ thuật, trong trường ca Bước gió truyền kỳ Phan Hoàng đã xây dựng biểu tượng gió theo cách riêng của trái tim nghệ sĩ đầy mẫn cảm với một trí óc tưởng tượng bay bổng, phong phú. Gió trở thành nơi phát lộ những bí ẩn của vô thức, của hành động, khai mở trí tuệ về cái chưa biết và cái vô tận. Gió gợi cho người đọc suy ngẫm về thân phận cuộc đời của mỗi con người qua tầng tầng lớp lớp thế hệ…
Nhà thơ Phan Hoàng

Xuyên suốt trường ca Bước gió truyền kỳ(1) của Phan Hoàng là biểu tượng gióGió được coi như là trục vận hành chính, là tâm điểm phát sáng nhiều thông điệp. Gió hiện diện trong tác phẩm với vai trò nối kết năm phân khúc rõ rệt: Những ngọn gió vô danh/ Gió tiếp sức ước mơ/ Bước gió truyền kỳ/ Gió dựng thành lũy biên cương/ Những cơn vượt thoát sinh tồn vĩ đại. Ứng với mỗi bước gió là một chủ đề lớn hàm chứa những chủ đề nhỏ hơn. Đặt trong tổng thể của tác phẩm, tất cả cùng hòa âm - những âm thanh của tưởng tượng vang lên như một bè hợp xướng đa thanh, lắng nghe sẽ thấy dàn hợp âm vang lên lúc êm ái, dịu dàng, lúc hào hùng, dữ dội, lúc trầm lắng, suy tư, lúc xót xa, đau đớn, lúc tha thiết tự hào…  đó chính là những cung bậc cảm xúc của tác giả cũng như của bất cứ người con đất Việt nào khi ngược dòng thời gian, sống cùng những sự kiện lịch sử của dân tộc, dõi theo từng bước đi của sinh thể Mẹ - Tổ quốc từ thuở ông cha mang gươm đi mở cõi (Huỳnh Văn Nghệ) cho đến hôm nay.

Trong văn hóa của nhiều dân tộc trên thế giới biểu tượng gió có ý nghĩa khác nhau. Kinh Coran lấy các cơn gió làm sứ giả của Chúa Trời, tương đương với các thiên thần. Thần của Chúa Trời bay lượn trên mặt nước nguyên thủy được gọi là gió. Trong hệ biểu tượng Hindu, gió (vâyu) là khí vũ trụ và là lời Thượng đế; gió là chúa tể của lĩnh vực tế vi, trung gian giữa Trời và Đất. Theo các truyền thuyết Hindu về nguồn gốc vũ trụ trong Luật của Manu, gió được sinh ra từ thần linh và gió sinh ra từ ánh sáng. Thần linh được kích thích bởi ước muốn sáng tạo đã sinh ra không gian. Từ vận động của cái không trung này, đã sinh ra gió. Gió chứa đựng tất cả các hương trong sạch, mãnh liệt, có đặc tính của xúc giác. Trong các truyền thuyết của Kinh Thánh, những cơn gió là hơi thở của Chúa Trời. Hơi thở của Chúa đã đưa trật tự vào hỗn mang nguyên thủy, hơi thở đó đã đem lại sinh khí cho người đầu tiên. Những cơn gió cũng là những công cụ của quyền lực thần thánh; chúng truyền sinh khí, trừng phạt, giáo huấn, chúng là những dấu hiệu và cũng như các thiên thần, chúng mang những thông điệp. Chúng là một dạng biểu hiện của thần linh, muốn truyền đạt những cảm xúc của mình(2).

Dựa trên nền tảng quan niệm của văn hóa nhân loại về biểu tượng gió, với chủ đích mượn gió để gửi gắm thông điệp nghệ thuật, trong Bước gió truyền kỳ Phan Hoàng đã xây dựng biểu tượng gió theo cách riêng của trái tim nghệ sĩ đầy mẫn cảm với một trí óc tưởng tượng bay bổng, phong phú. Gió trở thành nơi phát lộ những bí ẩn của vô thức, của hành động, khai mở trí tuệ về cái chưa biết và cái vô tận. Gió gợi cho người đọc suy ngẫm về cuộc đời của mỗi người Việt Nam qua tầng tầng lớp lớp thế hệ. Và thân phận mỗi cá thể vô danh ấy gắn liền với mỗi bước đi nhọc nhằn của mảnh đất quê hương hình chữ S - nơi mỗi chúng ta chôn nhau cắt rốn, cất tiếng khóc chào đời. Chạm đến tình cảm thiêng liêng ấy nên gió trong tác phẩm của Phan Hoàng đã lay động tâm thức người đọc ở vùng thăm thẳm nhất. Thổi qua nhiều miền tối sáng suốt chiều dài lịch sử dân tộc, nhưng không ồn ào mà rất khiêm nhường, điềm tĩnh, những Bước gió truyền kỳ đúng như tên gọi của nó đưa người đọc vào một hành trình kỳ lạ, vừa thực vừa mơ để khám phá những vẻ đẹp của văn hóa, khí phách và ý chí của dân tộc với nhiều cung bậc cảm xúc thẩm mỹ khác nhau.

Trong cảm thức của tác giả, gió là một biểu tượng luôn luôn động, luôn luôn biến hình hài, đổi trạng thái và mỗi bước gió là một sự tiến triển của đất trời, con người và vạn vật sinh linh…  

Mở đầu trường ca gió là tâm điểm hội tụ sức mạnh hồn thiêng dân tộc. Những ngọn gió vô danh gọi những linh hồn vô danh quần tụ, họ là những chàng trai và những cô gái mang trong mình Ước mơ căng tràn ngực gió thanh xuân” Họ đã sống từ bao đời trước: Xác hóa mây bay hồn về đất mẹ/… Người từ ngàn năm người quên tên tuổi...” Nhưng chính những con người giản dị và bình tâm  ấy là những con người đã làm nên đất nước (Mặt đường khát vọng - Nguyễn Khoa Điềm).

Gió được thổi hồn và hiện diện như một sinh thể sống, gió là người và người là gió, gió quấn quýt, chia sẻ vui buồn cùng con người, gió mở đường bay, gió đồng hành cùng người từ những bước chập chững đầu đời, từ tuổi thơ hồn nhiên khát vọng truy tìm, khám phá những bí ẩn của cuộc sống. Với nhiều thủ pháp tu từ được sử dụng linh hoạt như dùng xen kẽ liên tục câu dài/ ngắn, câu khẳng định/phủ định, câu kể, câu cảm thán, câu hỏi…, âm hưởng chậm rãi, trầm lắng của khúc ca đưa mỗi chúng ta trở về với tuổi thơ của mỗi người và tuổi thơ của dân tộc. Đó là thời khởi sinh trong trẻo hồn nhiên, đầy ắp kỷ niệm ngây thơ êm đềm nhưng cũng đã biết “khóc người lớn cười/ cười người lớn khóc. Từ thuở mới khai sinh lập địa, thuở hồng hoang mới biết hát đồng dao, người Việt Nam đã biết phân biệt phải/ trái, đúng/ sai, nuôi khát vọng, mơ ước, biết suy tư trăn trở tìm đường để hướng đến những giá trị sống cao đẹp: bay đường nào con người bớt khổ đau?/ bay đường nào con người bớt nghèo đói?/ bay đường nào con người bớt phản trắc?/ bay đường nào con người tin được nhau? ”.  
   
Có thể nói bốn tiểu khúc trong phần Gió tiếp sức ước mơ: Gió mở đường bay/ Đồng giao nghịch gió/ Cuộc trò chuyện giữa gió và núi/ Gió tiếp sức ước mơ là những khúc đoạn vừa bay bổng, lãng mạn vừa giàu chất triết luận. Đáng chú ý là Cuộc trò chuyện giữa gió và núi được hình dung trong giấc mơ của người kể chuyện: Nhiều đêm trong mơ ngược dòng ấu thơ đuổi bắt sao trời, ta trộm nghe núi mở lòng với gió.

Các nhà phân tâm học cho rằng về ý nghĩa giấc mơ là sự thỏa mãn một ước vọng.  Theo S. Freud, ước vọng là yếu tố chính tạo nên giấc mơ, ước vọng bị dồn nén được thỏa mãn một cách tượng trưng và “trá hình” trong giấc mơ. Mọi giấc mơ là sự thực hiện tưởng tượng hay biểu tượng của ước muốn. Giấc mơ “nghe núi mở lòng với gió” của Phan Hoàng là một giấc mơ đẹp, lạ. Giấc mơ mang theo hình hài địa lý của Tổ quốc, có “Biển Đông, có đồng bằng, có con đường xuyên sơn ngoằn ngoèo”… giấc mơ tái hiện lịch sử bi hùng “một thời đội sấm đội chớp mở đường” của cha ông… Phải chăng thông qua giấc mơ về Cuộc trò chuyện giữa gió và núi tác giả trường ca Bước gió truyền kỳ muốn góp thêm tiếng nói khẳng định một giá trị thuộc về truyền thống văn hóa của những con người được nuôi dưỡng từ cái nôi của nền văn minh lúa nước trên dải đất hình chữ S: dẫu trải qua bao dâu bể thăng trầm và biến thiên của lịch sử, người Việt Nam luôn sống thuần phác, nhân hậu, bao dung, phóng khoáng,  luôn mong muốn “bắc yêu thương những nhịp cầu đồng dao!…” và “lấy cây rừng làm bút/ lấy đá núi làm nghiên, lấy nước biển làm mực, đề thơ lên thạch trụ cao vút chín tầng xanh…”. Đó là giấc mơ thấm đẫm khát vọng hòa bình và tự do, tinh thần ấy là sợi dây bền chặt “nối ngàn xưa cho đến mai sau”.

