Chủ Nhật, 30 tháng 12, 2018

Ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường

Tiếng “cây” trong ngôn ngữ Việt Nam khi dùng theo nghĩa bóng là chỉ các bậc tài nghệ trong nghề. Cây làm bàn, cây sáng kiến, cây lý luận, cây truyện ngắn, cây tiểu thuyết… Hiện giờ tiếng “cây” đó đang bị ô nhiễm vì đời sống kinh tế khó khăn – một điều đáng buồn. Viết về Hoàng Phủ Ngọc Tường tôi muốn gọt sạch lớp bụi ô nhiễm, lấy lại chính xác nghĩa bóng của từ để gọi anh: Cây ký.
Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường

Có lẽ trong văn học hiện nay Việt Nam, sau Nguyễn Tuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường là nhà văn thứ hai nổi bật lên với thể ký. Ký của anh có cái là truyện, có cái là tùy bút, có cái chỉ mới là ghi chép, nhưng chúng đều là ký văn học. Đóng góp của anh chính là tính chất văn học của ký này. Không ít nhà văn cũng viết ký, nhưng đó lại là ký thông tấn, ký tân văn. Thời gian trôi qua, các sự kiện lùi lại sau, đời sống xã hội thay đổi, những bài ký như thế chết đi trong im lặng. Những bài ký còn lưu lại được, còn được ghi nhớ như ký Nguyễn Tuân, ký Hoàng Phủ Ngọc Tường đích thực là những tác phẩm văn học.

Nhìn vào hai tập sách Rất nhiều ánh lửa (1979) và Ai đã đặt tên cho dòng sông (1985), điểm qua mục lục các bài viết, có thể nhận ra một dấu hiệu phổ biến quen thuộc của người viết ký: Đi đến nhiều nơi khác nhau. Từ Huế, sau ngày đất nước thống nhất, Hoàng Phủ Ngọc Tường rộng dài bước chân đến Quảng trị, ra sông Hồng, về đất Mũi, ngược lên Bắc, dọc ngang khắp các miền Tổ quốc, rồi lại trở về vòng quanh non nước xứ cố đô. Mỗi nơi đến một thời điểm để lại những sự kiện của nơi ấy, thời điểm ấy trong mỗi bài ký được biết ra kịp vào lúc ấy. Nhà văn có mặt bên hàng rào điện tử khi trận chiến vừa im tiếng súng mở ra một trận chiến không tiếng súng cũng đầy nguy hiểm, hy sinh. Anh đến giữa một lớp “bình dân học vụ” ban đêm bên Cồn Hến trong những ngày đầu mới giải phóng. Anh lên rừng hồi chứng kiến cảnh “thằng Hác” chết dưới gốc hồi một cái chết nhục nhã, phi lý, làm phân bón cho cây. Hoàng Phủ Ngọc Tường đã đi, đã thấy và đã viết những gì thấy trong khi đi. Chỗ này anh giống tất cả những người viết ký khác. Vậy thì anh khác người ra sao để thành đáng nhớ, đáng quý?

“Vâng, thuở ấy sông đã xanh như bây giờ, như đã xanh từ thuở Việt Thường. Tôi là người thư sinh đất Thăng Long, theo đám cưới Huyền Trân qua đây giữa một ngày dòng sông bồi hồi son phấn kinh thành. Thuở ấy, dòng sông Châu Hóa còn hoang dại, chim nhạn đậu đầy bãi, hoa tầm xuân mọc chen với cỏ lau, chính là hoa tường vi thơm ngát những khu vườn bây giờ. Tôi qua đây, yêu mến dòng sông nên ở lại, dẫy cỏ, lật đá, trồng cây từ buổi ấy. Sau bảy trăm năm trôi qua, mỗi tấc đất khát bỏng này đã uống biết bao nhiêu mồ hôi và máu. Tôi nhận ra ở mỗi con người quanh tôi, trĩu nặng một nỗi lòng thương cây nhớ cội, và nét điềm tĩnh của mảnh đất mà họ đã cày cuốc và gieo trồng”. Đoạn kết in chữ ngả của bài Hoa trái quanh tôi này cung cấp cho người đọc cái nhìn phát giác về đặc điểm nổi bật và xuyên suốt ngọn bút ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Ký không vụ bề ngoài sự kiện, mà đi vào bề sâu sự kiện. Những sự kiện trong ký của anh vừa thực tế, cụ thể lấy thẳng từ cuộc sống, lại vừa lung linh, ảo ảnh dưới ánh sáng lịch sử - văn hóa được chiếu rọi một cách bất ngờ, lý thú. Vâng, ký Hoàng Phủ Ngọc Tường là ký văn học bởi vì cái chất lịch sử - văn hóa đó. Đọc đoạn trích trên câu văn, mạch văn cuốn hút ta như bản nhạc, lời ca, đồng thời ta được khoái cảm thưởng thức dư vị lịch sử thoảng lại từ cõi Việt Thường, Châu Hóa, bồi hồi xúc động nỗi lòng thương cảm nàng Huyền Trân và tổng hợp lại tất cả là ý niệm cảm nhận hình dáng con sông Hương gắn chặt với kinh đô Huế trong tổng thể các đặc điểm lịch sử - văn hóa phong phú và lãng mạn của nó.

Hoàng Phủ Ngọc Tường là người am hiểu cổ sử và cổ văn, lại có một vốn hiểu biết khá rộng về lịch sử và văn hóa phương Tây. Dễ hiểu với thể ký anh có được khoảng sân rộng để phát huy đến mức cao nhất sở trường, thế mạnh này của mình. Bất cứ viết về cái gì và viết về nơi đâu, tôi thầm nghĩ, Hoàng Phủ Ngọc Tường chỉ đặt bút xuống trang viết khi đã tìm được mạch liên tưởng của nơi này với nơi kia, hôm nay và ngàn xưa, nhất thời và muôn thuở và khi đã quyết được với mình là từ trang viết đó khả dĩ có được một chút gì đấy còn lại với người, với đời cho dù sự kiện đã vĩnh viễn bị vùi lấp trong dòng thời gian. Nói về sự gắn bó của sông Hương và thành phố của nó, nhà văn muốn mượn hình tượng của cặp tình nhân lý tưởng Kim - Kiều để so sánh “tìm kiếm và đuổi bắt, hào hoa và đam mê, thi ca và âm nhạc, và cả hai cùng gắn bó với nhau trong một tình yêu muôn thuở”. Trong một mức độ nhất định, cũng có thể nói được như vậy về sự gắn bó của Hoàng Phủ Ngọc Tường và thể ký. Ý muốn vượt ra khỏi những ràng buộc giới hạn của thể loại và tìm ra những khả năng mới của nó. Tác giả - người trình bày, người thuật việc, thành tác giả - người tâm sự, người giãi bày. Ký không chỉ là ký, mà còn là sử, là triết lý, là cổ thi. Tôi không nghĩ mình quá lời khi nhận xét như thế về cây bút Hoàng Phủ Ngọc Tường.

Cố nhiên, so với bậc thầy Nguyễn Tuân thì Hoàng Phủ Ngọc Tường tài nghệ chưa bằng. Ở họ Nguyễn ký đã trở thành một nghệ thuật nghề văn khó có lại. Ở họ Hoàng ký đang là một xu hướng tự khẳng định có tính sáng tạo. Hãy giở bất kỳ bài ký nào của anh ra và chú ý dù chỉ một biện pháp liên tưởng thôi. Liên tưởng là gợi mở, là gắn mối những sự việc khác nhau trong không gian và thời gian về cùng một bình diện dưới lực hút quy tụ của cảm xúc và suy nghĩ của nhà văn để mở ra khác nhau những chiều so sánh, đối chiếu trong tâm thức tiếp nhận của người đọc. Hoàng Phủ Ngọc Tường đã huy động toàn bộ vốn tri thức lịch sử và văn hóa đủ cả Đông Tây kim cố vào từng bài viết, tạo nên những liên tưởng vừa rộng, vừa sâu. Anh nói đến điều chảy lặng lờ của sông Hương khi ngang qua thành phố bằng cách so sánh gợi lại một kỷ niệm khi lần đầu thấy sông Nêva cuốn trôi những tảng băng, từ đó ngược dòng lịch sử nhân loại nhắc tới một ý tưởng triết học của Hêracơlít lấy hình ảnh dòng sông chảy, qua bấy nhiêu hồi ức liên tưởng ấy để trở lại với con sông Hương nhẹ nhàng, lặng lẽ. Anh viết: “Đấy là điệu Slow tình cảm dành riêng cho Huế, có thể cảm nhận được bằng thị giác qua trăm nghìn ánh hao đăng, bồng bềnh vào những đêm hội rằm tháng bảy từ điện Hòn Chén trôi về, qua Huế bỗng ngập ngừng như muốn đi, muốn ở, chao nhẹ trên mặt nước như những vấn vương của một nỗi lòng” (Ai đã đặt tên cho dòng sông)Cái lặng lờ của dòng sông, như vậy, không còn cái lặng lờ của nước nữa. Đoạn kết bài Rừng hồi đầy ý nghĩa và sâu sắc cũng chính nhờ có sức liên tưởng chính xác và mạnh mẽ của tác giả. Nhìn cái xác “thằng Hác” (tiếng Tày của người Trung Quốc) bị đạn chết dưới gốc hồi, trong đầu tác giả bật nhớ lại một mẩu tự sự của Kim Thánh Thán có lần đã ngồi tính được mấy niềm vui trong đời. Mượn một cách tính niềm vui đầy tính nhân tạo của Thánh Thán, nhà văn đưa thêm cái ý vị triết lý nhân sinh vào lòng vui đến hả hê của mình trước sự đại bại của kẻ thù.

Ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường đan dệt những liên tưởng các chiều lịch sử - văn hóa như vậy đem lại nhiều nguồn thông tin cho người đọc. Thông tin tư liệu xác thực của thực tế. Thông tin trí thức của các ngành khoa học xã hội. Thông tin thẩm mỹ của những rung động cảm xúc. Người phát thông tin ở đây là tác giả không phải trong vai trò người chứng kiến, người kể lại, mà đóng vai trò nhân vật lịch sử, nhân vật văn hóa đã thể nghiệm cuộc sống, bây giờ muốn được giải bày để chiêm nghiệm cùng người đời. Do đó tính thời sự, cấp thiết của ký Hoàng Phủ Ngọc Tường là ẩn chứ không phải lộ, là ngầm chứ không hiện, là tỉnh bề sâu chứ không phải động bề nổi. Đó là tính thời sự của cảm xúc tâm hồn hơn là tính thời sự của thời gian, địa điểm. Phê bình Hoàng Phủ Ngọc Tường không hướng ký vào những vấn đề nóng hổi của thời hiện đại thì vừa oan cho anh, vừa không đúng với anh. Tôi chắc chắn có một điều là ngòi bút ký của anh không thích dụng, không có đất tung hoành nếu như đó chỉ là những bài ký kể về việc khô khan máy móc, thiếu đi những mạch ngầm liên tưởng cần thiết, do đó chỉ gượng ép khái quát lên những suy nghĩ, nhận xét ồn ào nhiều hơn là sâu lắng. Tôi nói điều này theo cách phân chia của tôi là có hai loại ký - ký văn học và ký báo chí. Không phải phủ nhận giá trị, tác dụng của loại thứ hai trong một khoảng thời gian bó buộc nhất định loại này không vượt được cái ranh giới nghiệt ngã thời gian tính cụ thể đó - tôi vẫn nghiêng về loại thứ hai hơn tác động lâu dài vượt qua cái cụ thể - định lượng để thành cái cụ thể - định tính. Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn Lâu (1971) một bên, Rất nhiều ánh lửa và Ai đã đặt tên cho dòng sông một bên - đó là hai chặng khác nhau của Hoàng Phủ Ngọc Tường để khẳng định mình với tư cách nhà văn đích thực theo nghĩa nghệ thuật của danh từ. Không vượt được quan mình ở chặng thứ nhất anh đã là không phải nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường hiện nay.