Khúc thứ hai cùng tên tác phẩm: Bước gió truyền kỳ - đây là khúc trọng yếu của thiên trường ca. Với những thức nhận sâu sắc về văn hóa, lịch sử dân tộc, tác giả đã tái hiện bức tranh hoành tráng về quá trình bảo vệ và khẩn hoang mở rộng bờ cõi của cha ông qua bốn tiểu khúc: Bước gió truyền kỳ/ Gió khẩn hoang/ Gió xuôi chín khúc sông rồng/ Tây Nam mùa gió chướng. Âm hưởng hào sảng, tha thiết tự hào bao trùm khúc ca. Câu thơ ngắn, dài, biến ảo linh hoạt, gợi hình ảnh;  nhịp điệu nhanh, dồn, mạnh mẽ và hối thúc. Biện pháp điệp từ, ngữ được sử dụng một cách triệt để và đắc địa. Quá khứ lịch sử dân tộc với những bước chân huyền thoại thuở hồng hoang trở về rõ mồn một sau từng câu chữ…
Trường ca Bước gió truyền kỳ của nhà thơ Phan Hoàng được trao Giải thưởng VHNT TPHCM 5 năm lần thứ II (2012-2017)

Như sự đặt để của số phận, dân tộc Việt Nam là một trong những dân tộc phải đối mặt với nhiều cuộc chiến tranh nhất để mở cõi và giữ nước. Trong kết tinh của đất và nước có rất nhiều máu, mồ hôi và nước mắt: “máu/ máu/ máu/ mở cõi/ máu/ máu/ máu/ giữ nước… lớp lớp người/ tay cuốc tay cày/ lớp lớp người/ tay chèo tay lưới/ chém cá tràng kình/ mắt xua mây xám biển Đông/ lưng bóng nắng/ mồ hôi lạnh/ ngực dằn cơn ho cơn sốt…/ chân ngăn từng dòng nước khách lũ/ vật vã/ kiên trì/ tự lực/ khẩn hoang”… âm hưởng của lời ca nghe như có tiếng nấc, như có tiếng khóc, xót xa nhưng không hề bi lụy… Hiện lên trước mắt người đọc là trùng trùng lớp lớp những con người bé nhỏ, vô danh nhưng dũng cảm gánh trên vai một sứ mệnh lớn lao mà lịch sử dân tộc giao phó. Cuộc thiên di về phương Nam nhọc nhằn, gian khó nhưng những con người lao động chỉ có tay cuốc, tay cày, tay chèo, tay lưới cùng với ý chí kiên cường, đức nhẫn nại, hy sinh của người dân nước Việt. Họ đã làm nên truyền thống, làm nên lịch sử cho xứ sở này - truyền thống ấy mãi mãi âm vang bước gió truyền kỳ, tạc khắc trong hiên ngang dáng núi, bao dung tình sông

Xét trong chỉnh thể của tác phẩm, như bản nhạc vang ngân, khi tiểu khúc Bước gió truyền kỳ và Gió khẩn hoang với âm hưởng hào hùng, bi tráng “cuồn cuộn chuyển động sắc màu vũ trụ” tạm lắng xuống, thì tiểu khúc Gió xuôi chín khúc sông rồng vang lên với âm hưởng chậm rãi khoan thai, có những nốt lặng lắng sâu nhiều suy tư về cuộc sống “phía sau nỗi đau trận mạc”.

Đất nước hòa bình, con người lại trở về với những giấc mơ hoa đời thường mà do chiến tranh ngăn trở nên đã không thể thực hiện. Hạnh phúc đáng nói nhất là “tình yêu lứa đôi không còn bão lửa cắt chia”. Tâm điểm của bức tranh hòa bình là hình ảnh quấn quýt hòa trộn nhau thắm thiết, nồng nàn của đôi lứa yêu nhau được Phan Hoàng phác họa sinh động mang sắc màu “nhục thể lành mạnh” (F.Engels): “Thịt da nhiệt đới/ hừng hực ngực lửa/ hừng hực đùi hương/ bềnh bồng suối tóc/ bồng bềnh môi trầm/ bềnh bồng mông núi/ bồng bềnh lạch hoa/ bồng em lốc xoáy/… em làm vợ ta làm chồng/ yêu nhau thì cứ bềnh bồng bập bênh”. Ở đây  khát vọng hướng đến những giá trị nhân bản, nhân văn nhất của con người được thành thực trải lòng. Kiến tạo văn bản theo một sơ đồ chủ ý trộn lẫn giữa truyền thống và hiện đại nên có lẽ vì vậy trường ca Bước gió truyền kỳ của Phan Hoàng đã không bị sa vào khuôn mẫu xơ cứng, đơn điệu của kiểu viết trường ca theo “cảm hứng sử thi” đầy sắc màu “lý tưởng” tạo khoảng cách quá xa vời giữa con người trong tác phẩm và con người của cuộc sống đời thường.

Thế giới nghệ thuật vốn bao giờ cũng là thế giới trung gian giữa thực tế và mơ mộng. Nhiều khi thế giới thực không thỏa mãn được ước vọng của người đời, thế giới mơ tưởng có thể thực hiện được những ước vọng đó. Và ở khúc đoạn này, Phan Hoàng đã thành công khi mơ một “giấc mơ sinh trưng” lãng mạn nhưng cũng rất chân thực với cách diễn đạt tưởng chừng tưng tửng, dí dỏm, nhưng ám gợi sâu sắc tâm thức người tiếp nhận.

Phần thứ ba mang tên Gió dựng thành lũy biên cương gồm ba tiểu khúc: Linh hồn gió/ Gió cõng hương qua núi đồi/ Gió dựng thành lũy biên cương.

Chiến tranh dẫu đã đi qua, nhưng trong mỗi ngày của cuộc sống hòa bình những ám ảnh, đau thương mất mát vẫn nhức nhối khôn nguôi, “cái ác mang mặt nạ hữu nghị viển vông” vẫn lởn vởn. Đêm đêm linh hồn của những chàng trai, cô gái “hồn phách tinh anh mỉm cười bước ra chuyện trò cùng với gió (…) bao linh hồn trẻ hóa gió hiên ngangcanh giữ giấc ngủ bình yên đất mẹ”. Đến đây, gió trở thành biểu tượng của sức mạnh tâm linh huyền diệu, thần kỳ. Sức mạnh ấy được khởi nguồn từ tình yêu đất nước của lớp lớp thế hệ đi trước, họ đã dâng hiến tuổi thanh xuân vì bình yên của mảnh đất này, vì “cuộc sống những đứa trẻ không còn mồ côi đói khát…/ mùa trăng mật dâng hiến lứa đôi/ mùa sinh nở dâng tặng tiếng khóc những ngôi sao hy vọng...”. Trên nền âm hưởng trầm lắng, man mác buồn, hoài niệm, tiếc thương người đã khuất, nổi bật hình tượng Gió cõng hương qua núi đồi thấm đẫm sắc màu kỳ ảo: “Dường như có bóng ai lướt nhanh trong màn sương đục/ bóng của hôm qua bóng của hôm nay hay bóng của mai sau? gió vẫn miệt mài cõng hương qua núi đồi một thời trận mạc/ gió nói gì với những chiếc bóng lang thang chưa yên nghỉ mộ phần?”. Trước thế giới tâm linh thiêng liêng, những dấu hỏi như găm vào lòng người sống hôm nay bao ngẫm ngợi, suy tư, khắc khoải về thân phận con người…

Với độ lùi thời gian, điềm tĩnh nhìn lại những “bước gió” bi hùng của lịch sử dân tộc, tác giả trường ca xác quyết một sự thật: “không dân tộc nào/ không đất nước nào/ hiếm hoi thế hệ bình yên/ nối nhau quẫy đạp bóng đêm/ đứng lên” như dân tộc Việt Nam; và “không dân tộc nào/ không đất nước nào/ oằn vai/ gánh/ mười bốn cuộc chia ly không hẹn ngày về/ không dám bày tỏ nỗi niềm nhớ thương/ không biết cha con đối đầu/ không ngờ anh em bắn nhau/ máu đỏ oán sông/ xương trắng hờn than núi/ bao tinh hoa hóa thành cát bụi/ bao bà mẹ tim ngừng đập vẫn mở mắt đợi con/ bao người vợ úp mặt chờ chồng lửa lòng đông cứng!”. Chiến tranh là máu và nước mắt, là cái chết, là chia ly, tan tác, chia lìa. Người dân đất Việt đâu có mong muốn chiến tranh, nhưng “cực chẳng đã” buộc phải đứng lên để “giành lại từng dấu chân giao chỉ/ giành lại từng viên đá cuội in bóng chim lạc chim hồng/ giành lại từng hạt cát mang hình đảo chìm đảo nổi/ giành lại từng tia sáng cánh cò cánh vạc/ giành lại từng tiếng khóc bình yên tao nôi” . Và dòng hào khí kết tinh từ tinh hoa của lớp lớp người mãi trường tồn, vút bay cao “hóa thân bước gió truyền kỳ, cùng những vì sao nhấp nháy nhấp nhổm nụ cười” để làm nên Những cơn vượt thoát sinh tồn vĩ đại của dân tộc.