Cây bút này nổi bật một đặc điểm nữa; chất Huế. Trước hết là những bài ký dành riêng cho cảnh vật và con người xứ cố đô. Ai đã đặt tên cho dòng sông, Về chiếc Panh xô và khẩu súng của Trường, Hoa trái quanh tôi… là những bài ký hay, giàu cảm và suy tư. Nói rằng Hoàng Phủ Ngọc Tường yêu Huế, hiểu Huế thì đó là một lẽ đương nhiên. Tôi muốn đi xa hơn tìm một căn nguyên thầm kín để cắt nghĩa cho sự thành công đầy mỹ mãn của những trang viết ấy: Phải chăng ở đây đã có một sự hòa hợp, tương giao, linh ứng giữa cảnh sắc Huế, lịch sử Huế, văn hóa Huế với một tâm hồn nhà văn dễ rung động, nhạy cảm, tinh tế. Phải là sự tương giao, correspondance, đến mức hòa quyện chặt chẽ mới sinh ra được những ánh văn tài hoa không để một lần thứ hai viết được như thế. Ngỡ như không thể nào khác được: Viết về sông Hương là như vậy, viết về “văn hóa vườn” ở Huế là như vậy. Đó thực sự là những áng văn, tôi lại nói mình không quá lời đâu, vì câu chữ được chọn lựa cân nhắc kỹ càng, vì hình ảnh được sáng tạo đẹp đẽ, vì cảm xúc phong phú bất ngờ mới mẻ. Nhà văn là người làm văn phải coi sóc đến văn khi viết. Huống đây Huế lại là một đối tượng rất văn và nên văn. Hoàng Phủ Ngọc Tường bằng những bài viết về Huế đã làm đẹp thêm thành phố của anh - đúng, thành phố của anh trên trang viết không giống của ai và không ai có, làm vẻ vang thêm truyền thống lịch sử và văn hóa của thành phố Huế trong tổng thể phức hợp đời sống của nó nhìn qua con mắt của Hoàng Phủ Ngọc Tường dường như là một con người đầy trầm tư mơ mộng không ngừng trăn trở từ quá khứ vươn về hiện tại, thích lặng lẽ, không ồn ào, thích thâm trầm không phô trương. Nói Huế nói sông Hương, nhà văn muốn nói nhiều hơn chuyện xứ sở, một vùng đất, mà nói đến chuyện con người, chuyện lẽ sống ở đời qua bao thăng trầm biến thiên của thời gian và nhân thế. Mượn cách nói chính của nhà văn tôi muốn nói là tôi có một dòng văn học về Huế - “và tôi hy vọng đã nhận xét một cách công bằng về nó khi nói rằng dòng sông ấy không bao giờ tự lặp lại mình trong cảm hứng của các nghệ sĩ” - anh thuộc trong các nghệ sĩ đó.

Chất Huế của ký Hoàng Phủ Ngọc Tường vượt ra ngoài phạm vi chỉ cái cụ thể riêng biệt của Huế thành như một tính chất văn phong của nhà văn. Anh thiên về nhìn con người, sự vật, sự kiện được phản ánh dưới góc độ lịch sử - văn hóa như đã nói và qua lăng kính của một sự cảm nhận dịu êm, nhẹ nhàng. Chất thơ bàng bạc trong ký của anh nếu có giúp mở rộng trường liên tưởng của mạch văn thì cũng không phải không có phần làm nhẹ sức tác động của sự kiện. Diễn tả cái ước vọng chế ngự cát của người dân vùng cát Quảng Trị, anh viết “Ước vọng ấy bắt đầu mọc (mầm) trong tâm hồn người nông dân từ khi còn là một cậu bé chăn trâu, lặng lẽ ngồi ngắm đôi mắt trong suốt của con trâu già, trong đó bao giờ cũng hiện bóng cái vệt trắng lạ lùng ấy một khi con trâu no cỏ, nghiêng đầu ra phía đồng cát ngửi gió mặn từ biển thổi về” (Chế ngự cát). Chi tiết quan sát thật tinh, nhưng đưa vào đây không thật thích ứng nó như cảm giác vuốt ve con mắt hơn là cái nhìn thật của cơ quan nhìn. Cũng như trong bài này, đoạn liên tưởng quá khứ về những khách lữ hành muôn đời đã từng đi qua dải cát miền trung, nhắc đến Cao Bá Quát nhà văn nói đúng bầu tâm sự của ông, nhưng cho rằng đọc “Bài ca đi trên cát” của Cao “thấy nỗi sợ cát của người bộ hành ngày xưa vẫn còn in dấu sâu sắc đến như thế” thì hơi khiên cưỡng, vận vào. Tôi muốn gọi tính chất văn phong này của Hoàng Phủ Ngọc Tường là nét mờ - viết về Huế mà trần trụi quá thì thành ra thô thiển, nhưng viết về những vùng khác Huế mà vẫn “mờ” đi thì lại không đúng và không hay.

Cái khác người của Hoàng Phủ Ngọc Tường là gì để cũng cùng đi và viết ký như nhiều người khác mà anh lại viết thành công, trở thành cây ký xuất sắc của văn học ta? Năm tháng mải miết trôi, dòng sự kiện đổi thay nhanh chóng, một phần các trang ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng rơi rụng, chìm mất như bao nhiêu trang của các tác giả khác. Nhưng anh vẫn có phần của mình còn lại - phần ký tâm hồn. Câu hỏi tôi nêu lên như một dẫn dắt tìm hiểu. Hoàng Phủ Ngọc Tường đã tự cho câu trả lời. Có một năm anh đi nhiều, đi dài đến các vùng thực tế đất nước trở về Huế. “Những sự kiện thật xô bồ trong hai cuốn sổ dày đã ghi đến hết trang cuối nhưng chữ nghĩa thì cứ bò qua dưới mắt tôi như một bầy kiến, không hồi hộp, không vang động, tôi ngồi vào bàn, từng chốc lại đứng dậyHình như Gô ganh từng nói rằng ông ta chỉ có thể bắt đầu vẽ khi đã ngoảnh mặt về phía khác, để khỏi bị cái bên ngoài lấn át” (Hoa trái quanh tôi).  Thế là rõ: ký Hoàng Phủ Ngọc Tường là từ thực tế thoát ra khỏi thực tế, sau khi ngoảnh vào lich sử văn hóa hiện trở ra đời. Tôi nghĩ tiếng Việt thần diệu không vẩn đục vẫn giữ nguyên ý nghĩa tiếng “cây” để nói về anh: cây ký. Mong anh tiếp tục viết là anh.

PHẠM XUÂN NGUYÊN
Nguồn: Cửa Việt


TIN LIÊN QUAN:



Thứ Bảy, 29 tháng 12, 2018

Truyện ngắn Đỗ Bích Thuý: Ngải đắng ở trên núi

     Nhà văn Đỗ Bích Thuý

Mẹ và thằng Sinh đón tôi ở ngã ba nơi chân dốc dẫn lên ngôi nhà sàn. Ngôi nhà nằm chênh vênh trên cao kia. Già nua cũ kỹ và nhỏ nhoi. Khi nào nhớ về mẹ tôi cũng hình dung thấy ngôi nhà với chín bậc cầu thang nơi chân tôi run rẩy chập chững đi ra cuộc đời và từ cuộc đời đầy giông bão trở về.

Mắt tôi tự dưng mờ đi. Tôi luýnh quýnh: "Ềm! ềm vẫn khoẻ đấy ư? Trời ôi con lo biết chừng nào là lo!". "Biết tao khoẻ thì còn lâu mày mới về phải không Din?". "Kìa... con xin ềm. ềm đừng nói với con thế. Con vừa về tới nơi... ềm có thương con...". Mẹ tôi ngoảnh mặt đi lặng thinh. Tiếng thở dài nhè nhẹ mà hun hút như cơn gió quặn lồng ngực tôi.Thằng Sinh ôm cổ dí cái mũi ươn ướt vào má tôi: "Bác ơi bà bây giờ lẩm cẩm rồi. "Hư nào!". "Thật... Bố cháu bảo thế mà".

Nhà tôi chỉ có hai chị em tôi với em Dân. Cha tôi hy sinh khi tôi mới mười tuổi mẹ tôi ở vậy nuôi mẹ chồng cả đàn em chồng lít nhít với hai chị em tôi. Rồi bà tôi mất các cô các chú lấy vợ lấy chồng tôi đi xa em Dân lấy vợ sớm rồi cũng đi nốt bỗng chốc mà mẹ gần như chỉ có một mình. May mà em Dân lấy vợ quê từ ngày có thằng Sinh mẹ tôi cũng khuây khoả.

Mẹ đi trước tay dắt thằng Sinh chậm chạp leo dốc. Tôi thảng thốt chẳng lẽ lưng mẹ đã còng thật rồi ư? Dấu vết thời gian chính là nó đã hiện diện khắc nghiệt trên dáng vóc mẹ không nấn ná không gượng nhẹ. Đôi chân cũng không còn chiều theo ý mẹ và con đường như dài hơn dốc hơn khấp khểnh hơn. Ngày xưa cũng trên con đường cheo leo dốc này tôi đặt em Dân lên tấm lá cọ rồi kéo sầm sập chạy xuống vừa chạy vừa la hét. Có lần cả hai chị em ngã dúi dụi mặt vục vào đất cát không khóc thành tiếng. ấy thế mà bà nội biết không cho mẹ đánh đứa nào. Về sau em Dân bảo: "Lúc ấy em thương mẹ quá. Đến cả cái quyền dạy con cũng bị cấm đoán". ý em trách bà nội. Bà nội tôi có tiếng khắc nghiệt với con dâu ở Tả Choóng bây giờ. ấy thế mà rồi bà cũng chỉ ở với con dâu cả cho đến cuối đời chứ không chịu đi với đứa con trai con gái nào.