Nếu quan điểm của tư duy lý luận hiện đại cho rằng chức năng cơ bản của biểu tượng là sự phát hiện hiện sinh của con người cho chính mình thì ở Bước gió truyền kỳ biểu tượng gió giúp người đọc nhận ra chính bản thân mình từ những phát hiện về phẩm chất của dân tộc từ góc nhìn nhân văn nhất về lịch sử dựng nước và giữ nước của người Việt. Xoay xung quanh biểu tượng này chúng ta có thể suy ngẫm để khám phá nhiều ý nghĩa về thực tại cuộc sống: đó là mối quan hệ ràng buộc và những ứng xử mang giá trị văn hóa sâu sắc giữa cá nhân và cộng đồng, cộng đồng và cá nhân… Sử dụng biểu tượng gió như một thủ pháp nghệ thuật để thể hiện những ẩn dụ cảm xúc từ trìu mến, yêu thương thiết tha nhất đến giận dữ, uất nghẹn, sôi sục nhất, tác giả Phan Hoàng đã thành công trong lối dẫn dụ người đọc đi vào thế giới cảm xúc cùng những suy tư về văn hóa, lịch sử và vận mệnh của dân tộc một cách tự nhiên trên tinh thần “tự cảm hóa”. Với cách xử lý nghệ thuật khéo léo, tinh tế, sáng tạo, trường ca Bước gió truyền kỳ của Phan Hoàng đã vượt qua giới hạn của lối tư duy tụng ca về những vấn đề đại tự sự một cách đơn giản, sáo rỗng, vô hồn, thiếu thuyết phục mà bạn đọc vẫn còn bắt gặp đó đây trong sáng tác hôm nay. Và đó chính là một trong những nguyên nhân sâu xa, cơ bản nhất khiến tác phẩm này hàm ẩn nhiều thông điệp nghệ thuật, tiếp tục “vẫy gọi” bạn đọc đồng sáng tạo.

Tháng 3.2016
PGS.TS. CAO THỊ HỒNG
(DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ VIỆT NAM)


Chú thích:

 (1) Phan Hoàng, Bước gió truyền kỳ, Nxb. Hội Nhà văn, 2016.
 (2) Jean Chevalier, Alain Gheerbrant, Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, Nxb. Đà Nẵng, Trường viết văn Nguyễn Du, 1997, tr.363.     



Thứ Tư, 21 tháng 11, 2018

Phê bình sinh thái tinh thần trong nghiên cứu văn học hiện nay

Phê bình văn học sinh thái ra đời từ gợi ý của sinh thái học, khoa nghiên cứu mối quan hệ tương sinh, tương tác  giữa các sinh thể cùng mối quan hệ của chúng với môi trường vật chất xung quanh.  Song phê bình sinh thái thịnh hành ở nhiều nước phương Tây hiện nay tập trung vào vấn đề dùng tư tưởng sinh thái để đánh giá văn học trong việc biểu hiện vấn đề sinh thái, khẳng định vài trò của tự nhiên, xét lại quan điểm con người là trung tâm từ thời Khai sáng.
GS. Trần Đình Sử

Trong bài này chúng tôi vận dụng tư tưởng sinh thái để xem xét quan hệ giữa văn học và môi trường văn hóa, tinh thần xã hội như một vấn đề sinh thái, không tập trung vào quan hệ con người và tự nhiên, mà xem xét môi trường tinh thần xã hội như là môi trường sống của văn nghệ, sự tương tác giữa môi trường văn hóa tinh thần với sáng tạo văn nghệ. Trong các công trình nghiên cứu văn học trước đây chúng ta tập trung nghiên cứu mối quan hệ văn học với hiện thực, với các chức năng xã hội của văn học như nhận thức, giáo dục, tuyên truyền, thẩm mĩ trong ý thức văn học phục vụ chính trị chủ yếu là xét theo nguyên tắc ý chí, nhân tạo, chưa xét theo sinh thái của sản xuất tinh thần. Mối quan hệ sinh thái tự nhiên giữa văn hóa tinh thần với văn nghệ ở đây chưa được đặt ra. Vì thế còn nhiều vấn đề trong quan hệ văn học với môi trường sinh thái chưa được xem xét. Ví dụ vấn đề cân bằng sinh thái đảm bảo cho văn nghệ phát triển, động lực của sáng tạo, tự do sáng tạo, sự thiếu thốn của môi trường đối với nhu cầu sinh trưởng của văn nghệ. Quan điểm duy ý chí luận trong điều hành đời sống xã hội đã ức chế sự phát triển của kinh tế, văn hóa, và văn nghệ. Suy cho cùng, cội nguồn của mất cân bằng sinh thái là do sự phát triển phiến diện của xã hội và con người. Quan điểm con người là trung tâm đã dẫn đến hủy hoại môi trường tự nhiên; sự vận dụng lí tính công cụ dẫn đến làm lu mờ mọi hệ thống giá trị nhân văn. Ý chí trung tâm cũng tác hại như thế. Đề cao tập thể ức chế cá nhân dẫn đến tình trạng xã hội kém phát triển.  Chủ nghĩa tiến bộ chỉ thấy hôm nay hơn hôm qua đã hạ thấp các giá trị văn hóa truyền thống. Nghiên cứu, phê bình văn học trong thiết chế xã hội chủ nghĩa một thời gian dài do đề cao chủ nghĩa duy vật, coi tinh thần như một sản phẩm phụ thuộc, chỉ quan tâm văn học phản ánh hiện thực, đấu tranh giai cấp hoặc sử dụng văn học như công cụ  cũng dẫn đến mất cân bằng sinh thái tinh thần của con người. Là một ngành của khoa nghiên cứu nhân văn, nghiên cứu văn học hôm nay không thể chỉ đóng khung trong việc nghiên cứu các vấn đề của nội bộ văn học nghệ thuật, như hình thức, kí hiệu, biểu tượng, mẫu gốc, phân tâm…mà không quan tâm đến vấn đề văn hóa xã hội, vấn đề sinh thái tinh thần của con người. Bởi văn học là sản phẩm của môi trường văn hóa xã hội, mà trực tiếp là môi trường sinh thái tinh thần của con người. Mối quan hệ giữa văn học và môi trường sinh thái tinh thần ngày càng được quan tâm sâu sắc trên thế giới.

Từ sinh thái học tự nhiên, xã hội sang sinh thái học văn hóa tinh thần
    
Sinh thái học (ecology) là khoa học nghiên cứu mối quan hệ sống còn giữa sinh thể và môi trường sống của nó. Thuật ngữ sinh thái học có cội nguồn trong tiếng Hy Lạp là oicos, nghĩa là ngôi nhà, chỗ ở, tiếng Đức là die Okologie, tiếng Anh là the ecology. Năm 1886 do nhà khoa học Đức Enest Herkel đề xuất. Theo ông, sinh thái học là khoa học nghiên cứu tất cả mọi quan hệ giữa cơ thể con người với thế giới xung quanh, bao gồm tất cả các điều kiện tồn tại với ý nghĩa rộng nhất của từ đó, cả điều kiện hữu cơ, lẫn vô cơ. Năm 1935 sinh thái học hình thành tại các nước Anh, Mĩ bởi Tansley, Lindeman như một ngành của sinh học chỉ hệ thong sinh thái. Toàn bộ sự sống tôn tại trong các hệ thong sinh thái [1]. Hệ thống có thể lớn, nhỏ khác nhau. Nhỏ như cái ao, lớn như cánh rừng, miền, lục địa hay biển hay toàn trái đất, thái dương hệ. Khái niệm then chốt của sinh thái học là môi trường, là hệ thống các yếu tố ảnh hưởng đến sự sống của sinh vật. Môi trường có cấu trúc, chức năng, quy luật. Trong hệ thống các yếu tố của nó tạo thành một quan hệ tương hỗ, tác động qua lại, làm điều kiện đảm bảo duy trì sự sống, tạo được sự lưu chuyển, tuần hoàn năng lượng, tạo cân bằng cho sự sống tiếp diễn. Sự thích nghi và quy luật chống chịu của sinh vật sống. Sự thiếu thốn năng lượng khiến cho một số giống cây cối, sinh vật suy tàn, nhưng các giống cây, sinh vật khác thích nghi thì lại sinh sôi. Giữa các vùng sinh thái có các vùng chuyển tiếp (ecotone). Nếu các giống nguyên sinh bị suy yếu thì giống ngoại lai xâm nhập. Sinh thái học quan tâm vấn đề quan hệ, giao lưu, sự cân bằng giữa sinh thể và môi trường. (Xem: Môi trường và con người – sinh thái học nhân văn, Vũ Quang Mạnh, nxb Đại học sư phạm, Hà Nội, 2011).
  
Đến năm 1970 trước khủng hoảng sinh thái trái đất chủ nghĩa sinh thái (ecologism) ra đời. Trong môi trường tự nhiên, sự phá hoại môi trường tự nhiên, biến đổi khí hậu, rừng tự nhiên bị phá hủy, nguồn gen đa dạng sinh học mất dần, chất độc hại gia tăng, không khí ô nhiểm, nguồn nước giảm thiểu, nước biển dâng đe dọa mất đất sống, tài nguyên cạn kiệt…đe dọa cuộc sống lành mạnh của nhân loại. Từ năm 1972 khi Hội nghị môi trường Liên Hiệp Quốc thông qua Tuyên ngôn môi trường nhân loại, toàn nhân loại đang đứng trước khủng hoảng môi trường chưa từng có. Từ năm 1973 khi Arne Jonas nêu khái niệm “sinh thái học chiều sâu”, cùng với vấn đề hệ thống sinh thái, đề ra sinh thái tinh thần của con người đã có một tư tưởng sâu sắc.Từ đó trong nghiên cứu nhân văn đã có sự chuyển biến về phía sinh thái tinh thần. Các nhà khoa học sinh thái đã dần dần chuyển con mắt chú ý từ khoa học sinh thái tự nhiên, sinh thái xã hội sang sinh thái học tinh thần của con người. Triết học sinh thái, thần học sinh thái, chính trị học sinh thái, luân lí học sinh thái, tâm lí học sinh thái, mĩ học sinh thái, ngữ học sinh thái, nghệ thuật học sinh thái, nhân loại học sinh thái, sinh lí học sinh thái, kinh tế học sinh thái, nữ quyền sinh thái, chủ nghĩa nhân văn sinh thái, văn học sinh thái… đều là những nhánh nghiên cứu mới. Sinh thái trở thành một quan điểm, một thế giới quan mới,  một quan niệm xuyên suốt  để người ta nhin nhận tự nhiên, xã hội, , sự sống, hoàn cảnh, vật chất, văn hóa, nhìn nhận mọi vấn đề liên quan đến con người, trong đó có văn học. Quan điểm đó là coi trọng mọi quan hệ tự nhiên giữa con người và môi trương, coi trọng quan hệ mình, kẻ khác và môi trường tự nhiên; Mọi yếu tố , từ tự nhiên, xã hội, đều là không tách rời của sinh tồn con người. Theo quan điểm đó, phê bình văn học theo quan điểm sinh thái tinh thần cũng xuất hiện là phù hợp với tinh thần thời đại, tinh thần văn hóa sinh thái.    

Phê bình văn học từ sinh thái học tự nhiên sang sinh thái học tinh thần
   
 Ở phương Tây nói phê bình văn học sinh thái trước hết là nói đến phê bình văn học sinh thái tự nhiên[2]. Phê bình sinh thái tinh thần là một bộ phận của phê bình sinh thái nói chung, bên cạnh phê bình sinh thái tự nhiên, phê bình sinh thái xã hội. Từ năm 1966 khi tác giả Mĩ Kitchell Carson viết sách Mùa xuân lặng lẽ (Silent Spring)miêu tả cảnh tượng trái đất chết, tư tưởng  sinh thái đã làm xôn xao dư luận. Năm 1996 nhà phê bình sinh thái Mĩ là Cheryll Glotfelty trong sách Văn bản phê bình sinh thái do bà chủ biên nêu định nghĩa phê bình sinh thái là “Phê bình sinh thai nghiên cứu  mối quan hệ con người và môi trường vật chất xung quanh. Cũng giống như phê bình nữ quyền từ góc độ giới tính mà phê bình ngôn ngữ và văn học. Phê bình mác xít đem phương thức sản xuất và tự giác giai cấp làm nguyên tắc đọc hiểu văn bản, thì phê bình sinh thái lấy tư tưởng quả đất làm trung tâm để phê bình văn học.” (Dẫn theo Vương Nhạc Xuyên [3]). Đó là phê bình sinh thái tự nhiên. Phê bình sinh thái xã hội quan tâm các vấn đề như sinh đẻ có kế hoạch, giới tính, họ tộc, tộc người, chủ và thợ, các chính sách. ..đảm bảo sự cân bằng đời sống xã hội. Phê bình sinh thái tinh thần đặt ở một bình diện khác: nghiên cứu mối quan hệ giữa môi trường tinh thần xã hội đối với đời sống tinh thần, với sáng tác văn học, tác động của văn học đối với môi trường tinh thần của con người. Nhà triết học Pháp Pierre Teilhar de Chardin yếu cầu phải giành cho hiện tượng tinh thần một vị trí xứng đáng trong quá trình tiến hóa của nhân loại, chứ không phải chỉ môi trường tự nhiên, sự chọn lựa tự nhiên. Trong quá trình tiến hóa của con người từ vượn biến thành người yếu tố tinh thần đóng vài trò hết sức to lớn, thậm chí quyết định. Trong quan hệ sinh thái địa lí, yếu tố tinh thần cũng có địa vị không thể thiếu. Tinh thần là một hàm số (biến lượng) quan trọng trong hệ thống sinh thái địa cầu. Thông qua sự chuyển biến về ý thức tinh thần con người có thể điều tiết sinh thái tinh thần của mình, duy trì hệ thống sinh thái địa cầu cho sự sống. Năm 1995 giáo sư tiếng Anh người Mĩ Lawrence Buell, Đại học Harvard trong tác phẩm Tưởng tượng hoàn cảnh: Sự cấu thành của Thoreau, viết tự nhiên và văn hóa Mĩ đem tinh thần sinh thái đưa vào lí luận và phê bình văn học, cuốn sách này được coi là một cột mốc của phê bình văn học sinh thái trên thế giới. Buell đã chỉ ra phê bình văn học thế kỉ XX đã đánh mất tọa độ nhìn thẳng vào thế giới thực tại. Nhà phê bình phải nhìn thấy khủng hoảng môi trường, nhất là môi trường văn hóa. Phê bình văn học sinh thái là một hoạt động liên ngành. Chỉ đi sâu vào mĩ học hình thức, văn học khép kín là không đến được với phê bình sinh thái. Phê bình sinh thái cũng không giản đơn chỉ là ngoại quan, nó kết hợp cả ngoại quan lẫn nội quan để phát hiện các vấn đề trong quan hệ văn học và mói trường tinh thần. Phê bình sinh thái đòi hỏi phải kêt hợp với triết học, địa lí học, tâm lí học, nhân học xã hội, sử học, tôn giáo, giới tính, chủng tộc, hấp thu nhiều mô hình nghiên cứu thì mới có được phương pháp luận thích hợp. Lúc đầu phê bình sinh thái tương đối giản đơn, ví dụ như yêu cầu văn học phái khiến cho người đọc trở về với tự nhiên, phê phán việc tán dương sex trong văn học, dần dần họ nhìn nhận văn học qua lăng kính sinh thái, quan hệ sinh thái tinh thần với sinh thái tự nhiện, sinh thái xã hội. (Dẫn theo bài của Vương Nhạc Xuyên)

Tóm lại phê bình sinh thái tinh thần theo cách hiểu của các nhà phê bình sinh thái Mĩ và phê  bình sinh thái Trung Quốc như Lỗ Khu Nguyên, Vương Nhạc Xuyên là kiểu phê bình văn học lấy tư tưởng sinh thái làm trung tâm, qua đó giải quyết các vấn đề sinh thái xã hội, xác lập lí tưởng sống cao đẹp, khắc phục các ô nhiểm tinh thần, khiễn tinh thần trong sạch, cân bằng, góp phần làm ổn định xã hội.  

Chúng tôi hiểu phê bình sinh thái tinh thần trên một bình diện khác.: xem đời sống tinh thần xã hội là bối cảnh của sang tạo văn học, coi đó là mảnh đất, vườn ươm các sang tạo nghệ thuật. Ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm, không khí, nước, phân của môi trường tinh thần sẽ ảnh hưởng đến chất lượng sang tác văn nghệ.  Quan điểm này đã được đề xuất trong sách của hai tác giả Mĩ P. K. Bock Văn hóa đa nguyên và tiến bộ xã hội (nxb Nhân Dân Liêu Ninh dịch in 1988, ), F. Plog và Bates Diễn tiến văn hóa và hành vi của nhân loại(nxb. Nhân dân Liêu ninh, 1988), tác giả Nhất Mai Trác Trung Phu Sinh thái sử quan về văn minh (Thượng Hải, nxb Tam Liên, 1988), Nghiên cứu sinh thái học văn học – hài kịch của sinh tồn của tác giả Joseph W. Meeker, 1972. Ở đây văn nghệ được xem như một sinh thể, các các yếu tố của môi trường văn hóa tinh thần có tác dụng nuôi dưỡng,tác động đến  văn nghệ gọi là môi trường sinh thái văn nghệ. Con người là động vật văn hóa, vì có sự tương tác của ba cơ chế thích nghi sinh thái học: 1. cơ chế động lực tự duy trì sinh tồn của bản thân con người, 2. con người đòi hỏi một xã hội có giá trị sinh tốn, 3. con người thúc đẩy sự nhận thức các hiện tượng có quy luật của thế giới. Ba cơ chế này có giá trị phổ quát để giải thích sự ra đời của văn hóa, và đó cũng là mấu chốt của tính phổ biến của văn hóa và văn học nghệ thuật nói chung.