Em dâu đi nương về ngả vội gánh thóc nếp xuống cầu thang: "Chị Din đã về rồi này! Ôi tí nữa thì em dâu không nhận ra đấy. Ngày càng đẹp gái như bông hoa thì khổ trai bản thôi". Em dâu cười cái lúm đồng tiền xoáy sâu trên má. Em dâu kém tôi bốn tuổi. Ngày em về làm dâu nhà tôi có bao nhiêu trai bản uống rượu say không về được. Người Tả Choóng bảo nhờ em Dân có cái chữ hơn người nên ông Dìn mới chịu gả con gái cho mà chỉ lấy ba mươi chứ người như thế phải lấy cả trăm mới xứng. Trăm đồng bạc trắng trăm cân gà trăm cân lợn trăm lít rượu ngô không phải nhà giàu mấy đời thì chịu thôi làm đến chết cũng không trả hết nợ. Ngày có em dâu tôi khấp khởi mừng ít ra cũng an tâm phần nào khi đi xa. Hình như em sinh ra để làm dâu nhà tôi. Em giống mẹ tôi từ nết ăn ở trở đi. Có em mẹ có thêm một đứa con gái. Một đứa con gái mà mẹ mong mỏi chứ không như tôi. Tôi không nghe được mẹ muốn gì. Tôi vùng vẫy và tôi ra đi. Có những lúc mệt mỏi rã rời vì cuộc mưu sinh nơi xứ người tôi chỉ thèm được vùi mặt vào ngực mẹ mà khóc cho thoả thuê. Nhưng rồi vẫn cứ xa mẹ xa hơn và lâu hơn.

Gánh thóc nếp có tới bốn cum vậy mà em dâu chỉ xốc nhẹ một cái đã vắt trên vai bước thoăn thoắt lên cầu thang để lại chín vết chân ướt vững chãi đều đặn. Cầm lấy cum thóc em dẻo tay lật ngửa xoè nó ra như bông hoa trên sàn phơi đầu hồi. Cạnh đó có tới mấy chục cum đều đặn và đã xếp sẵn từ bao giờ. "Năm nay được nhiều thóc nếp không em?". "Nhiều. Được mùa mà. Đủ đồ xôi cho chị Din cưới chồng đấy. Mà... có về quê lấy chồng không chị Din?". "Bây giờ không ai muốn lấy người hai sáu tuổi đâu em ơi. ế mất rồi". "Cây cao khắc có người khoẻ trèo chị Din à .

Tôi cất đồ đạc cầm lấy đòn sóc theo em dâu lên nương mang nốt số thóc đã "tan" về. Em dâu bước đi nhanh thoăn thoắt mặc những cành gai chìa ra quệt vào đôi bắp chân tròn vo. "Năm nay nhà nào cũng bỏ nương xuống dưới kia làm ruộng nước rồi. Cả lúa nếp cũng cấy dưới ấy nhiều giống mới bây giờ mang đập như thóc tẻ được không phải vò. Nhưng bà nội thằng Sinh bảo vẫn phải gieo một ít thóc cũ để còn đồ xôi làm bánh rằm với lại để phần đợi chị Din...".

Nương lúa đã đổ rạp xuống ở phần "tan" xong. Mai kia khô rồi chỉ cần châm lửa đốt là sạch sẽ trỉa luôn được vụ mới. Chiều chậm chạp đổ xuống từng vạt núi vàng sậm cả những cánh rừng sồi rừng dẻ mướt óng phía xa. Gió trườn trên những triền núi; từng cơn từng cơn cuốn theo mùi khói bếp từ những căn nhà bàng bạc thấp thoáng phía bản người Phù Lá.

Một thằng bé mặt mũi lọ lem lùa đàn dê đông nghìn nghịt từ đỉnh núi chạy xuống. Ngang qua chỗ tôi nó khựng lại đôi mắt hiền lành giương lên tò mò. Tôi mỉm cười thân thiện: "Em tên là gì?". "...". "Nhà em ở ngay bên suối phải không?". Tôi hỏi vậy bởi lúc lội qua con suối đầu làng đã thấy một ngôi nhà trông giống trại chăn dê từng dãy chuồng kế tiếp nhau san sát. Nhưng thằng bé không nói gì ngoài những âm thanh u ơ rụt rè. Đột nhiên nó chìa cho tôi một mớ cỏ tím ngăn ngắt lè lưỡi trêu chọc rồi quay đi roi vung lên vun vút. Em dâu khe khẽ: "Thằng Câm đấy. Có khi chị không nhớ. Ngày chị còn ở nhà nó vẫn mang cá lên bán cho mẹ. Nay thì ở mỗi nhà một vài ngày. Gần hai mươi tuổi rồi mà không lớn thêm được là mấy... Nó đưa cho chị cái gì thế? Ngải đắng à? Đi xa thế thảo nào về muộn...". Lúc này tôi mới nhận ra một mùi hương quen thuộc xộc lên. Chính cái thứ hương cay cay ngòn ngọt nhằng nhặng đắng đã theo riết tôi đã níu tôi với cả quãng đời thơ ấu bình yên. Có vậy mà từ lúc nào bước chân về bản tôi nghĩ mãi không ra mình thấy thiếu thứ gì mà cứ chông chênh trống trải. Nắm rau ngải thằng Câm mang về đã bắt đầu héo và nóng sực.

Mãi tới lúc lên đèn em Dân mới về thồ theo một can dầu sau xe. Trông em già và đen đi nhiều. Cứ tưởng làm cán bộ xã thì nhàn rỗi... Mâm cơm có canh măng giang nấu với thịt ếch thịt gà rang lá chanh và ngải đắng xào mẻ. Nhìn đĩa rau ngải tôi thèm mà không dám gắp sợ hết. Để rồi đến cuối bữa vẫn còn nguyên. Em dâu ngạc nhiên: "Sao chị bảo thích rau ngải lắm?". "ừ...nhưng...". "Nhưng lâu rồi lâu quá rồi không ăn cái đắng như thế nên quên phải không?". Mẹ tôi vẫn cái giọng dằn dỗi.

Tôi lặng im. Dân nén thở dài. Trên mâm gỗ đĩa rau ngải cứ nhoà dần nhoà dần đi... Tôi nghe quặn lên từ trong tiềm thức tiếng thác lũ thượng nguồn ào ạt tiếng vỏ cây rừng mùa khô vỡ ra lách tách tiếng con nai tác mẹ ngẩn ngơ thăm thẳm và cả những cơn gió mùa dài lê thê hun hút trên mái nhà. Năm ấy... Trời làm đất đai cạn kiệt tôi theo mẹ đem ống bương đi qua hai quả núi cách Tả Choóng nửa ngày trời mới lấy được thứ nước đầy rêu trong một cái vũng nhỏ. Rét căm căm sương muối trút xuống từng tảng sáng ra thấy cây cối đầy lá úa dây bí ngoài vườn chưa kịp ra quả đã khô quắt queo mẹ gieo hạt cải cả tháng chưa thấy mọc. Không có hai thứ ấy người quê tôi không còn bất cứ thứ rau gì cho mùa đông. Một ngày hai ngày rồi cả tháng bữa nào cũng chỉ có sắn nạo ăn với muối. Em Dân khóc ngằn ngặt rồi bà rồi mẹ cũng ứa nước mắt. Chiều hôm ấy mẹ ra vườn quơ lấy một nắm ngải đắng bà bảo: "Đừng liều thế mẹ Din". Mẹ tôi ngập ngừng: "Con dê ăn được chắc mình cũng ăn được ềm à!". Không có rau miệng ai cũng phồng rộp cả lên. Nhưng ngải đắng xưa nay người ta chỉ lấy về khi trong nhà có người ốm đem nướng trên phiến đá nung rồi để gối đầu chứ chưa ai ăn bao giờ.

Mẹ đem luộc rồi xào mẻ. Mẻ chua muối mặn vậy mà ngải vẫn nhằng nhặng đắng. Tôi còn cố nuốt được vài ngọn chứ em Dân thì nhè ngay ra lại khóc. ấy thế nhưng tỉnh người ra thật dần dần vài bữa rồi quen ruột gan đỡ xót đi. Bà gắp một bát đem sang hàng xóm. Thế rồi cả bản theo nhau hái về ăn thay rau. Người ta càng hái thì ngải càng đâm nhiều ngọn mặc cho những đợt gió mùa tới tấp ùa về quất ràn rạt trên mặt đất. Trên nương trong vườn cả dưới gầm sàn chỗ cái ang nước khô vênh chỗ nào cũng thấy ngải như một sự bù đắp cho sự khắc nghiệt của đất trời...

Sinh đã ngủ khoèo trật cả cái bụng tròn phinh phính ra phía bếp lửa. Mẹ tôi mang mảnh lưới đan dở ra làm tiếp em dâu vừa đun cám vừa vò thóc nếp. Dân ngồi rít thuốc lào. Trên bếp nồi cám bắt đầu sôi lục bục mẹ mới cất tiếng: "Dân à! Nói gì với chị mày thì nói đi chứ. Mong nó về lắm mà!". Em dâu nhẩn nha: "Đi làm cán bộ nói mãi cho người ngoài nghe được mà nói với chị gái thì khó thế à". Dân ngọ ngoạy lúng búng: "Chị Din về lâu lâu được thì mai em mới nói. Để chị nghỉ đã...". "Chị không về lâu được đâu. Một hai ngày lại đi thôi. Còn bao nhiêu việc dưới kia...". Dân vốn thế. Người ngoài chả nể ai về nhà lại sợ chị. Từ bé tới giờ khi nào tôi cũng đầy quyền uy. Đâu muốn thế. Chả gì cha tôi là trưởng họ được mỗi đứa con trai...

Dân diễn đạt một cách vất vả thỉnh thoảng lại liếc mẹ nhưng mẹ không tỏ thái độ gì. Ra em đang mâu thuẫn với mẹ giữa cái mới và cái cũ. Xã đang đốc thúc các làng các bản thực hiện quy ước nếp sống văn hoá phải thay đổi cách ăn ở sinh hoạt cả một số phong tục bị xem là lạc hậu... nhưng Dân một trong những người cần gương mẫu thì vấp phải mẹ như vấp vào ngưỡng cửa nhà mình. Khó xử nan giải là phải. Chẳng biết mấy ngày ở nhà tôi có giúp được gì không.

Mẹ giục đi ngủ mở hòm ra lấy bộ váy từ ngày tôi chưa đi. "Còn biết cách mặc không?". "Dạ... nhưng tóc ngắn thế này làm sao mà vấn được khăn đây ềm?" Mẹ tôi thở dài: "Mày lớn quá tao không giữ nổi mày thật rồi. Núi rừng cao thế cũng không ngăn được bàn chân mày. Sau này tao chết đi rồi mày có trở lại Tả Choóng không? Mày lấy người thế nào làm chồng hả Din? Sao mày không đưa nó về để tao xem tay xem mặt? Mày sợ nó khinh mày khinh quê mày phải không? Đời tao có khi không biết đến chén rượu của con rể lớn bé thế nào...".

Giờ thì tôi khóc nức lên. Lâu rồi không khóc được như thế. Tôi biết nói gì với mẹ khi tôi đã ra đi vì khát vọng của mình đã giãy giụa ra khỏi những mịt mùng heo hút đã sợ bị "định giá" như mẹ như em dâu... thì còn có thể thanh minh giãi bày gì cho vừa lòng mẹ? Tôi ghì xiết lấy tấm thân bé nhỏ và lạnh của mẹ. Đâu hết rồi mẹ ơi những ấm nồng đầy đặn ăm ắp sức sống? Đâu rồi bầu ngực tròn căng của người vợ goá? Đâu rồi mái tóc đầy những mùi thơm của lúa mùi cay nồng của ngải đắng mùi mặn mòi của cỏ tranh bị đốt cháy?...