Trong cách tiếp cận này khái niệm trung tâm là sinh thái văn hóa tinh thần. Sinh thái là quan hệ tương tác sinh tồn giữa văn học nghệ thuật với môi trường văn hóa tinh thần xã hội. Văn hóa đã có hàng trăm nghìn định nghĩa, ở đây chọn cách hiểu văn hóa là toàn bộ phương thức tồn tại người, nhân hóa của con người. Văn học nghệ thuật được coi như một hiện tượng sống của xã hội, vì nhu cầu xã hội mà nó được sinh ra và phát triển. Quan hệ giữa văn nghệ với môi trường sinh thái tinh thần là quan hệ cộng sinh, đáp ứng, thích nghi, lựa chọn, biến đổi, phát triển, biến dạng theo điều kiện môi trường. Nghiên cứu lao động nhà văn người ta nêu ra bộ mặt xã hội của nhà văn với thế giới quan, kinh nghiệm sống, nghề thứ hai, các cuiocj du lịch, , đặc thù của lao động nhà văn, về vốn liếng có tri thức, vốn vưn học dân gian, văn học nước ngoài, văn học dân tộc năng lực quan sát và tự quan sát…, ý đồ, tư tưởng, sang tác, sửa chữa… Đối với quan điểm sinh thái người ta quan tâm các  điều kiện nuôi dưỡng các phẩm chất ấy. Điều kiện nào thi trí tưởng tượng được phát triển, điều kiện nào thì cá tính được phát huy. Xá hội học nghiên cứu các mối quan hệ qua lại giữa nhà văn và xã hội, chủ yếu là các cơ chế ràng buộc lẫn nhau giữa nhà văn và xa hội, xã hội được dung làm nguyên tắc lí giải văn học, là nội dung của văn học. Xã hội học Pháp thế kỉ XIX với Hippolyte Taine xem ba yếu tố dân tộc, hoàn cảnh, thời đại là ba yếu tố quyết định tính chất của văn học,nghệ thuật. Trong xã hội quân chủ cùng một điều iện, song có nhà nho hành đạo, nhà nho ẩn dật, nhà nho tài tử, khong thể giải thích bằng một quyết định luận được.

Quan điểm sinh thái không phủ nhận tác động xã hội, song nó quan tâm sự phản ứng, lựa chọn, thích nghi, quan tâm chất lượng của sang tạo, chứ không chỉ có sự giai thich một chiều. Như thế quan điểm sinh thái khác với xã hội hộc, tâm lí học, nghiên cứ lao động nhà văn.

Từ cổ xưa văn nghệ đã nảy sinh trong điều kiện lịch sử nhất định, đáp ứng các nhu cầu thẩm mĩ, giải trí, tôn giáo, xã hội một cách hồn nhiên. Môi trường văn hóa tinh thần  chịu sự chi phối sâu sắc của các điều kiện kinh tế, xã hội, các thiết chế chính trị hành chính như chính sách, đường lối chính trị, nhà trường, pháp luật, báo chí, các tổ chức, hội đoàn, nhà xuất bản, chế độ kiểm duyệt, các tư tưởng, tôn giáo, phong tục tập quán, tâm lí tiếp nhận của người đọc, đời sống phê bình. Các yếu tố ấy là môi trường sinh thái của văn học. Các yếu tố thế giới quan, thế giới cảm, trạng thái tinh thần của cá nhân, nhóm xã hội, các ảnh hưởng văn hóa nước ngoài đều là yếu tố của sinh thái tinh thần. Điều kiện tinh thần xã hội giống như ngôi nhà, mảnh đất và khí hậu nuôi dưỡng tác phẩm. Ta có thể tính đến các yếu tố như trạng thái tinh thần xã hội, di sản văn hóa dân tộc, sự phiên dịch văn hóa, văn học nước ngoài, văn học dịch, ý thức phê bình, bầu không khí sinh hoạt chính trị, tư tưởng xã hội… Trong mối quan hệ giữa cá thể tinh thần với hệ giá trị của cái tôi, khi hệ giá trị của cái tôi bị sa sút, không còn sức quy phạm hành vi thì sự tha hóa đạo đức, lối sống, sự xuống cấp mọi chuẩn mực ứng xử, các gía trị văn hóa không thể tránh khỏi và ngày càng gia tăng. Trong điều kiện đó mối quan hệ giữa cá thể tinh thần với thế giới mà nó sống trong đó cũng có thể cảm thấy được sẽ thế nào.  
   
Sinh thái tinh thần, xã hội có tính lịch sử, biến động trong thời gian. Đó là một xã hội sau chiến tranh với biết bao vết thương. Một xã hội tiến lên hiện đại hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa, kinh tế thị trường, xã hội tiêu thụ, tốc độ đô thị hóa chóng mặt, nông thôn đổi thay, bất bình đẳng xã hội gia tăng, giàu nghèo phân cực. Nạn tham nhũng trở thành quốc họa. cùng với nó là sự xuống cấp của đạo đức, lối sống không cách gì ngăn chặn. Sự đột biến về ý thức hệ sau khi hệ thống xã hội chủ nghĩa tan rã, khủng hoảng về lí tưởng, niềm tin, tạo nên khoảng trống trong tâm hồn, thừa cơ các thứ mê tín dị đoạn, đồng cốt, ngoại cảm tràn lan trong đời sống. Quan niệm sống gấp, vật dục, dục vọng cá nhân  lên ngôi. Trong đó có biết bao mâu thuẫn, nguy cơ, cạm bẫy. Không khí tinh thần ấy cho phép sản sinh ra những sản phẩm nghệ thuật nào, những kiểu nhà văn nào, những thể loại văn học nào, ngôn ngữ biểu đạt nào. Kinh tế thị trường  với chủ nghĩa tiêu dùng tràn lan, quan niệm hạnh phúc tầm thường của lớp người trung lưu mới nổi làm cho các loại văn học giải trí rẻ tiền, các loai văn chương câu khách xuất hiện tràn lan.

Nhưng sự tồn tại của các hình thức nghệ thuật lại phụ thuộc vào điều kiện sinh thái văn hóa xã hội. Số phận của các loại hình nghệ thuật truyền thống như chèo, tuồng, cải lương, ca trù, truyện nôm cho thấy sinh thái của chúng đã thay đổi mà con người phải có chính sách điều tiết để duy trì sự sống của chúng.  Phê bình sinh thái tinh thần tạo ra một góc nhìn mới, mài sắc vấn đề sinh thái trong lĩnh vực hoạt động sang tạo tinh thần của con người.

Các phạm trù và quy luật của sinh thái tinh thần.
   
Ví tinh thần với sinh vật học là phương pháp của Hippolyte Taine. Brandes ở thế kỉ XIX. Plekhanov cũng coi tâm lí xã hội là nguyên nhân của các sản xuất tinh thần. Đó chỉ là ngyên tắc giải thích. Vậy nghiên cứu sinh thái tinh thần có gì mới so với các truyền thống ấy? Sinh thái tinh thần không phủ nhận cơ sở vật chất của nó. Không coi đó là nguyên nhân cuối cùng của văn học nghệ thuật. Nhưng mặt khác nó xem đời sống tinh thần là một hệ thống gồm nhiều nhân tố ràng buộc, làm điều kiện cho nhau, thỏa mãn nhau cho cuộc sinh tồn tinh thần. Trước hết cấn tìm hiểu các khái niệm tinh thần, môi trường tinh thần, sáng tạo tinh thần của con người.