Đêm thanh vắng tiếng nước chảy trong máng vầu róc rách. Không biết từ ngày tôi đi đã mấy lần em Dân phải thay máng rồi. Bất chợt tiếng tắc kè bật lên khắc khoải. Tôi rưng rưng nhớ cha. Ngày cha tôi còn sống ông đã từng bắt tắc kè về nuôi. Chỉ cần thả vài con tắc kè non lên mái nhà hôm trời mưa là nó ở lại luôn thôi không đi nữa. Có lúc đàn tắc kè sinh sôi đến gần chục con dạn người lơ láo bò qua bò lại trên bậu cửa. Hôm nào chúng kêu tiếng lẻ là trời nắng tiếng chẵn là trời mưa cha tôi cứ theo đó mà cắt đặt việc nhà. Chiến tranh biên giới nổ ra cả nhà bồng bế nhau đi sơ tán chỉ cha tôi ở lại cùng dân quân du kích xã mà ông phụ trách. Cho đến khi tạm ngưng tiếng súng thì chúng tôi trở về. Cha tôi đã hy sinh. Căn nhà cũ tan hoang mốc thếch đàn tắc kè bỏ đi từ bao giờ. Bà nội ứa nước mắt bảo chúng đi theo cha tôi. Đêm nay... tắc kè cũng kêu. Không biết trong số chúng có con nào là hậu duệ của đàn tắc kè nhà tôi? Đếm mãi mà không nghe rõ tiếng chẵn hay lẻ. Mẹ tôi than mấy năm gần đây mưa nắng thất thường mùa vụ cũng lúc được lúc mất.

"Din ơi mày vẫn thức đấy chứ?". "Vâng! ềm bảo gì con?". "Mai mày nói với thằng Dân bảo nó không muốn ở nhà thì xuống xã mà ở". "ấy chết! Sao ềm nói thế? ý em Dân không dám như vậy đâu". Mẹ nghèn nghẹn: "Hơn sáu mươi năm nay tao như con suối chảy xuôi. Sắp ra đến sông lớn rồi sắp theo cha chúng mày rồi giờ nó bắt rẽ ngang bắt chảy ngược... Nó... thằng Dân ấy...". "Nhưng con thấy có gì rối rắm lắm đâu mà ềm...". "Hừ! Không à! Mày cũng giống nó thôi Din à. Bao nhiêu năm nay người ở trên sàn nhà trâu ngựa ngan ngỗng ở dưới gầm sàn tự dưng em mày đòi mang trâu ra ngoài vườn con trâu mẹ ốm lên ốm xuống cho uống bao nhiêu muối không khỏi. Ngỗng đang ở yên thế tự nhiên lại lùa ra sáng nào cũng phải đi tìm con ngủ chỗ này con ngủ chỗ khác... Cả mày cả nó đều tập ngồi tập đi ở trên sàn nhà mới lớn được chừng ấy bây giờ còn mang bộ bàn ghế về. Nó bảo hay có khách nên phải lịch sự. Lịch sự là cái gì? Khách nào cũng mặc quần áo đẹp đi cả giày lên nhà. Ngồi uống nước thì quay lưng vào bàn thờ ông bà thấy trẻ con thì vỗ má xoa đầu... Thế mà lúc tao mở miệng ra thì nó bảo để rồi phá cái nhà này đi làm nhà ngói mà ở. Tao ốm bảo mổ dê gọi thầy mo về đuổi con ma đi nó lắc đầu quầy quậy đưa cho một nắm thuốc xanh xanh đỏ đỏ... Bây giờ khôn rồi cái gì cũng muốn theo người xuôi. Tao không cần. Tao không có đứa con nào như thế. Tao chết ở đây". Lồng ngực mong manh của mẹ căng lên những nhịp đập hối hả ngắt quãng. Mẹ khóc không có nước mắt. Tuổi già đã mang đi những giọt đau đớn cuối cùng của đời người.

Hồi lâu mẹ cựa mình len ra khỏi đôi tay tôi mẹ vén lại chăn. Tôi choàng dậy: " ềm đi đâu khuya khoắt thế?". "Ngủ đi. Tao đi xem con nghé mới đẻ. Dặn mẹ Sinh nhớ xúc trấu khô mà ủ chắc lại quên rồi". Lúc chiều ông Tào ở mãi Ngàm Đăng Vài sang đòi đặt tiền trước để con nghé lớn tí nữa thì bắt đi. Trâu trắng không dùng cày được người ta kiêng. Nhưng bán đi thì tiếc lại thương con trâu mẹ. Thế nên ông kia nói mãi mà mẹ vẫn chưa chịu cầm tiền.

Tôi không sao ngủ được. Càng đêm càng lạnh. Thời tiết ở đây vốn thế ban ngày nắng đến mấy có khô rang cả mái nhà dày hàng gang tay thì đêm vẫn lạnh. Quanh năm không khi nào phải cất chăn. Tấm chăn tôi đang kéo lên đến cằm nặng trình trịch toả ra một thứ mùi của ký ức. Ngày chuẩn bị về làm dâu mẹ tôi mười sáu tuổi mẹ tôi đã dệt cả tháng trời mới xong tấm chăn còn chưa kể những khăn và váy áo. Mẹ kể đêm đầu tiên rét lắm nhưng mẹ dứt khoát không chịu đắp chung chăn với cha để rồi cha phải bỏ ra bếp ngồi hút thuốc lào đến sáng. Mẹ về làm dâu là về không hầu như chẳng có gì vì ông ngoại mất sớm mẹ ở với chú thím. Thế nên chỉ như thân con mèo nem nép bên bếp nhà chồng từ sáng đến tối không biết ngẩng mặt lên đến bữa không dám ăn no đến năm mười tám tuổi mà bé quắt hơn cả lúc lấy chồng. Chị cả tôi ra đời chưa đầy tháng thì mất vì viêm phổi mãi hơn chục năm sau mới có tôi...

vùng núi bao giờ mùa đông cũng đến sớm. Khi những chiếc lá đào lá mận đầu tiên rụng xuống thì dòng suối bắt đầu cạn nước chảy dưới phần ngầm của lớp đá cuội trắng trơ. Gió từ trong khe núi ùa ra mang theo hơi lạnh đến ghê người của đá và lá cây lúa. Thân ngải đắng bắt đầu khô lại rễ bám chặt lấy lớp đất chai cứng và ngả sang màu nâu đen vì sương muối. Nhiều ngày nhiều tuần có khi cả tháng trời không có nắng giữa tuần trăng đêm cũng chỉ lờ mờ. Đây là quãng thời gian ít việc nhất trong năm. Đám con gái chỉ quanh quẩn ở nhà xe lanh đôi gò má bắt lửa đỏ au. Ngoài nương chỉ còn trồng tam giác mạch. Hạt tam giác mạch ăn không ngon như hạt ngô hạt lúa nhưng hoa tam giác mạch thì đẹp. Trời càng rét thì sắc biếc sắc hồng càng rực rỡ. Cả dải núi nương nhà này nối với nương nhà kia cứ bừng lên như một màu tam giác mạch ngợp trời. Cả nương tam giác mạch có khi chỉ được lưng quẩy tấu hạt nhưng nhà ai cũng trồng. Dễ lắm. Đợi cây ngô thu hoạch xong trời bắt đầu rét thì quãi tam giác mạch xuống. Cỏ không mọc nổi nhưng tam giác mạch thì nảy mầm lên xanh mướt thế nên chả ai chịu để đất không.

Cho đến khi ngựa đập móng lộp cộp đầu hồi hoa lê bật bông trắng như tuyết thì xuân sang. Các ông bố đeo bao dao ra khỏi nhà tìm trong bản ngoài bản ai có lợn to thì chung mổ ăn Tết. Xuân sang đấy nhưng trời còn rét mãi tới tháng ba tháng tư trẻ con đuổi bò xuống thung lũng vẫn chưa chịu bỏ bùi nhùi rơm ở nhà mặt đứa nào cũng nứt toác cả ra. Chỉ có đất bắt đầu tơi mềm bò dê được ăn cỏ tươi và nước thì bắt đầu chảy đầy máng vầu trở lại. Sau Tết Nguyên đán có khi hội bản này nối sang bản kia cả tháng trời. Chợ nào cũng đông nghìn nghịt toàn con trai con gái mặc đẹp đeo đầy vòng bạc mua sắm thì ít mà ngắm nhau thì nhiều. Ngày xưa cha tôi cũng nhìn thấy mẹ tôi vấn đầu trong một phiên chợ như vậy.

Trở vào mẹ không đi nằm mà ra bếp ngồi cơi lò cho cháy lên lại mang lưới ra đan. ánh lửa chập chờn hắt lên mẹ lên mái tóc bạc lên gương mặt đã kín vết nhăn như thực như hư. Một nỗi sợ từ đâu ùa vào tôi. Hình ảnh chiếc áo quan mở nắp mà thằng Sinh với lũ bạn nhảy ra nhảy vào đùa nghịch hiện lên mồn một. Mẹ tôi đã chuẩn bị cho sự ra đi lâu nhất mãi mãi như thế từ cách đây năm sáu năm. Ba con dê đổi lấy một khúc gỗ dẻ rất lớn mà em Dân dùng trâu kéo về...

Tôi ra ngồi với mẹ. Lát sau gà gáy eo óc thì em dâu cũng dậy kiễng chân với mẹt muối sấy trên gác bếp xuống lật trở cho đều. Sắp tới rằm tháng bảy ăn to lắm. Nhà nào nghèo mấy thì trẻ con cũng phải có bộ quần áo mới trong nhà có ít nhất hai thứ bánh gù bánh chuối và chõ xôi đỏ hoặc tím. Ngày nhỏ tôi đã từng bắt em Dân theo chúng bạn sang tận Khuổi Nậm tụ tập đánh khăng đánh cù lúc đói bụng thì chạy vào bất cứ nhà nào cũng được ăn bánh đầy bụng. Tháng bảy hay mưa nhưng cứ mười bốn mười rằm là tạnh ráo. Đàn ông đi uống rượu nhà bạn bè có khi say mấy ngày liền không về.

Em dâu nhắc: "Rằm tháng bảy năm nay thế nào chị Din cũng phải về đấy nhé. Hai cái rằm rồi làm bao nhiêu bánh ăn mãi không hết. Làm ít bà bảo sợ chị Din về nhỡ có bạn đi cùng thì không đủ thế là cứ cố nhiều bột nhiều chuối... ấy da...". Tôi nhìn mẹ. Muốn hỏi có phải ềm chỉ làm mặt giận vậy thôi chứ lúc nào cũng thương con gái nhất nhưng mẹ dường như chẳng để ý gì.

Chưa tỏ mặt người em Dân đã đi bảo phải lên họp ở trên huyện. Dân nhìn tôi hình như muốn nói gì nhưng ngần ngừ rồi thôi xách cặp đi tiếng xe Min nổ phành phạch xa dần. Gương mặt buồn buồn của đứa em trai mới lớn ngày nào còn tranh với chị từng củ sắn nướng cứ dằn vặt tôi. Nghe đâu người ta còn muốn cất nhắc Dân lên huyện nhưng em không muốn đi. Dân khác tôi gắn chặt với nơi mình sinh ra không sao rời đi được dù có nhiều cơ hội cho bản thân vươn lên. Tôi vừa thương vừa biết ơn Dân em gánh cả phần trách nhiệm của tôi đối với mẹ hẳn cha tôi dưới kia cũng mừng.

Sinh dậy chả rửa mặt gì lôi tôi xuống cầu thang: "Mình đi tìm ngỗng về không thì bà lại mắng bố Sinh". "Tìm ở đâu kia?". "Sinh biết mà. Đi nhanh nào". Sinh kéo tôi chạy một mạch tới suối chỗ cái cối nước đang thì thụp giã. Cả bầy ngỗng đang ngủ ở đấy thật co một chân húc đầu vào cánh bị đánh thức chúng nhốn nháo ầm ĩ. Bản tôi nhà nào cũng nuôi ngỗng thay cho chó canh nhà. Chỉ cần hai con ngỗng là cứ việc mở toang cửa ngõ đi làm cả ngày.

Hai bác cháu lùa ngỗng về tới nhà thì mẹ tôi đã đứng ở chân cầu thang có ý chờ. "Ai bảo không mặc áo mà chạy đi sớm thế hở Sinh?". Thằng bé tảng lờ liến láu: "Cháu với bác Din đi tìm ngỗng về. Chúng nó ngoan lắm éme à. Chỉ cần làm một cái nhà be bé ngoài máng nước cho chúng nó là xong. éme ơi... - nó ngập ngừng - éme đừng mắng bố cháu đừng giận bố cháu nữa tội nghiệp lắm. éme nhé! éme gật đầu đi. Gật như Sinh đây này". Thằng bé làm động tác gật đầu mấy cái. Mẹ tôi nhìn thằng bé mắt hấp háy như có ánh cười. Thằng Sinh giống em Dân tôi y hệt từ nước da ngăm ngăm đôi mắt một mí đến hai mớ tóc hơi quăn kết chặt vào nhau. Nó thực sự là hiện thân của Dân hai chục năm về trước... hình như thằng Sinh đang cố gắng làm cái việc mà bố nó loay hoay mãi không biết xử trí thế nào. Và mẹ tôi thì tin cậy nó. Có lẽ vì thằng bé còn đang trong vòng tay bà nối bà với những đứa con dang đôi cánh bay cao và bay xa.

Dưới chân cầu thang nơi mẹ tôi và thằng Sinh đang đứng. Có một phiến đá rất lớn. Phiến đá màu xanh bốn năm người đứng lên vẫn đủ chỗ. Cha tôi đã kéo nó từ dưới chân suối lên sau một cơn lũ lớn. Chính trên phiến đá này tôi đã gặp cha lần cuối cùng nghe ông dặn dò rồi tôi khóc ròng ròng mãi mới buông vạt áo ông ra. Sau này không biết đã bao nhiêu lần tôi đứng vào chỗ của cha hồi đó mặt hướng lên phía Tây Côn Lĩnh cao vời vợi sương mù phủ trắng mà cảm thấy như một sự ấm áp một nguồn sinh lực nào đó để có thể đi những bước vững vàng ngoài kia.

Mặt trời lên. Đỏ như một quầng lửa. Báo hiệu một ngày rất nắng. Cứ nắng như thế thì chỉ ba ngày là thóc nếp khô yên tâm xếp lên gác bếp. Năm nào cũng vậy sau mùa thu hoạch bao giờ trên cái gác chạy dài từ đầu nhà đến cuối nhà cũng đầy chật lúa ngô. Ngô túm thành từng túm treo lủng lẳng lúa xếp bên trên. Được mùa có khi lúa năm ngoái chưa ăn hết thì lúa năm nay đã về cứ thế xếp lên. Mẹ tôi kể ngày xưa nhà ông bà nội còn có những cum thóc tuổi nhiều hơn chú út.

Có tiếng leng keng lịch kịch thì ra thằng Câm đang lùa dê lên núi. Nó dừng ở ngõ nhà tôi chờ em dâu tôi lùa dê ra. Tôi bảo: "Để chị đi cùng nó". "Làm gì cơ chứ. Mình nó vẫn chăn mà. Với lại xa lắm cơ chị Din ạ". "Xa mấy chị cũng tới được. Chị muốn tìm ngải đắng...". "Thì bảo nó lấy cho. Việc gì phải đi cho mệt ra". "Không. Chị muốn tự hái về". Mẹ lẩm bẩm: "Ngày xưa... ngải bò vào đến gầm sàn dỗ mãi không ăn. Làm sao giờ lại thèm khát đến thế hở!".

Câm hớn hở ra mặt. Cặp mắt anh ánh đàn ông lấp lánh trên gương mặt thoắt buồn thoắt vui. Chắc đi mãi một mình nó cũng buồn. Chúng tôi đi ngược về phía mặt trời. Mặt trời đang ở phía sau dãy núi kia mới chỉ thấy những tia nắng hình nan quạt hắt lên. Con đường đầy những vết chân dê càng lúc càng dốc những con bọ gậy bò lổm ngổm trên đám lá vàng ướt sũng sương đêm. Càng lên cao rừng càng âm u. ở những cánh rừng như thế này trời tối khi nào đám trẻ mải chơi không kịp biết. Trên đầu tán cây ken dày khít ong bay vù vù. Vất vả lắm tôi mới theo kịp Câm. Đàn dê không cần đuổi cũng đã chạy trước sục vào những bụi cây gai mịt mùng.

Và đây tôi đang đứng trên đỉnh của một trong những ngọn đồi hùng vĩ nhất Tây Côn Lĩnh. Gió lồng lộng thổi như muốn cuốn tôi bay lên cao... Và kia oà ra trước tôi xanh rợp tím ngắt bàng bạc trắng dập dềnh như những con sóng là cả triền núi mơn mởn ngải đắng vừa thức dậy từ sương mù. Tôi lao vô tri vào đấy úp mặt lên nó một trạng thái nửa mê nửa tỉnh tựa hồ quay về những năm tháng rất xa. Những năm tháng mà có lúc tưởng như nó chỉ còn phảng phất trong cuộc sống cuồn cuộn chảy dữ dội vật lộn hôm nay. Tôi gặp cha tôi ở đây. Ông vẫn cường tráng vâm vấp tôi rúc vào ông như một con gấu non...

Tôi đã trở về nơi tôi sinh ra. Nơi mặt trời lên muộn nhất và đi ngủ sớm nhất.

Tôi đã trở về trên núi cao.

 ĐỖ BÍCH THUÝ

TIN LIÊN QUAN:



Thứ Sáu, 28 tháng 12, 2018

Phan Hoàng - chùm thơ I

       Nhà thơ Phan Hoàng


Mắt gỗ

Những vân gỗ như những con mắt ngây thơ
trong ngôi nhà sang trọng
nền bọc nhung
tường ốp kín gỗ quí

Chủ nhà thuyết minh về bộ sưu tập gỗ của mình
hùng hồn như trên diễn đàn chỉ đạo bảo vệ rừng
hùng hồn như trên diễn đàn phòng chống tham nhũng
một ngọn lửa dẳng dai chót lưỡi

Ở đâu đó có cánh rừng già đang hấp hối
ở đâu đó có người kiểm lâm mới bị trả thù
ở đâu đó có ngọn núi trọc xói mòn vừa ngã sập
ở đâu đó có cơn lũ quét thất thanh tiếng thú tiếng người

Những vân gỗ quí
trong ngôi nhà sang trọng
như những con mắt lửa giấu kín hờn căm
chờ ngày phát hoả

10.10.2006


Em nóng dần lên

Khí hậu biến đổi từng ngày
trái đất nóng dần lên từng ngày
gió thốc mạnh từng ngày
nước dâng cao từng ngày
rừng cháy lan từng ngày

Những đàn chim di cư tìm bầu trời mới
hay chờ chết?
Những đàn cá di cư tìm nguồn nước mới
hay chờ chết?
Những đàn thú di cư tìm cánh rừng mới
hay chờ chết?

Khí hậu biến đổi từng ngày
da thịt em nóng dần lên từng ngày
hành tinh ta tốc hành khám phá thế giới mới từng ngày

Em
cởi bỏ mọi trang phục pha lê nứt vỡ
cởi bỏ mọi tư duy hình thức đa khô đình nát bến cạn
hoà nhập vào cơ thể ta đang tốc hành về phía ánh sáng
hay đóng cửa
tự huyễn hoặc mình
chờ chết?


Bóng tối đang nuốt chúng ta

Trong giấc mơ đêm đêm
tôi như nhà vô địch điền kinh
mang đôi hài vạn dặm rạ rơm
chạy và chạy

Chạy giữa gầm gừ dã thú đói khát hoả hoạn
chạy giữa ầm ào sóng thần vây bủa vũ khí hạt nhân
chạy giữa là đà văn bản mới viết đã cũ
chạy giữa nhập nhoạng mặt người mới mở mắt đã gian manh

Chạy tôi chạy
càng chạy càng không chạy
càng chạy càng thất thần tiếng muôn triệu sinh linh thảng thốt:
- Nhanh lên đi!
Bóng tối đang nuốt chúng ta.


Bình nguyên bay

1.
Ở cuối con đường mờ mờ chân mây
mở ra bình nguyên tươi màu hoang dã
chớp ngang một tiếng thở dài

Những ngọn đồi ngồi tư lự trong mưa
như những kỵ binh vừa dừng chiến mã
lắng nghe tin dữ kinh đô

Thuỷ Tinh chưa quên người đẹp ngàn xưa
bất ngờ xua quân đánh chiếm
cá bay rùa phi phố cổ
giường tủ hoá thuyền bè
trang phục nguyên thuỷ

Tiến sĩ giấy lăng xăng dài quần
len lỏi mặt trời mua quan bán chức
bất thường đạp mặt bình thường

Những ngọn đồi không cánh vụt bay

2.
Ở cuối con đường mờ mờ chân mây
mở ra bình nguyên tươi màu hoang dã
đất đai nằng nặng khí thiêng

Thấp thoáng lưng đồi mưa reo gió hú
chập chờn hàng hàng bia mộ
chập chờn mắt mắt đá ong
những con mắt mở từ ngàn năm
những con mắt mang hồn sông núi

Những con mắt đớn đau
trừng trừng
cảnh giác
như bình sữa cảnh giác độc tố melamine
như giảng đường cảnh giác thầy giáo quấy rối tình dục
như cánh đồng cảnh giác quan tham ăn đất
như trang giấy cảnh giác kẻ đạo văn
như con Rồng cháu Tiên cảnh giác cơn khát bá quyền phương Bắc

Những ngôi mộ không cánh vụt bay

3.
Ở cuối con đường mờ mờ chân mây
mở ra bình nguyên tươi màu hoang dã
tròn trăng hoa dại đại ngàn

Một váy xoè hoa
hai váy xoè hoa
váy váy xoè hoa
nõn nà bắp thon sơn nữ
ngực căng sương trắng
tóc quấn hương rừng
gùi cả thanh xuân trườn qua sườn dốc

Mượt mà mông
mủm mỉm môi
mơ màng mắt
tình tang ngang dọc…
chàng trai nào mạnh như con hổ con báo chợ tình đêm nay?!
tiếng khóc trẻ thơ thơm như tiếng chích choè tinh mơ mẹ lên rẫy?!