Tinh thần là lĩnh vực sự sống của con người, là thuộc tính bản chất của con người. Người sở dĩ là người là do có thuộc tính tinh thần đó. Con người tuy là sản phẩm vật chất, song đời sống đích thực của nó là tinh thần. Tinh thần là tồn tại được ý thức, trước hết là ý thức về cái toàn thể mà mình thuộc vào, hai là ý thức về bản thân mình ở trong đó, ba là ý thức về mình với thế giới. Tinh thần không giản đơn chỉ là sự phản ánh, mà là một phương thức tồn tại của con người, một phương thức tồn tại siêu hình của con người. Trước hết là trong từng cá thể và cùng với nó là quần thể, cộng đồng, với ngôn ngữ cùng các hệ thống kí hiệu, với tất cả các phương tiện lưu giữ chúng như sách vở, thư viện, viện bảo tàng, chùa chiền, nhà thờ, lễ tục…Với hệ thống kí hiệu, hay đúng hơn, như Lotman nhận thức, với cái kí hiệu quyểntrí tuệ quyển do mình sang tạo ra, con người tồn tại và tác động ngoại giới qua thế giới tinh thần do mình tạo ra đó. Nhà phê bình văn học Trung Quốc đương đại Lỗ Khu Nguyên nêu khái niệm tinh thần quyển và giải thích: Trên trái đât này, bên trên đời sống kinh tế xã hội chính trị của con người còn lửng lơ một cái vòng, một cái vòng mà nội dung gồm niềm tin, tín ngưỡng,  lí tưởng, tưởng tượng, phản tư, cảm ngộ, đòi hỏi, ước mơ, cái vòng lửng lơ này chính  là cái vòng tinh thần của trái đất. Nó quan tâm đến tồn tại tinh thần, tồn tại tâm linh của con người. Môi trường xã hội làm đổi thay cái vòng tinh thần ấy. Con người không chỉ cần một chốn ở trong tự nhiên, mà còn cần một chốn ở trong tâm hồn, nó dựa vào đâu, tin vào ai, lấy sức mạnh từ đâu để tồn tại, tồn tại theo nguyên tắc nào…Không ai có thể tồn tại ở ngoài kí hiệu quyển, trí tuệ quyển, hay cái vòng tinh thần này được. Con người có tính mục đích, tính ý hướng, tổ chức và hoạt động theo các tính chất đó. Tinh thần của con người, theo Teilhar de Chardin và Scheler cùng một số học giả khác có năm tính chất: 1. Tính độc lập, tự  do. Nó phản xạ thực tại và sáng tạo không gian cho mình. Tinh thần độc lập với thể xác, với hoàn cảnh xung quanh; 2. Tinh thần là ý hướng tự ý thức, là sự phản tư chính mình, lấy mình làm đối tượng, tự vượt lên chính mình, tự nâng cao mình. Tinh thần coi tồn tại của bản thân con người là đối tượng, nảy sinh tư duy. 3. Tinh thần là một cấu trúc chỉ thuộc về con người, một cấu trúc hành vi tự sản sinh. 4. Là một ý hướng của tâm hồn, tinh thần là cái vạch phương hướng cho sự sống bản năng. 5.  Lí tính của tinh thần nắm bắt được bản chất của thế giới và tách bạch bản chất khỏi sự tồn tại của con người [4][5].

Tinh thần là một quá trìnhtư duy, sản sinh ý nghĩ, tư tưởng, cảm xúc, tình cảm thể hiện dưới các hình thức như lời nói, câu ví, tục ngữ, tác phẩm các loại ca dao, truyện cười, giai thoại, thơ ca, tiểu thuyết hoặc khái niệm, phạm trù, khoa học. Tinh thần có tính sang tạo mà cũng có tnhs bảo thủ. Tinh thần có không gian tồn tại của nó. Có sản phẩm chỉ xuất hiện trong bóng tối, có loại chỉ xuất hiện trong môi trường quan phương như báo, tạp chí, các ấn phẩm của các cơ quan do nhà nước quản lí. Chúng không ngừng sinh sôi, phát triển, hoặc thui chột, tàn héo tùy theo môi trường sinh thái.
    
Môi trường sinh thái tinh thần có các không gian chính thống, phi chính thống, trung tâm, ngoại biên, trong nước, ngoài nước…Các vấn đề sinh thái của văn học nảy sinh trong các không gian và giữa các không gian. Ở mối trường sinh thái vi mô, như quần nhóm sinh tồn, như gia đình, bạn bè, nghề nghiệp; có môi trường sinh thái khu vực, mức giữa như khu vực, tỉnh thành và có môi trường sinh thái vĩ mô, bao quát toàn quốc hay quốc tế. Mỗi phạm vi có quy luật sinh thái của riếng nó.

Môi trường sinh thái bao gồm toàn bộ truyền thống tinh thần nuôi dưỡng nó, từ phong tục, tập quán, tôn giáo đến các truyền thống triết học, khoa học, lí thuyết ở địa phương, trong nước và quốc tế. Môi trường này thể hiện trong chế độ giáo dục, trong hệ thống sách vở kinh điển, hệ thống giáo trình, sách giáo khoa, trong hệ thống thư viện, các chính sách văn hóa, các chế độ xuất bản, các tạp chí, báo hàng ngày, các chương trình phát thanh truyền hình, các loại bảo tàng.Trong những năm 60 chúng ta phong tỏa các sách văn học trước 1945, các sách bị coi là lạc hậu, đồi trụy, văn hóa thực dân cũ, thực dân mới, các sách xét lại hiện đại, tư sản, phi mác xít…nhằm hướng người đọc vào văn học cách mạng có tính lạc quan và chiến đấu. Lich sử cũng được biên soạn lại theo lập trường mới. Các đường phố đều đặt lại tên mới, các thôn, xã cũng đặt tên mới như Quyết tiên, quyết thắng, hoặc đặt theo con số, thôn một thôn hai, để người dân sống trong một không gian tinh thần khác hẳn với truyền thống. Tất cả những điều này lại tạo thành hệ thống kí hiệu mới phân biệt với hệ thống kí hiệu cũ. Dần dần con người xa lạ hẳn với truyền thống văn hóa dân tộc mình và với chính mình, mà sống trong nền văn hóa xã hội chủ nghĩa với các tiêu chí bốn tốt, năm tốt, họ đánh mất niềm tin và sự thông hiểu giá trị truyền thống. Toàn bộ các hành vi đi ngược với văn hóa truyền thống hiện nay là hệ quả của việc làm người dân xa lạ với truyền thống văn hóa của dân tộc, địa phương. Nói cách khác là cách li con người khỏi văn hóa truyền thống, đặt họ vào hệ thống kí hiệu văn hóa mới với cờ đỏ búa liềm, cờ đỏ sao vàng, ảnh, tượng Hồ chủ tịch, tên phố tên làng mới, các cuộc miting, lễ hội mới, nay kỉ niệm, mài suy tôn…và do đó đánh mất hệ giá trị văn hóa truyền thống trong tâm thức người dân. Đó là điều khiến họ vô cảm với các giá trị truyền thống.

Đặc biệt nhu cầu tinh thần của con người thực tế là một nhân tố sinh thái quyết định. Nhu cầu nào sản phẩm ấy. Giữa môi trường và sáng tạo tinh thần luôn luôn có sự thích nghi, sự cân bằng sinh thái giữa môi trường và chủ thể sáng tạo, sáng tạo và sản phẩm  Bản thân sáng tác đòi hỏi một sinh thái tương thích với nó. Sinh thái biến đổi kéo theo biến đổi trong sáng tác. Ví dụ, sinh thái thời chiến với nhu cầu tuyên truyền làm biến chất thể loại phóng sự điều tra, chỉ còn thể kí sự, bút kí. Nó cũng làm mất thể loại tản văn. Nhưng sang thời bình với nhu cầu đổi mới lại làm sống lại thể phóng sự và tản văn.

Tự nhiêncũng là yếu tố quan trọng của sinh thái tinh thần. Tự nhiên là cái gốc của sự sống. Thiên nhiên, là cái nôi nuôi dưỡng tâm hồn  con người. Hoa cỏ, cây cối, bốn mùa xuân hạ thu đông, tình người tự nhiên, tình trai gái, tình gia đình máu mủ tình quê hương cũng là bộ phận tự nhiên trong sinh thái tinh thần. Những ai chỉ nhìn tự nhiên như khách thể nhận thức, mà không sống với tự nhiên sẽ không bao giờ hiểu được các bí ẩn của tự nhiên cùng những thi vị, mĩ cảm của tự nhiên. Khi đô thị hóa lấp bằng các cánh đồng lúa và cây trái, đương nhiên tinh thần con người cũng theo đó mà mờ nhạt. Xây dựng tình “đồng chí”, cắt đứt cái tình tự nhiên của con người cũng là biến dạng sinh thái tinh thần của con người. Chủ nghĩa lí tính, chủ nghĩa khoa học là tác nhân khiến cho thế giới tinh thần mất cân bằng. Người Trung Quốc nhìn thấy trong tư tưởng thiên nhân hợp nhất thời cổ đại một mô hình của sinh thái tinh thần. Người và thiên nhiên có một quan hệ cảm ứng.

Đặc điểm của sinh thái tinh thần là tính tự nhiên, giống như môi trường tự nhiên. Các phong trào phi tự nhiên thường phá vỡ sinh thái tinh thần của con người, khiến nó bị biến dạng.
    
Các yếu tố của sinh thái văn học gồm sáng tác, phê bình, lí thuyết văn học, truyền thống văn học, tiếp nhận văn học, văn học dân tộc và văn học thế giới dưới dạng nguyên văn hay văn học dịch. Các yếu tố của sinh thái còn gồm các thiết chế như hội đoàn văn học, các báo, xuất bản, các chủ trương chính sách, cá giải thưởng văn học và sự điều hành của chúng. Bao quát tất cả là sinh thái tinh thần thời đại. Nhân tố thời đại của sinh thái tình văn học đề cao lí thuyết nào, tư tưởng nào, tiêu chí nào lí thuyết và phê bình văn học. Lí thuyết mới, giàu sức sống, kích thích sáng tạo, khi lí thuyết khô cằn, nhà văn quay lưng đi tìm lí thuyết khác để lí giải đời sống. Phê bình có thể tác dụng kích thích sáng tác mà cũng có thể không có tác dụng gì, hoặc bản thân nó cũng biến tướng thành quảng cáo, tiếp thị hoặc biến tướng thành công cụ đấu tranh tư tưởng thuần túy. Tất nhiên phê bình vũ khí nếu đi kèm với cấm đoán, với xử lí về hình chính hoặc hình sự sẽ gây nguy hiểm cho sinh mệnh nhà văn và sáng tác của họ.