Váy hoa không cánh xoè bay


Cái chết đen & vũ khúc trắng
… từ một bức ảnh của DQĐ

Mang một vẻ đẹp khác nàng đến thế giới này
Mang một tinh thần khác nàng đến thế giới này
Mang một thông điệp khác nàng đến thế giới này
Trắng. Đồng phục trắng
Trắng. Da thịt trắng
Trắng. Năng lượng trắng
Trắng. Khát khao trắng
Trắng. Vũ khúc trắng

Trái đất không thể tự bảo vệ mình trước lỗ đen những nguy cơ
Bao em bé châu Phi chết đói chết khát chết đạn chết đen trên những ngả đường không ánh sáng
Bao cụ già Nhật Bản chìm trong sóng thần đen sạm phóng xạ hạt nhân
Bao người dân Pakistan như hòn than bở tung toé trong cơn khát máu giận dữ sau… Bin Laden
Cái chết đen treo lơ lửng cả trên đầu những tên khủng bố, độc tài trốn chạy như lũ chuột
Và con giết cha, vợ đốt chồng, thầy cưỡng bức trò, trò hại thầy cùng bao cái chết đen nhe răng rình rập hàm cá sấu
Tiếng khóc sơ sinh như bông hoa chớm nở cũng có nguy cơ chết đen trên bầu vú nhiễm độc sữa mẹ
Người nghèo chết đứng trước cơn bão giá leo thang tối tăm đen đúa mỗi bữa ăn

Trắng và đen và đen và trắng
Tại sao trắng?
Tại sao đen?

Mang một vẻ đẹp khác nàng đến thế giới này
Mang một tinh thần khác nàng đến thế giới này
Mang một thông điệp khác nàng đến thế giới này
Cái chết đen như ngọn lửa hoả hoạn liếm dần từng tế bào nền văn minh đang tiến về phía lợi danh ích kỷ
Vũ khúc trắng mang đến giấc mơ tái sinh từng giọt nước trong veo cho hành tinh cạn kiệt ám ảnh ngày tận thế
Trắng. Khởi nguyên trắng
Trắng. Ngọn lửa trắng
Trắng. Đốt tôi trắng
Trắng. Một làn hương thi ca bay qua mọi ảo tưởng phát minh lan toả từ thịt da căng nhựa trắng của nàng.

10.5.2011
PHAN HOÀNG
(Trích từ tập thơ Chất vấn thói quen)







Thứ Tư, 26 tháng 12, 2018

Khi văn chương thế giới trăn trở về môi trường

Diễn đàn Nhân văn Pyeongchang 2018 đã truyền đi thông điệp về trách nhiệm 
của người cầm bút trên toàn cầu, là cần phải có hành động thiết thực 
bằng việc sáng tạo những tác phẩm giá trị, ngay từ hôm nay,
 nhằm bảo tồn môi trường sống hòa bình, bền vững 
cho chính chúng ta và những thế hệ sau này.

Trái đất đang chịu nhiều tổn hại do chính con người gây ra, ảnh hưởng đến khả năng nâng đỡ sự sống của hành tinh. Tại Diễn đàn Nhân văn Pyeongchang 2018 (một trong những sự kiện của Thế vận hội mùa đông Pyeongchang 2018, diễn ra tại Xơ-un - Hàn Quốc), hơn 60 nhà văn từ khắp các châu lục đã cất lên tiếng nói hướng đến một thế giới hòa bình, xanh và những giải pháp bảo vệ trái đất.

1. Ðến với Diễn đàn Nhân văn Pyeongchang 2018, mỗi nhà văn mang một tâm trạng và những nỗi lo lắng của mình về tình hình an ninh, hòa bình và đặc biệt là vấn đề ô nhiễm môi trường, mâu thuẫn giữa các vùng miền. Nhiều tham luận nhìn nhận, phân tích sâu sắc về tình hình biến đổi của môi trường đồng thời bày tỏ rằng, văn chương có sức lay động mạnh mẽ, không thể đứng ngoài cuộc. Bằng ngòi bút và sự tinh tế của mình, văn chương cần cất lên tiếng nói để bảo vệ "quyền được xanh" của Mẹ Trái đất.

Nhà thơ Koike Masayo đến từ Nhật Bản (người từng tham dự Liên hoan thơ thế giới năm 2010, với chủ đề Biển), đã mang đến Diễn đàn bản tham luận giàu tính thực tế, phân tích cặn kẽ việc khai thác tài nguyên thiên nhiên ảnh hưởng đến môi trường ra sao, đồng thời nói lên rằng, con người cần trồng nhiều cây hơn, thay vì chặt cây; cần trồng hơn cả những cái cây trong tâm hồn mình. Bà Koike Masayo đúc rút: "Khi chúng ta gieo những hạt giống, ngoài tiền bạc, chúng ta còn nhận lại sự bảo đảm về sự sống sau này".

Chung quan niệm này, nhà văn đến từ Phi-li-pin Angelo Lacuesta nhấn mạnh rằng dù mỗi nhà văn đều sống ở những đất nước riêng biệt, làm ở những cơ quan khác nhau; mỗi quốc gia làm tổn hại đến thiên nhiên khác nhau, nhưng tất thẩy đều tác động tiêu cực tới bầu khí quyển. Ðó chính là lý do mỗi quốc gia cần nêu cao trách nhiệm. Ðó chính là lý do các nhà văn lên tiếng.

Phải nhìn nhận rằng những năm gần đây, nhiều tác phẩm văn chương cất lên những tiếng nói đa chiều, sâu sắc về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên đã được xuất bản, đồng thời được chuyển thể thành phim. Tiêu biểu như tiểu thuyết "Cá hồi" của Ahn Do Hyun, đầy tính ẩn dụ, rung lên hồi chuông về cách nhận thức và ứng xử của con người đối với tự nhiên, phản ánh được yêu cầu và tâm thức tất yếu của thời đại khi con người đang gánh chịu sự giận dữ và đáp trả của thiên nhiên. Hay "Cuộc đời của Pi" là tiểu thuyết của nhà văn người Canada Yann Martel được xuất bản năm 2001, giúp tác giả giành được giải Man Booker. Ý thức sinh thái cũng từng được thể hiện rõ trong các sáng tác văn chương vĩ đại của Mỹ Latin như "Trăm năm cô đơn", "Tình yêu thời thổ tả" (G.Márquez), "Con quỷ chơi đùa ở miền đất hoang" (G.Rosa), "Vương quốc trần gian", "Thế kỷ ánh sáng" (A.Carpentier)...

Trên thế giới, từ những năm 70 của thế kỷ 20, đã có hàng loạt tác phẩm văn chương đề cập đến nguy cơ sinh thái. Không ít nhà phê bình đã có đề xuất quan niệm tự nhiên không chỉ là sân khấu của các vở bi kịch lịch sử mà bản thân nó cũng tham gia vào sự diễn xuất; các nhà nhân loại học chú trọng mối quan hệ giữa văn hóa và địa lý; các nhà tâm lý học thừa nhận sự bất hòa giữa con người và thiên nhiên là nguồn gốc của các căn bệnh xã hội, bệnh tâm lý… Theo thời gian, các nhà văn cùng các nhà phê bình trên thế giới đi đến một nhận định, ngoài những điều trên, con người cần phải coi tự nhiên là một thực thể có linh hồn, đồng thời chọn cách chung sống hợp lý với tự nhiên.

2. Việt Nam là đất nước luôn phải gánh chịu những hậu quả nặng nề của thiên tai. Ðặc biệt năm 2017 được đánh giá là năm kỷ lục về số lượng thiên tai ảnh hưởng đến nước ta, nhưng soi rọi vào hoạt động sáng tác, xuất bản trong nước thì thấy rất hãn hữu tác phẩm chạm được đến trái tim người đọc có chủ đề về tự nhiên, môi trường. Có chăng thì chỉ lướt qua. Phải chăng thiên tai, những biến đổi của thiên nhiên chưa gây xúc động đối với những người cầm bút? Hay chính những người cầm bút trong nước còn chưa hiểu hết giá trị của môi trường, và nhận thấy một điều, văn chương chính là một trong những kênh có thể chuyển tải và có tác động rất lớn đến việc chung tay bảo vệ môi trường?

Môi trường đang cần hơn nữa trách nhiệm và sự xúc động của người cầm bút. Một tác phẩm văn học sinh thái không chỉ đơn thuần miêu tả tự nhiên hoặc hệ sinh thái, mà quan trọng hơn là phải có đầy đủ tư tưởng sinh thái và góc nhìn sinh thái. Nhà văn người Mỹ Victor Montejo cho rằng, từ góc nhìn, chúng ta lý giải nguyên nhân, nguy cơ sinh thái để tăng cường trách nhiệm và đạo đức nhân loại đối với tự nhiên. Ngoài ra, bằng sức tưởng tượng và sự nhạy cảm của nhà văn, hoàn toàn có thể dự báo thảm họa, cảnh báo về các nguy cơ sinh thái, kéo con người gần với tự nhiên và bản thân họ có trách nhiệm hơn với Người Mẹ chung - Mẹ thiên nhiên.

Ngay tại Hàn Quốc là nước chủ nhà của Diễn đàn, được đánh giá là quốc gia công nghiệp phát triển, đường phố luôn gọn gàng, sạch sẽ và từng có xuất phát điểm khá thấp về kinh tế. Khoảng hơn 20 năm trước, Hàn Quốc cũng từng trải qua giai đoạn có nhiều vấn đề trong tổ chức xã hội, cũng như đối diện nhiều nguy cơ về môi trường. Theo nhà thơ SeaKwi Yoon, ngoài phát triển kinh tế thì cũng nên có sự đầu tư sâu văn phát triển văn chương, trong đó có văn chương sinh thái. Mỗi quốc gia cần phải "chữa" bệnh của thiên nhiên sớm nhất có thể. Một khi để lâm trọng bệnh ở mức tệ hại, thì kinh phí đầu tư lúc đó sẽ ở mức không thể nào tưởng tượng nổi.

Là người nỗ lực xây dựng Diễn đàn Nhân văn Pyeongchang 2018, nhà văn Bang Min-hô (Trường đại học Quốc gia Xơ-un - Hàn Quốc), cho hay: Chúng ta sống trong thời đại mà mỗi người đều mơ ước sống trong một thế giới hòa bình, nhưng với tôi từ "hòa bình" ở đây không chỉ hiểu là một từ trái nghĩa của từ "chiến tranh". Thay vào đó, hòa bình là điều kiện sống an toàn mà chúng ta có thể tìm thấy trong thiên nhiên bao quanh; trong tình đoàn kết của các dân tộc khác nhau về ngôn ngữ, truyền thống, tôn giáo và tín ngưỡng. Song mỗi chúng ta, mỗi quốc gia là những thành tố nhỏ bé và quan trọng trong cộng đồng toàn cầu.

Việc giới thiệu văn học, phê bình sinh thái vào Việt Nam lúc này là rất cập thời. Bởi thực tế, thiên nhiên đang đòi hỏi tinh thần cộng sinh, cất lên tiếng nói vì trái đất này.

NGUYỄN VĂN HỌC
Nguồn: Nhân Dân

TIN LIÊN QUAN:




Thứ Ba, 25 tháng 12, 2018

Phê bình sinh thái - một khuynh hướng nghiên cứu văn học mới

     Đại dương sâu thẳm - Ảnh: Dương Quốc Định

Trước tình trạng môi trường toàn cầu đang ngày một xấu đi, giữa thập nện 90 của thế kỉ 20 Phê bình sinh thái đã ra đời với sứ mệnh cao cả là phân tích chỉ ra căn nguyên văn hóa tư tưởng dẫn đến nguy cơ sinh thái, nghiên cứu quan hệ giữa con người và môi trường tự nhiên. Với tư tưởng nòng cốt mới, nguyên tắc mĩ học riêng và đối tượng nghiên cứu riêng, Phê bình sinh thái thực sự trở thành một khuynh hướng nghiên cứu văn học mới mẻ, thúc đẩy mạnh mẽ xu hướng gắn văn chương với vấn đề nhức nhối của toàn cầu.

Dẫn luận                    

Manh nha vào những năm 70 của thế kỉ 20, đến giữa thập niên 90, Phê bình sinh thái đã thực sự trở thành một khuynh hướng nghiên cứu văn học ở Mĩ và lan ra nhiều nước khác trên thế giới. Ở Việt Nam, một điều lạ lùng là sau đổi mới, giới nghiên cứu văn học khá cởi mở trong việc tiếp thu, giới thiệu các lí thuyết văn học phương Tây hiện đương đại, nhưng lại rất thận trọng đối với Phê bình sinh thái. Ngay cả các lí thuyết mới mẻ như Chủ nghĩa lịch sử mới, Chủ nghĩa duy vật văn hóa hay lí thuyết tương đối nhạy cảm như Diễn ngôn quyền lực của Foucault cũng đã được nhắc đến ở Việt Nam, nhưng riêng Phê bình sinh thái lại vắng bóng. Dẫn đến hiện tượng trên, có lẽ, một phần rất lớn bắt nguồn từ chính sự mới mẻ một cách đặc thù của khuynh hướng nghiên cứu này. Thông thường, cách tân rất dễ thu hút sự chú ý, nhưng sự cách tân của Phê bình sinh thái lại có những đặc điểm riêng khiến cho sự phát triển, mở rộng nó gặp không ít trở ngại.

Trong bài viết này, người viết sẽ làm sáng tỏ một số cách tân bản chất của phê bình sinh thái trên phương diện tư tưởng nòng cốt, sứ mệnh, nguyên tắc thẩm mĩ, đối tượng, phạm vi nghiên cứu; bên cạnh đó cũng lưu tâm đến hạn chế, khó khăn trong việc mở rộng, phát triển của khuynh hướng nghiên cứu này.

1.  Cách tân về tư tưởng nòng cốt

Lịch sử nghiên cứu văn học gắn liền với sự liên tục ra đời, phát triển và thay thế lẫn nhau của các loại lí thuyết, lí thuyết ra đời sau bao giờ cũng đem đến những cách tân, bổ khuyết cho những gì còn hạn chế của lí thuyết trước, đề xuất nguyên tắc, đối tượng, phương pháp, mục đích nghiên cứu riêng, thế nhưng, dù là Chủ nghĩa hình thức, Chủ nghĩa cấu trúc, Mĩ học tiếp nhận, Phê bình nữ quyền, Chủ nghĩa lịch sử mới, hay Chủ nghĩa duy vật văn hóa… thì chúng vẫn nằm trong ảnh hưởng của tư tưởng “nhân loại trung tâm luận”, vì thế, việc tiếp nhận chúng trở nên thuận lợi hơn. Trong khi đó, Phê bình sinh thái ra đời lại mang theo một tư tưởng nòng cốt khác so với nền tảng tư tưởng đã ngự trị trong lịch sử nhân loại nhiều thế kỉ: đó là lấy “sinh thái trung tâm luận” làm nền tảng. Nhiều thế kỉ qua, nhân loại kiêu hãnh với quan niệm “con người là trung tâm của thế giới”, “con người là tinh hoa của muôn loài”, và coi việc chinh phục tự nhiên như một trong những mục đích vĩ đại, một phương thức khẳng định sức mạnh của mình, khẳng định địa vị của con người trong vũ trụ. Sách vở cổ kim đông tây không ít những dẫn chứng thể hiện tư tưởng đó. Chính vì thế, Phê bình sinh thái đề xuất lấy “sinh thái trung tâm luận” làm nền tảng tư tưởng đã tạo ra một cực tư tưởng khác mà muốn tiếp nhận nó, buộc chúng ta phải thay đổi rất nhiều thứ đã ăn sâu trong tiềm thức mình. Tư tưởng hạt nhân của phê bình sinh thái là Chủ nghĩa chỉnh thể sinh thái (ecological holism), có nguồn gốc từ quan niệm hài hòa, tương hỗ, hệ thống của sinh thái học, từ tư tưởng sinh thái của Engels, Darwin, từ triết học sinh thái của Heidegger, từ triết học sinh thái chỉnh thể luận đương đại… “Tư tưởng hạt nhân của chủ nghĩa chỉnh thể sinh thái là coi lợi ích chỉnh thể của hệ thống sinh thái là giá trị cao nhất; lấy sự có ích hay không có ích đối với việc bảo vệ, duy trì hoàn chỉnh, hài hòa, ổn định, cân bằng sinh hệ thống sinh thái làm thước đo, tiêu chuẩn cao nhất để đánh giá sự phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế và tiến bộ khoa học kĩ thuật cũng như phương thức sống của nhân loại”[1]. Để tư tưởng này được phổ cập, cũng có nghĩa là để có một nền tảng tư tưởng cho Phê bình sinh thái lan rộng hơn và phát triển hơn không phải chuyện một sớm một chiều. Tất nhiên, nói như thế không có nghĩa là các nhà Phê bình sinh thái phản đối vấn đề lợi ích của con người. Họ vẫn tán thành, ủng hộ chủ nghĩa nhân bản khi xử lí các vấn đề xã hội, tôn trọng con người, bảo hộ quyền con người, công bằng, chính nghĩa, họ chỉ phản đối tư tưởng cao ngạo, mù quáng khi nhìn nhận quan hệ giữa con người và tự nhiên, coi con người là linh hồn của vạn vật và từ đó tùy ý bóc lột tự nhiên, coi việc chiếm đoạt, chà đạp tự nhiên làm phương thức khuếch trương bản thân.

2.  Mang một sứ mệnh mới

Có lẽ trong lịch sử nghiên cứu văn học chưa từng có một trào lưu nghiên cứu nào mang một sứ mệnh đặc thù như Phê bình sinh thái. Sứ mệnh của Phê bình sinh thái là nhìn nhận lại văn hóa nhân loại, tiến hành phê phán văn hóa, chỉ ra căn nguyên văn hóa tư tưởng dẫn đến nguy cơ sinh thái. Vấn đề sinh thái là vấn đề toàn cầu, đồng bộ ở các nước, không phân chia biên giới, thể chế chính trị, giai tầng xã hội. Mặc dù căn nguyên tư tưởng ở mỗi quốc gia có thể khác nhau, nhưng nguy cơ sinh thái hiện nay cũng như giải quyết nó là vấn đề chung đòi hỏi cộng đồng các quốc gia cùng góp sức. Nghiên cứu văn học thế giới đã trải qua nhiều lần chuyển trung tâm, như chuyển từ tác giả sang văn bản, người đọc, văn hóa và đến Phê bình sinh thái, mặc dù vẫn tiếp tục xu hướng ngoại hóa trong nghiên cứu văn học nhưng đã mang một sứ mệnh hoàn toàn mới. Mang một sứ mệnh cao cả này, một phần rất lớn là Phê bình sinh thái ra đời không phải từ khát vọng sáng lập lí thuyết mới của các nhà phê bình, cũng không phải xuất phát từ nội bộ nghiên cứu văn học, mà là từ sự thúc đẩy của nguy cơ sinh thái. Không ít người đã dự đoán rằng, hiện nay, nguy cơ lớn nhất mà loài người phải đối mặt là nguy cơ sinh thái, thế kỉ 21 sẽ là thế kỉ của trào lưu sinh thái, là thời đại của việc sáng lập văn minh sinh thái. Các nhà phê bình sinh thái ý thức được rằng, văn học nhân loại cần phải có trách nhiệm với nguy cơ này, bởi bản thân văn học cũng là một trong những nguyên nhân văn hóa sâu xa tạo nên nguy cơ đó. Greg Garrad cho rằng: “Vấn đề môi trường không chỉ cần phân tích từ góc độ khoa học, mà còn cần phân tích từ góc độ văn hóa”[2]. Văn học phản sinh thái tiếp tục phát triển cũng sẽ góp phần kéo theo sự tiếp diễn của nguy cơ sinh thái. Bởi vì “chúng ta làm gì đối với sinh thái phụ thuộc vào quan niệm của chúng ta về quan hệ giữa con người và tự nhiên”[3].Nhà văn, nhà phê bình phải thông qua cải tạo văn học, cải tạo quan niệm văn học để hạn chế mắc lỗi với tự nhiên và thậm chí chuộc lỗi với tự nhiên. W.E.B.Du Bois từng dự đoán: Vấn đề chung rộng lớn của thế kỉ 20 là vấn đề chủng tộc. Đến đầu thế kỉ mới, dấu tích của vấn đề này vẫn không hề phai mờ. Nhưng, còn một vấn đề có lẽ là bức thiết hơn, đó là đối với tuyệt đại đa số cư dân trên địa cầu, nếu như không tiến hành cải cách mạnh mẽ phương thức sống hiện nay, thì trái đất liệu có còn sức sống nữa hay không?[4]

Như vậy, sứ mệnh của phê bình sinh thái là nghiên cứu tư tưởng, văn hóa, khoa học, phương thức sống và phương thức sản xuất, mô hình phát triển xã hội của con người đã ảnh hưởng như thế nào đến hiện tượng xấu đi của môi trường tự nhiên, đã dẫn đến nguy cơ sinh thái như thế nào. Từ đây có thể thấy, Phê bình sinh thái là một khuynh hướng nghiên cứu mang đậm tinh thần phê phán văn hóa. Phê bình sinh thái muốn hướng đến cải cách văn hóa tư tưởng, thúc đẩy cách mạng phương thức sống, phương thức sản xuất, mô hình phát triển, xây dựng văn minh sinh thái.