Quan hệ khu vực, quốc tếtrong thời đại hội nhập, toàn cầu hóa tri thức, nảy sinh mâu thuẩn, xung đột của các nền văn hóa giữa các nước có trình độ cao và các nước có trình độ thấp, xảy ra tinh trạng nước chảy chỗ trũng, các nước đi sau hướng theo các nước tiên tiến, du nhập sản phẩm văn hóa các nước ấy, lấy đó làm phương hương bắt chước hoặc định hướng sáng tạo cũng là một vấn đề của sinh thái tinh thần.

Con ngườicũng là yếu tố của sinh tháo tinh thần. Các giai tầng trong xã hội có sinh thái tinh thàn của nó. Giai tầng quý tộc xưa là nơi lưu giữ tinh hoa văn hóa dân tộc, còn tầng lớp bình dân lưu giữ văn hóa đại chúng. Khi tầng lớp quý tộc bị triệt tiêu, bình dân lên ngôi thì sinh thái tinh thần bị hạ thấp. Trong thị dân tầng lớp đại gia ăn chơi xa xỉ cũng là nới sản sinh các điển mẫu tinh thần có sức kích thích sự bắt chước.

Sinh thái tinh thần cũng có cấu trúc, giống như cấu trúc sinh thái tự nhiên, gồm vật vô sinh, vật hữu sinh, hệ vi sinh vật, hệ sinh vật thực vật.  Tổng hợp các yếu tố văn hóa tinh thần nói trên tạo thành cấu trúc sinh thái, gồm các yếu tố từ thô thiển, thấp kém nhất đến các yếu tố tinh vi cao cấp nhất. Tuy nhiên trong sinh thái tinh thần yếu tố chin trị đạo đức đóng vai trò chi phối. Nếu sự chi phối hạn chế đến cả sự lựa chọn của cá nhân thì xã hội không thể phát triển., lúc đó con người chirnhuw những cái máy vô hồn.

Trong sinh thái tinh thần luôn luôn có mâu thuẫn giữa ý muốn chủ quan và quá trình khách quan. Ví như ý muốn bảo tồn di sản quá khứ với xu thế tiêu dùng trái chiều. Ví dụ số phận của các loại hình văn nghệ cổ truyền như tuồng, chèo, cải luương, ca trù với nhu cầu người xem đương đại.  

Trong sinh thái tinh thần cũng có vấn đề giữa môi trường thanh sạch, chống các ô nhiễm tinh thần, rác thải tinh thần, virus tinh thần. Nhận ra sự ô nhiễm tinh thần, là điều kiện để ngòi bút phê phán của nhà văn và nhà phê bình thêm sắc bén.

Sự biến đổinhanh chóng môi trường sinh thái tinh thần do các đột biến về chính trị tư tưởng như sự sụp đổ của phe xã hội chủ nghĩa, nền văn nghệ xã hội chủ nghĩa thế giới cũng gây biến động lớn trong sáng tác văn nghệ. Sự thay đổi môi trường chiến tranh sang môi trường hòa bình, môi trường bao cấp sang môi trường tiêu dùng của xã hội thị trường, kinh tế hàng hóa cũng làm biến động dữ dội sinh thái tinh thần xã hội.

Nghiên cứu và phê bình văn học trong môi trường sinh thái tinh thần.

Nghiên cứu, phê bình văn học trong môi trường văn hóa sinh thái tinh thần là khám phá, phân tích mối quan hệ tương tác giữa hoạt động sáng tạo của nhà văn với môi trường văn hóa sinh thái bao quanh nó, quan hệ của hệ thống thể loại, hệ thống ngôn ngữ, hình tượng, đặc biệt tâm lí sang tác, ý hướng của nhà văn, sự lựa chọn các khả năng mà môi trường cung cấp để tự thực hiện chính mình. Quan hệ sinh thái thể hiện trong sang tác với tư cách là hoạt động diễn ngôn, đối thoại, phản ứng, đáp trả…để tạo ra một hệ thống giá trị nghệ thuật thẩm mí đặc trưng cho môi trường tinh thần, tức là đặc trung cho thời đại. Ở đây chúng tôi xin nêu mấy quan hệ sinh thái văn nghệ.

Môi trường sinh thái tinh thần và cá tính.

Cá tính là hiện tuwngj tự hiên của con người, son cá tính chỉ được thừa nhận, được ý thức và phát triển trong điều kiện xã hội nhất định. Cá tính trong văn học trung đại khác hẳn tời hiện đại về mức độ và sự đa dạng. Cá tính được coi là “ngông”, một phẩm chất tiêu cực, cá biệt. Nó không phải là phương thức tồn tại của con người. Trong xã hội sản xuất hàng hóa cá tính là phương thức tồn tại, là khả năng đáp ứng nhu cầu đa dạng của xã hội. Tôi khác biệt có nghĩa là tôi tồn tại. Người không có cá tính được xem là người vô nghĩa (xem Tỏa nhị kiều). Trong xã hội cộng sản mà có thời chúng ta đã xây dựng cá tính là đối lập với tập thể, là cá nhân chủ nghĩa, không có lí do tồn tại. Cá tính chỉ là một số khác biệt hình thức bề ngoài. Lịch sử chứng kiến khi môi trường sinh thái biến đổi con người từ quần thể chuyển sang cá tính (như Tản Đà) và ngược lại, khi sinh thí thay đổi, lại chuyển từ con người cá tính sang con người tập thể (như Nguyễn Đình Thi, Xuân Diệu…) và cách thức mà các nhà văn tìm cách bảo lưu cá tính của mình. Môi trường sinh thái đổi thay đã khiến nhiều nhà văn thay đổi nghề nghiệp, từ phê bình văn học chuyển sang nghiên cứu văn học dân gian hoặc chuyển sang nghiên cứu văn học cổ.

Môi trường sinh thái tinh thần với thể loại văn học

Môi trường sinh thái là thay đổi hệ thống thể loại văn học. Văn học trung đại chỉ có thể là văn học từ chương, sang tác theo câu chữ có sẵn, mỗi tác giả chỉ có thể biến đổi tí chút, khó có biến đổi lớn so với truyền thống. Văn học cận đại chyển sang tuyên truyền và trữ tình, , nhưng phải đến phong trào thơ mới mới thật sự thay đổi thi phpas cũ đề trở thành một thể thơ hiện đại, vừa có hình thức tự do vừa thể hiện cá tính. Văn học 1932 – 1945 đã thay đổi căn bản hệ thống thể loại văn học theo quỹ đạo văn học hiện đại của thế giới. Sau năm 1945 việc chuyển đổi cả nền văn học sang văn học tuyên truyền là đặc điểm nổi bật nhất của văn học cách mạng Việt Nam sau 1945. Từ trong nền văn học tuyên truyền ấy Tố Hữu nổi lên như một mẫu mực của văn học tuyên truyền, thơi trữ tình chính trị. Suốt ba mươi năm chiến tranh không có một hiện tượng đổi mới thơ. Tiểu thuyết trở thành sử thi. Phóng sự biến thành kí sự. Thể loại tản văn biến mất.Tùy bút là thể loại dễ bị phê phán. Tùy bút của Nguyễn Tuân kí sự hóa. Tập thơ Xuân Diệu phần “riêng” gây tranh cãi, phần “chung” thường sống sượng, ít thành công.

Môi trường sinh thái tinh thần với phong cách nghệ thuật
   
Chúng ta thường nói đến phong cách cá nhân, song trên thực tế, phong cách thời đại là hiện tượng phổ biến. Đến lượt mình phong cách chung chi phối phong cách thể loại, phong cách cá nhân. Sáng tác văn học trong thời kì văn học trung đại tiến hành trong môi trường khoa cử, trong truyền thống văn học Trung Quốc được coi là khuôn vàng thước ngọc, trong điều kiện không có kinh tế hàng hóa phát triển, ý thức cá nhân chưa phát triển, không có báo chí, xuất bản, không có phê bình, sang tác văn học chỉ có môi trường nhóm nhỏ, phê bình dưới hình thức phê điểm hoặc viết tựa, bạt, chép tay lưu truyền. Tác phẩm có sức lan tỏa lớn thì được chép lưu truyền rộng hơn, thậm chi được khắc ván in bán. Trong quá trình đó người ta có thể sửa chữa, thêm, bớt, tạo thành nhiều dị bản. Tính quy phạm là tiêu chí phê bình. Văn học chữ Nôm chịu ảnh hưởng văn học dân gian sâu sắc. Tác phẩm văn học trung đại đã xây dựng một thế giới tinh thần theo đạo nho, đạo phật hoặc đạo gia, một thế giới của đạo với hệ thống các giá trị của nó như sùng thượng tự nhiên, ôn nhu đôn hậu, nhàn, lập công báo quốc, trung tín…
   
Văn học hiện đại 30 – 45 đổi thay căn bản môi trường sinh thái tinh thần, thay đổi quy phạm, hệ thống thể loại, tiêu chuẩn sáng tác, thay đổi truyền thống văn học, thay đổi chủ thể, thiết chế sáng tác , phê bình, in ấn, xuất bản, lưu truyền. Môi trường sinh thái tinh thần lúc này có thể nói bao quát toàn thế giới. Nhà văn tìm tòi sang tác theo hầu hết các thể loại văn học hiện đại trên thế giới. Nhà văn có thể bị hạn chế về chính trị, song hoàn toàn có tự do bên trong để lựa chọn đề tài, chủ đề, phong cách, thể loại, ngôn ngữ, lựa chọn truyền thống. Văn học Nam bộ, văn học miền bắc và vùng miền khác có sự khác biệt sinh thái rõ rệt. Môi trường sinh thái ấy kích thích tìm tòi sang tạo, đổi mới văn học so với truyền thống, làm nên một giai đoạn độc nhất vô nhị trong lịch sử văn học Việt Nam. Văn học hiện đại đã hình thành mọt hệ thống giá trị nhân văn mới, đề cao giá trị cá nhân, yêu nước, khát vọng tự do độc lập, lên án mọi bất công xã hội, tố cáo tội ác vùi dập con người.
   