3.  Xây dựng trên nguyên tắc mĩ học riêng

Phê bình sinh thái không chỉ lấy chủ nghĩa chỉnh thể sinh thái làm tư tưởng triết học nền tảng mà còn lấy thẩm mĩ sinh thái làm nguyên tắc chỉ đạo. Nếu không xác định được nguyên tắc mĩ học riêng, Phê bình sinh thái sẽ không khác gì các hoạt động nghiên cứu môi trường thông thường. Phê bình sinh thái phải “một chân đặt ở địa cầu, một chân đặt ở văn học”. Lý Khánh Bản cho rằng: “Trên cơ sở sinh thái chỉnh thể luận, chủ trương của mĩ học sinh thái là thống nhất hài hòa giữa con người và tự nhiên, con người và xã hội, con người và bản thân chứ không phải là con người chiếm hữu, chinh phục và cải tạo tự nhiên, không chủ trương quan điểm lao động sáng tạo ra cái đẹp”[5]

Trước tiên, thẩm mĩ sinh thái là thẩm mĩ mang tính tự nhiên, nó không phải là sự trừu tượng hóa trên cơ sở kinh nghiệm thẩm mĩ cụ thể, cũng không phải là thông qua đối tượng cụ thể thể hiện tư tưởng tình cảm, nhân cách của chủ thể thẩm mĩ. Trong thẩm mĩ sinh thái không tồn tại quan hệ chủ thể – khách thể, con người cảm nhận tự nhiên, thiết lập quan hệ chủ thể tương giao với đối tượng thẩm mĩ. Mặc dù trong lịch sử mĩ học, cái đẹp tự nhiên vẫn được bàn đến, nhưng phần lớn các nhà tư tưởng đều coi cái đẹp nghệ thuật, cái đẹp trong cuộc sống đẹp hơn cái đẹp tự nhiên. Nếu có thừa nhận, coi trọng cái đẹp tự nhiên thì thường cho nó là sự ngoại hóa của sức mạnh hoặc thế giới tinh thần của con người. Hegel từng cho rằng chỉ có cái đẹp nghệ thuật mới là cái đẹp chân chính. Trong truyền thống, trên cơ sở nền tảng của Chủ nghĩa nhân loại trung tâm, đối tượng thẩm mĩ tự nhiên chỉ được coi là phương tiện, biện pháp, kí hiệu, vật đối ứng, công cụ biểu hiện, ám thị, tượng trưng cho thế giới nội tâm, đặc trưng nhân cách của con người. Các nhà Phê bình sinh thái lại chủ trương, không thể dùng con mắt công cụ, công lợi để đối đãi đối tượng thẩm mĩ tự nhiên. Bài trừ thẩm mĩ công cụ hóa cũng trở thành ranh giới phân chia thẩm mĩ sinh thái và thẩm mĩ phi sinh thái.       Bên cạnh đó, thẩm mĩ sinh thái đề cao tính chỉnh thể, không chỉ quan tâm đến đối tượng thẩm mĩ đơn nhất, mà còn đặt nó vào trong hệ thống tự nhiên, từ đó khảo sát ảnh hưởng của nó đối với chỉnh thể sinh thái. Tiêu chuẩn đánh giá cái đẹp của thẩm mĩ sinh thái cũng khác so với truyền thống. Đối với thẩm mĩ sinh thái, cái gì có lợi cho sự ổn định, hài hòa của hệ thống sinh thái mới là Đẹp; phá hoại chỉnh thể, phá hoại sự ổn định sinh thái sẽ bị coi là Xấu. Trong mĩ học truyền thống, con người trở thành tiêu chuẩn, thành thước đo, còn đến Phê bình sinh thái, thước đo lại là chỉnh thể sinh thái. Ngoài ra, thẩm mĩ sinh thái còn đề cao nguyên tắc dung nhập. Thẩm mĩ sinh thái yêu cầu tinh thần và thể xác thấu nhập vào tự nhiên, có lúc, thậm chí còn phải quên đi bản ngã, hòa với tự nhiên làm một. Muốn thực sự dung nhập vào tự nhiên, đặc biệt là muốn trong sự dung nhập đó cảm nhận sâu sắc vẻ đẹp của tự nhiên thì trước hết phải quên đi bản ngã của mình. Quên đi bản ngã để cảm nhận tự nhiên chính là một phương thức của thẩm mĩ sinh thái. Con người không thể phát hiện ra hết cái kì diệu của tự nhiên chính vì quá tự cao tự đại, coi tự nhiên chỉ là công cụ nhằm đối tượng hóa bản ngã, chỉ có cảm thụ một cách vô tư, không mục đích mới có thể cảm nhận được càng nhiều cái đẹp, cái kì thú của tự nhiên.

4. Xác lập đối tượng, phạm vi nghiên cứu riêng

Để hình thành một lí thuyết phê bình văn học, một điều không kém phần quan trọng chính là xác định được đối tượng, phạm vi nghiên cứu đặc thù. “Phê bình sinh thái là phê bình bàn về quan hệ giữa văn học và môi trường tự nhiên”(Cheryll Cglotfelty). Đối tượng của phê bình sinh thái không phải chỉ là văn học sinh thái, không phải chỉ là những tác phẩm miêu tả phong cảnh tự nhiên. Có miêu tả tự nhiên hay không không phải là điều kiện tất yếu để triển khai phê bình sinh thái. Chỉ cần có căn nguyên văn hóa tư tưởng dẫn đến nguy cơ sinh thái, chỉ cần có ảnh hưởng đến quan hệ giữa con người và tự nhiên, thậm chí, tác phẩm văn học cho dù hoàn toàn không đả động gì đến cảnh vật tự nhiên, mà chỉ bàn đến chính sách phá hoại sinh thái, bàn đến một phương thức sống của xã hội tiêu dùng, một sự kiện ô nhiễm môi trường… đều có thể trở thành đối tượng quan tâm của phê bình sinh thái. Cho nên, dùng góc nhìn sinh thái, có thể khảo sát văn học đông tây kim cổ, đặc biệt là những tác phẩm kinh điển có ảnh hưởng lớn đến văn minh nhân loại cũng như biến động xã hội; có thể tiến hành đọc lại các tác phẩm trong quá khứ, tìm ra ý nghĩa sinh thái tiềm ẩn trong đó, tất nhiên, cũng bao hàm việc chỉ ra những hạn chế của nó trong tương quan với chỉnh thể sinh thái. Như vậy, sẽ góp phần bổ sung cho những khuyết thiếu trong lịch sử nghiên cứu văn học nhân loại. Chẳng hạn, ngay trong thần thoại, suốt bao nhiêu năm, giảng dạy và nghiên cứu luôn đề cao khát vọng khám phá, chinh phục tự nhiên, nhưng nếu nhìn từ góc độ sinh thái, vấn đề đã trở nên khác biệt.

5.  Cách tân nhưng không phải là vạn năng

Không thể phủ nhận, Phê bình sinh thái ra đời đã mang đến cho nghiên cứu văn học, mĩ học một góc nhìn mới, khai mở một không gian mới, mang đến một động lực phát triển mới, bổ sung cho những khoảng trống trong nghiên cứu văn học từ trước đến nay. Lí luận phê bình văn học đã trải qua nhiều lần chuyển trung tâm nghiên cứu, nhưng quan hệ giữa văn học và tự nhiên vẫn chưa thực sự được quan tâm đúng mức, điều này ít nhiều tạo nên sự mất cân bằng trong hệ thống tri thức nghiên cứu văn học. Phê bình sinh thái ra đời đã bổ sung cho những khuyết thiếu trong nghiên cứu văn học trước kia, đồng thời góp phần điều chỉnh cho những thiên lệch trong nghiên cứu văn học đương đại. Nó nhấn thêm một bước trong chuyển động vượt ra ngoài phạm vi nghiên cứu bản thể luận, chuyển sang xã hội, văn hóa, đồng thời cũng hóa giải khuynh hướng kinh viện, thoát li hiện thực, thúc đẩy nghiên cứu văn học “nhập thế”- nhà nghiên cứu không chỉ đơn thuần quan tâm đến học thuật, mà còn cần phải gánh vác trọng trách phê phán văn hóa tư tưởng xã hội, phổ cập ý thức sinh thái, góp phần xây dựng văn minh sinh thái.
Những cách tân, đóng góp của Phê bình sinh thái là không thể phủ nhận, mặc dù có những đột phá nhưng cũng như tất cả các lí thuyết văn học khác, Phê bình sinh thái không phải là vạn năng, không thể bao hàm tất cả nghiên cứu văn học, nó chỉ là một nhánh của nghiên cứu văn học mà thôi. Sự ra đời của nó không có nghĩa là phủ nhận, thay thế và cũng không thể phủ nhận, thay thế các khuynh hướng nghiên cứu khác. Phê bình sinh thái chỉ muốn chứng minh rằng: nguy cơ sinh thái đang là vấn đề vô cùng hệ trọng liên quan đến sự tồn vong của toàn nhân loại; nhà văn, nhà phê bình cũng nên đóng góp tiếng nói của mình vào việc giải trừ nguy cơ sinh thái.

Kết luận

Với việc hướng tới quan hệ giữa văn học và tự nhiên dưới sự chỉ đạo của chủ nghĩa sinh thái, đặc biệt là tư tưởng chỉnh thể sinh thái; làm rõ căn nguyên văn hóa tư tưởng dẫn đến nguy cơ sinh thái, đồng thời chú ý đến thẩm mĩ sinh thái và các biểu hiện nghệ thuật khác của văn học, Phê bình sinh thái đã tự tạo cho mình một diện mạo mới. Nhưng do sự phổ cập tư tưởng sinh thái cũng như xây dựng văn minh sinh thái vẫn còn dừng lại ở mức độ nhất định; yêu cầu cân đối giữa “nhân loại trung tâm luận” và “sinh thái trung tâm luận” vẫn còn nhiều vấn đề; hơn nữa văn học hàng nghìn năm hầu hết là sản phẩm được sáng tạo trên nền tảng tư tưởng “nhân loại trung tâm luận”, cho nên, sự mở rộng, phát triển của Phê bình sinh thái cũng gặp không ít trở ngại.

Phát triển Phê bình sinh thái ở Việt Nam, bên cạnh những khó khăn chung, còn gặp những khó khăn riêng do hoàn cảnh đặc thù, vì Phê bình sinh thái là một bước tiến dài trong hành trình “ngoại hóa” của nghiên cứu văn học phương Tây, nó ít nhiều có nền tảng trong chuyển hướng văn hóa của nghiên cứu văn học, trong khi đó, thành tựu của sự chuyển hướng này ở Việt Nam chưa thực sự rõ rệt. Tuy nhiên, nguy cơ sinh thái đang là vấn đề của toàn cầu, trong truyền thống văn học Việt Nam cũng có không ít nhân tố sinh thái…cho nên, việc phát triển Phê bình sinh thái ở Việt Nam trong thời điểm hiện nay là cần thiết và có cơ sở.

ĐỖ VĂN HIỂU
Nguồn: Phê bình văn học

Chú thích:

[1] 王 《欧美生》。 学林出版社, 2008年,  24
[2] Greg Garrad: Ecocriticism, Abingdon: Routl, 2004, pp 14
[3] “The historical Roots of our ecologic critis”, Cheryll Cglotfelty & Harold Fromm (ed), The ecocriticism Reader; Landmarks in literary Ecology. Athens: The university of Georgia Press, 1996, pp12
[4] Lawrence Buell: 境危机与文学想象(刘蓓 )。北京大学出版社,2010年,7
[5] 季本:“从生美学看践美学”, 荆亚平(编选)《中外生文学文论选》浙江工商大学出版社,2010年,348


TIN LIÊN QUAN:




Nhà văn Thùy Dương: Trăn trở với mỗi thân phận Người

Nếu không biết Thùy Dương sinh ra và lớn lên ở Hải Dương, sẽ đoán   chắc nàng là người Hà Nội gốc. Gọi là nàng v ì nàng không chỉ xinh đẹp, ...