Văn học cách mạng Việt Nam trong 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc và bước đầu đi lên chủ nghĩa xã hội có một môi trường sinh thái khác hẳn. Văn học cách mạng đề cao lí tưởng độc lập dân tộc, tư tưởng hy sinh vì Tổ quốc, vì cách mạng giải phóng dân tộc, hướng tới ngày mai xã hội chủ nghĩa, xóa bỏ mọi bất công, áp bức. Tuy trong bối cảnh độc lập, nhưng cả nước ở vào hoàn cảnh chiến tranh; đảng lãnh đạo theo đương lối chuyên chính vô sản, tư tưởng xã hội ở vào thời kì chến tranh lạnh, đấu tranh ý thức hệ quyết liệt giữa hai phe tư bản và phe xã hội chủ nghĩa, học thuyết đấu tranh giai cấp chia xã hội thành hai trận tuyến địch/ta, cách mạng/phản động, tiến bộ/lạc hậu, tư sản/vô sản, nông dân/ địa chủ, cộng sản/quốc dân đảng, duy vật/duy tâm, giai cấp/nhân loại, tính giai cấp/tính người chung chung, tính giai cấp/chủ nghã nhân đạo tư sản… dẫn đến phân chia môi trường sinh thái tinh thần làm hai, vạch rõ ranh giới của chúng, thu hẹp môi trường văn hóa tinh thần vào một nửa. Chức năng văn học cũng thu hẹp vào chức năng nhận thức, giáo dục, chiến đấu, chức năng thẩm mĩ cũng thu hẹp vào cái đẹp khỏe khoắn, lạc quan,tin tưởng, chủ nghĩa anh hung, bi tráng, hùng hồn, các giá trị thẩm mĩ khác bị coi là không thích hợp. Lại thêm hạn chế vào chủ đề tư tưởng cách mạng, con người mới, phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa với tính đảng cộng sản, kết quả là văn học cách mạng tuy có nhiều phẩm chất đáng quý đối với văn học thời chiến, song nó đã tỏ ra công thức, sơ lược, khó giữ được sức hấp dẫn lâu bền đối với đời sau. Văn học cách mạng thực chất là văn học tuyên truyền, thực dụng, đáp ứng yêu cầu trước mắt của đấu tranh chính trị, cho nên, nó không đòi hỏi văn học sang tạo hình thức mới. Trái lại nó yêu cầu văn học sử dụng các hình thức của văn học dân gian để sang tạo ra tác phẩm dễ nhiows, dễ thuộc, dễ hiểu đối với đông đảo quàn chúng. Tiếp thu truyền thống hay tinh hoa văn nghệ nước ngoài, chủ yếu theo nguyên tắc gạn đục khơi trong, thực chất là lựa chọn những gì nó yêu cầu để thực hiện chức năng tuyên truyền là chính. Ngay đối với truyền thống chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa lãng mạn  nó cũng chỉ tiếp nhận một số yếu tố hạn chế, không tiếp nhận hết các truyền thống ưu tú của các trường phái văn học này. Ví dụ, văn học cách mạng có một thứ chủ nghĩa tâm lí khác với truyền thống tâm lí trong chủ nghĩa hiện thực. Bởi tiếp thu nhiều hơn, có nguy cơ là thay đổi tính chất của văn học cách mạng. Văn học cách mạng xây dựng mô hình thế giới giản đơn,dễ hiểu địch/ta, cách mạng/phản động, chỉ ta là người, còn địch là thú vật, dẫn đến lí tưởng hóa nhân vật anh hùng, thú vật hóa bên địch, biến chúng thành kẻ mất nhân tính, dâm đảng, đê hèn, điên khùng. Lí thuyết phản ánh, lí thuyết văn học phục vụ chính trị, tính đảng càng củng cố them cho định hướng sang tác đó. Phê bình văn học đánh giá văn học theo các tiêu chí của văn học cách mạng lại càng khẳng định phương hướng sang tác đó, đấu tranh phê phán các sang tác được coi là lệch lạc, sai trái, khiến cho văn học tự khép kín trong bản than nóp, giảm sút năng lực tự nhận thức. Đến cuối cuộc chiến, đặc biệt sau chiến tranh kết thúc, tiếp xúc với các sang tác văn học khác,  một số nhà văn đã kịp nhận ra tình chất giả tạo, xa rời thức tế của văn học đó, đặt vấn đề về tính chân thực của văn học. Lại thêm một số cuộc đấu tranh, tranh luận nữa, nhất là khi xã hội rơi vào khủng hoảng, đòi hỏi đổi mới, nhìn thẳng vào sự thật, đổi mới tư duy, thì người ta mới bắt đầu nhận ra vấn đề của căn học.

Phương pháp nghiên cứu văn học trong tương tác với môi trường sinh thái tinh thần xã hội

Phê bình sinh thái tinh thần đòi hỏi xem tinh thần như một yếu tố quan trọng hang đầu trong toàn bộ hệ thống sinh thái xã hội, trong đó tinh thần vừa là môi trường nuôi dưỡng mọi sang tạo vật chất và tinh thần, lại vừa là sản phẩm của chính môi trường văn hóa tinh thần do con người tạo ra. Trên cơ sở đó rà soát các hệ thống giá trị nội tại của con người, sự xung đột của các giá trị truyền thống và hiện đại, dân tộc và quốc tế, các giá trị thật và giả tạo, cao cả và tầm thường, chân thực và hư ảo.  Phyuwowng pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp xã hội học, phương pháp ghiên cứu văn hóa, kết hợp với phương pháp nghiên cứu nội tại , bởi vì sinh thái tác động lên chỉnh thể , làm đổi thay cả chỉnh thể văn học nói chung cũng như chỉnh thể của tác phẩm, thể loại, phong cách văn học.

 TRẦN ĐÌNH SỬ
Nguồn: VHNA

Tài liệu tham khảo:

1.        Hồ Chí Hồng. Nghiên cứu phê bình sinh thái phương Tây, nxb Khoa học xã hội Trung Quốc, Bắc Kinh, 2006.
2.        Lỗ Khu Nguyên. Không gian của phê bình sinh thái. Nxb Đại học sư phạm Hoa Đông, 2006.
3.        Đinh Hiểu Nguyên. Báo cáo văn học và sinh thái văn hóa, nxb Tam Liên, Thượng Hải, 2001.
4.        Hippolyte Taine, Triết học nghệ thuật, Phó Lôi dịch, nxb Văn nghệ Bắc Kinh, 1963.
5.        Vũ Quang Mạnh. Chủ biên, Hoàng Duy Chúc. Môi trường và con người – sinh thái học nhân văn, nxb Đại học sư phạm, Hà Nội, 2011.
6.        Hà Kim Lan. Xã hooijhocj văn học, nxb Quế quan hữu hạn công ty, Đài Bắc, 1989.
,


_____________________

 [1] Vương Nhạc Xuyên. Tư trào sinh thái và giá trị sinh thái phương Đông. Xem Bloc Sina
[2] Hồ Chí Hồng. Nghiên cứu phê bình sinh thái phương Tây, nxb Khoa học xã hội Trung Quốc, Bắc Kinh, 2006.
[3] Vương Nhạc Xuyên. Văn học sinh thái và phê bình văn học sinh thái. Học báo Đại học Bắc Kinh, số 2, năm 2009.
[4] Lỗ Khu Nguyên. Không gian phê bình sinh thái, Đại học sư phạm Hoia Đông xuất bản, 2006.
[5] Teilhar de Chardin. Hiện tượng con người, nxb Tri thức, Hà Nội, 2014.


Nhà văn Thùy Dương: Trăn trở với mỗi thân phận Người

Nếu không biết Thùy Dương sinh ra và lớn lên ở Hải Dương, sẽ đoán   chắc nàng là người Hà Nội gốc. Gọi là nàng v ì nàng không chỉ xinh đẹp, ...